Đề tài: Điều tra kinh tế xã hội và đánh giá hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của các xã Lộc Điền và Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế pot - Pdf 19

BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Điều tra kinh tế xã hội và đánh giá hiện trạng
nuôi trồng thuỷ sản của các xã Lộc Điền và Lộc
An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
MỤC LỤC
BÁO CÁO THỰC TẬP 1
Đề tài: 1
Điều tra kinh tế xã hội và đánh giá hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của các xã Lộc Điền và
Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 1
MỤC LỤC 2
PHẦN 1 3
MỞ ĐẦU 3
PHẦN 2 6
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
PHẦN 3 15
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
PHẦN 4 17
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
Tần suất thay nước 35
Các yếu tố kiểm tra 35
Lượng nước thay 35
Thiết bị sử dụng 35
PHẦN NĂM : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
PHẦN SÁU : TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Hiện nay, ngành nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng phát triển và đã trở
thành một nền kinh tế quan trọng của đất nước. Trong những năm qua ngành thuỷ
sản không những đã góp phần giúp nhân dân xoá đói giảm nghèo mà còn vươn lên
làm giàu trên chính diện tích canh tác hiệu quả thấp trước đây. Ngành này đã đóng

2.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới
2.1.1. Tình hình chung
Trong thời gian gần đây, nuôi trồng thuỷ sản liên tục tăng mức đóng góp
vào sản lượng thuỷ sản trên thế giới, từ chỗ chỉ chiếm 7,3% sản lượng trong năm
1970, hiện nay đã lên tới 33,92% (Trong tổng số 142,1 triệu tấn thuỷ sản thế giới
sản xuất được trong năm 2001, nuôi trồng thuỷ sản đạt 48,42 triệu tấn). Các loài
cá nước ngọt vẫn chiếm ưu thế trong nuôi trồng thủy sản. Sản lượng năm 2001 đạt
20,80 triệu tấn, chiếm 85,2% tổng sản lượng cá nuôi đạt giá trị 22,122 tỷ USD.
Tiếp theo là cá di cư hai chiều (2,543 triệu tấn, chiếm 10,4%, trị giá 7,435 tỷ
USD) và cá biển (1,091 triệu tấn, chiếm 4,1%, trị giá 4,088 tỷ USD). Mức tăng
trung bình của các nhóm trên gần giống nhau, cụ thể là trong giai đoạn 1970-
2000, cá nước ngọt có mức tăng trung bình hàng năm là 9,9%, trong khi cá di cư
đạt 10,6% và cá biển đạt 10,6%. [14]
Bảng 2.1 :Sản lượng và giá trị của một số loài
Nhóm cá Sản lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Chép (2001) 16.427.266 15.986.670.000
Rô phi (2001) 1.385.223 2.002.162.000
Da trơn (2000) 421.709 655.419.500
Hồi (2000) 1.533.824 4.875.552.400
Măng (2000) 461.857 715.091.100
Chình (2000) 232.815 975.005.700
Cá biển (2001) 1.091.085 4.088.894
( Nguồn: Bộ Thủy sản)
Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong nuôi giáp xác và trong nuôi trồng thủy
sản, tính đến năm 2003, sản lượng nuôi tôm trên thế giới đạt 1.804.932 tấn trong
đó có 666.071 tấn tôm sú, 723.858 tấn tôm thẻ chân trắng, còn lại là các đối tượng
khác (FAO,2004). Cũng theo FAO, báo cáo “Tình hình nuôi trồng thủy sản trên

2257
1367
2245
1300
3400
1400
2.Giá trị xuất khẩu Tỷ USD 1,76 3 4,5
(Nguồn: Báo cáo thảo luận hội nghị đánh giá kết quả thực hiện chương trình
phát triển thuỷ sản giai đoạn 2000- 2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010)
Xu hướng nuôi đang chuyển từ phương thức nuôi quảng canh sang nuôi
bán thâm canh. Nhiều vùng nuôi tập trung theo kiểu thâm canh công nghiệp và
sản xuất hàng hóa lớn đã hình thành. Hình thức và đối tượng nuôi cũng khá phong
phú, nhưng ở vùng nước lợ chủ yếu là tôm và một số loài nhuyễn thể có giá trị
xuất khẩu. Sản phẩm nuôi mặn, lợ đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền
kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể cho người lao động. Hình thức nuôi lồng bè
trên biển cũng đang là hướng mở mới cho ngành Thủy sản, với các loài tôm hùm,
cá giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc…[5]. Đối với nuôi thủy sản nước ngọt, hình thức
nuôi lồng bè và kết hợp với khai thác cá trên sông đang ngày càng phổ biến. Hình
thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo được việc làm và tăng thu
nhập. Ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung đối tượng nuôi lồng chủ yếu là trắm cỏ
với quy mô lồng nuôi khoảng 12 – 24 m
3
, năng suất 450 – 600 kg/lồng. Ở các tỉnh
phía Nam đối tượng nuôi chủ yếu là cá basa, cá lóc, cá bống tượng và cá he. Nuôi
các đối tượng loài đặc sản có giá trị kinh tế cao như: ba ba, tôm càng xanh, cá sấu,
lươn, ếch…đang được mở rộng và làm tăng giá trị kinh tế của các mô hình nuôi
nước ngọt [1]. Về vấn đề nuôi tôm, trong thời gian qua, diện tích và sản lượng
tôm nuôi của nước ta liên tục tăng, số liệu được trình bày trong bảng sau đây:
Bảng 2.3: Diện tích và sản lượng từ năm 2003 đến năm 2005. [4].
Năm Diện tích

khá, từ 0,208 tấn/ha ở năm 1998 lên 0,858 tấn/ha ở năm 2003, tương ứng tăng
412,5%. Từ đó sản lượng nuôi tôm tăng, năm 2003 đạt 9.149 tấn, tăng 11,66 lần
so với năm 1998. Đây chính là nguồn nguyên liệu tôm cho chế biến, xuất khẩu và
tiêu dùng nội địa.
Các huyện Phú Vang, Phú Lộc phát triển nuôi tôm nhanh hơn các huyện
khác. Vùng đầm phá huyện Phú Lộc tăng diện tích bình quân hằng năm là
42,192%/năm và sản lượng tăng 109,84%/năm trong thời gian trên. Phong Điền
không mở rộng diện tích nhưng đầu tư thâm canh nên sản lượng tôm nuôi ở năm
2003 tăng 9,67 lần so với năm 1998. Năm 2009, theo báo cáo của các đơn vị và
địa phương trong tỉnh, kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về nuôi trồng thủy
sản trong 10 tháng và ước lượng cả năm 2009 như sau: [6]
* Về diện tích.
Tính đến hết tháng 8 tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên toàn Tỉnh thực
hiện là : 5.670,25 ha đạt 94,95% so với kế hoạch. Trong đó:
+ Diện tích nuôi nước lợ, mặn: 3.823,46 ha, đạt 92,51% so với kế hoạch gồm:
- Diện tích nuôi chuyên tôm: 1.424,3ha/2.430,2ha, đạt 58,61%;
- Diện tích nuôi xen ghép: 2.213,73ha/1.532,5ha, đạt 144,45%;
- Diện tích nuôi tôm chân trắng: 185,43ha/185,43ha, đạt 100%.
- Nuôi lồng nước lợ thực hiện được: 1.523 lồng đạt 152,30% .
Đến nay, diện tích nuôi xen ghép phát triển khá mạnh đạt 144,45 % so với kế
hoạch và tăng 45,21% so với cùng kỳ năm 2008, có được điều này là do bà con
ngư dân đã thấy được hiệu quả bền vững từ hình thức nuôi này. Năm nay một số
hồ nuôi tôm bỏ hoang đã được bà con ngư dân chuyển sang nuôi xen ghép như
Quảng Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà. Diện tích nuôi chuyên tôm giảm
mạnh chỉ đạt 58,61% so với kế hoạch vì chuyển sang nuôi xen ghép.
+ Về nuôi tôm chân trắng : Đến nay diện tích nuôi tôm chân trắng trên cát phát
triển khá mạnh đạt 185,43 ha, diện tích quay vòng 3 vụ đạt 237,85 ha. Diện tích
tăng là do hiệu quả từ việc nuôi tôm chân trắng mang lại. Tuy nhiên nuôi tôm
chân trắng đòi hỏi vốn đầu tư lớn và quy trình kỹ thuật khắt khe. Vừa qua tại
Phong Điền một số hộ nuôi ở xã Điền Hương và Phong Hải đã xảy ra hiện tượng

2 Phú Lộc 0,48
Năng suất bình quân tính cả
diện tích nuôi xen ghép
3 Hương Trà 0,50
Năng suất bình quân tính cả
diện tích nuôi xen ghép
4 Quảng Điền 0,38
Năng suất bình quân tính cả
diện tích nuôi xen ghép.
5 Phong Điền 7,49
Bình quân năng suất của
tôm sú và chân trắng.
6 Doanh nghiệp 11,00
Nuôi tôm chân trắng trên
cát
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế)
2.3.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản xã Lộc An và Lộc Điền .
Trong những năm gần đây dưới sự chỉ đạo phát triển của ủy ban nhân dân
xã Lộc Điền và Lộc An tình hình nuôi trồng thủy sản của hai xã đã có những phát
triển đáng kể, diện tích và sản lượng không ngừng tăng lên, trong đó xã Lộc Điền
có diện tích 179 ha đạt 106,5% kế hoạch tăng 11 ha so với năm 2008, năng suất
bình quân ước tính đạt 1 tấn/ha sản lượng nuôi trồng 179 tấn tôm, cá các loại đạt
91,66% kế hoạch giá trị sản xuất ước 8,8 tỷ đồng, diện tích tôm bị bệnh chết 24,5
ha chiếm tỷ lệ 15,31%. Lộc An nuôi trồng thủy sản chủ yếu là nuôi cá nước ngọt
năm 2009 tổng diện tích nuôi là 67,1 ha trong đó có 50,4 ha là nuôi cá nước ngọt;
31,4 ha nuôi cá; 31,7 ha nuôi cá lúa; 3,9 ha là sen cá; riêng nuôi cá lồng có 67 lồng
chủ yếu là trắm cỏ, diện tích nuôi tôm là 16,7 ha. Đối với cá nuôi ao cho năng suất
0,9 tấn/ha, đối với cá lồng năng suất bình quân 0,25 tấn/lồng. Sản lượng nuôi
trong năm qua đạt 143 tấn tôm, cá trong đó tôm 17 tấn còn lại là cá, tổng giá trị
sản xuất ước tính 5,8 tỷ đồng đạt 89,78% kế hoạch.[10][12]

II Lộc An
1 Tô Văn Tám 2,26 2,26 150
2 Nguyễn Mai
Cáo
1,18 1,12 120
3 Lê Văn Lượng 1,39 1,2 125
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2009 huyện Phú
Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế)
2.3.3. Những thuận lợi và khó khăn chung trong nuôi trồng thủy sản của Lộc
Điền và Lộc An:
Theo nguồn báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2009 của
hai xã Lộc Điền và Lộc An gửi Ủy ban nhân dân huyện Phú Lộc đã chỉ ra
những thuận lợi và khó khăn chung trong nuôi trồng thủy sản :[10][12]
* Thuận lợi :
- Có định hướng, chủ trương và kế hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản của
huyện và xã.
- Có sự quan tâm và ưu tiên và đầu tư đúng mức của các cấp lãnh đạo và các ban
ngành liên quan.
- Có nhiều diện tích cho nuôi trồng thủy sản.
- Điều kiện tự nhiên thích hợp cho nuôi tôm , cá.
- Người dân đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong ngăn chặn dịch bệnh và bảo vệ
môi trường nuôi trồng thuỷ sản. Ý thức vai trò và trách nhiệm của cộng đồng cao.
* Khó khăn :
- Vấn đề ao lắng, ao xử lý nước cấp vào ao chưa được quan tâm.
- Hệ thống xử lý nước thải còn chưa kiểm soát được.
- Vốn đầu tư hạn chế, ngư dân thiếu vốn đầu tư cho vụ nuôi.
- Dịch bệnh xảy ra nhiều.
- Thị trường đầu ra không ổn định.
- Môi trường ngày càng ô nhiễm.
- Giá cả vật tư cao.

tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.4. Nội dung nghiên cứu.
- Điều tra tình hình kinh tế - xã hội của hai xã tiến hành nghiên cứu.
- Điều tra tình hình nuôi trồng thuỷ sản, so sánh hiệu quả kinh tế từ hoạt động
nuôi trồng của hai xã và tìm ra mô hình nuôi hiệu quả.
- Xác định nguyên nhân, đề xuất một số giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu
quả sản xuất.
3.5. Phương pháp nghiên cứu.
3.5.1. Phương pháp điều tra.
a. Thu thập thông tin thứ cấp:
Tiếp cận nguồn cơ sở dữ liệu thống kê về nuôi trồng thuỷ sản của các tổ
chức tại địa bàn điều tra bao gồm: Phòng nông nghiệp huyện Phú Lộc, Uỷ ban
Nhân dân xã tiến hành nghiên cứu.
b. Thu thập thông tin sơ cấp:
Phỏng vấn trực tiếp các hộ tham gia nuôi trồng thuỷ sản bằng bảng hỏi điều
tra thiết kế sẵn.
c. Phương pháp chọn mẫu điều tra.
Chọn phỏng vấn 10% số hộ trong danh sách tổng các hộ nuôi trồng thuỷ
sản ở mỗi xã đảm bảo tính đại diện cho tổng số mẫu.
d. Phương pháp tổ chức thực hiện điều tra.
Điều tra thí điểm: Xây dựng bộ bảng hỏi điều tra với trên 30 chỉ tiêu điều tra.
Dùng bản hỏi điều tra thí điểm ngẫu nhiên một số hộ nuôi trong danh sách được
cung cấp, lấy kết quả đối chiếu với mục tiêu và nội dung nghiên cứu. Trên cơ sở
đó điều chỉnh bộ bảng hỏi lần cuối để tiến hành điều tra chính thức.[2]
Điều tra chính thức: Chọn ngẫu nhiên số hộ nuôi trồng thủy sản tương ứng với
10% tổng số hộ nuôi tại mỗi xã để điều tra.
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng hộ bằng bộ bảng hỏi điều tra hoàn chỉnh.
3.5.4. Phương pháp xử lý số liệu.[3]
Số liệu thu được sẽ được tập hợp và xử lý bằng phần mềm xử lý số liệu
Excell 2003.

bán sơn địa gò đồi, đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.
4.1.1.2. Địa hình:
Địa hình xã Lộc Điền khá thuận lợi, tổng chiều dài của xã 7 km, với tổng
dân số 16.161 người. Tổng diện tích tự nhiên là 11.586,14 ha, trong đó diện tích
nuôi trồng thủy sản 220 ha, diện tích đất nông nghiệp 10.384 ha. Xã có phần diện
tích nằm trong vùng đầm phá rộng cho nên ở đây đang phát triển nhiều mô hình
nuôi trồng thủy sản nước mặn, là lợi thế phát triển kinh tế của vùng.[11]
Lộc An với tổng chiều dài 5km cùng số dân 13.584 người, diện tích tự
nhiên là 2.705 ha, trong đó tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 67,1 ha. Địa hình
của Lộc An với lợi thế bằng phẳng đất đai màu mỡ nhiều ao hồ thuận lợi cho nuôi
cá nước ngọt và các hình thức nuôi xen ghép nước ngọt. Tuy nhiên phần diện tích
đầm phá lại nhỏ hẹp cho nên nuôi trồng thủy sản nước mặn chưa đem lại thu nhập
cao.[9]
Lộc Điền và Lộc An là hai xã thuộc vùng đất cát đầm phá, vùng trũng do
ảnh hưởng thuỷ triều của phá Cầu Hai, là vùng nằm ở trung tâm đầm phá, có tính
đại diện cho cả vùng, có quy mô vừa phải và có qui hoạch rõ ràng.
4.2. Thực trạng tình hình nuôi trồng thủy sản tại xã Lộc Điền và Lộc An:
4.2.1 Đặc điểm hộ điều tra.
Kết quả điều tra 10% hộ nuôi thuỷ sản tại mỗi xã Lộc Điền và Lộc An,
trong đó có 24 hộ ở Lộc Điền và 24 hộ ở Lộc An, tổng cộng chúng tôi đã điều tra
48 hộ đã cho thấy sự đa dạng về tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm nuôi tôm,
cũng như số lượng ao nuôi. Một số đặc điểm chủ yếu của các hộ điều tra được
trình bày ở các thành phần sau:
* Về độ tuổi lao động :
Đa số các chủ nuôi thủy sản ở đây có độ tuổi từ 40 trở lên chiếm phần lớn, số
người tham gia lao động thủy sản của xã Lộc An có độ tuổi trung bình trẻ hơn ở
xã Lộc Điền, điều đó cho thấy hiện nay ở Lộc An đang có xu hướng thanh niên trẻ
ngày càng tham gia nhiều hơn đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đó là một thế
mạnh cho xã Lộc An về nguồn nhân lực cũng như tinh thần lao động của thế hệ
trẻ này, trong tương lai sẽ phát triển mạnh.

Các chỉ tiêu
Xã Lộc An Xã Lộc Điền
Số hộ Chiếm (%) Số hộ Chiếm (%)
Số năm kinh
nghiệm
10 1 4,17 4 16,67
11 0 0 1 4,17
15 0 0 3 12,50
3 3 12,50 1 4,17
4 3 12,50 2 8,33
5 5 20,83 3 12,50
6 4 16,67 4 16,67
7 1 4,17 4 16,67
8 4 16,67 2 8,33
9 3 12,50 0 0
Tập huấn
Không 18 75 16 66,67
Có 6 25 8 33,33
Đánh giá của
người dân
Rất nhiều 2 33,33 5 62,50
Nhiều 3 50,00 3 37,50
Ít 1 16,67 0 0
Nguồn tiếp thu
kinh nghiệm
Sách báo 16 66,67 17 70,83
Cán bộ kỹ thuật 4 16,67 6 25,00
Tập huấn 1 4,67 0 0
Mô hình trình diễn 3 12,50 1 4,17
Qua điều tra từ số liệu trên cho ta thấy số năm kinh nghiệm của các chủ nuôi

Tỷ lệ
(%)
Cải tạo ao
Không 3 13,04 1 10
Có 20 86,96 9 90
Thời gian cày đáy
( ngày )
1 4 16,67 1 4,17
2 12 50,00 8 33,33
3 8 33,33 15 62,50
Thời gian phơi đáy
(ngày)
2 3 12,50 1 4,17
3 9 37,50 1 4,17
4 7 29,17 1 4,17
5 4 16,67 7 29,17
6 0 0,00 1 4,17
7 1 4,17 13 54,17
Vét bùn đáy
Không 4 16,67 1 4,17
Có 20 83,33 23 95,83
Khối lượng vôi
( kg )
150 5 23,81 14 60,87
200 1 4,76 1 4,35
250 2 9,52 0 0,00
300 3 14,29 0 0,00
305 0 0,00 2 8,70
350 4 19,05 1 4,35
400 6 28,57 4 17,39

Bảng 3.3 Các hoá chất khử trùng và diệt tạp sử dụng ở các hộ điều tra
Các hóa chất sử dụng Số hộ Tỷ lệ (%) Liều lượng sử dụng
Dolomit 16 33,33 40-60kg/1000m
2
- Vôi 48 100,0 20-40kg/500 m
2
Hoá chất diệt tạp (Chlorine) 24 50% 15-30 ppm
Chất diệt tạp được sử dụng phổ biến là Chlorine, đây là hoá chất hữu
hiệu để diệt các loài cá tạp trong ao nuôi. Tuy vậy người dân chưa ý thức
được tác hại của những hoá chất sử dụng, làm trơ nền đáy, gây tác hại lâu dài
về sau. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, các kiến thức cơ bản cho
người nuôi nên được tiến hành thường xuyên, thực sự mang lại lợi ích cho
người dân. Đây là nền tảng để góp phần thành công trong phát triển nuôi
trồng thủy sản bền vững, an toàn và hiệu quả.
4.2.3 Nguồn nước cấp và biện pháp xử lý nước.
Bảng 3.4 : Nguồn nước và biện pháp xử lý nước
Các chỉ tiêu Số hộ
Tỷ lệ
(%)
Nguồn nước cấp
- Chung 48 100,0
- Riêng 0 0,0
Chất lượng nước cung cấp cho ao nuôi
Tốt 5 10,42
Xấu 28 58,33
Trung bình 15 31,25
Qua số liệu điều tra cho thấy 100% ao nuôi sử dụng chung nguồn nước
cấp từ đầm phá vào trong ao nuôi và nước từ ao nuôi cũng thải trực tiếp ra
sông vì vậy nếu như nguồn nước chung này nhiễm mầm bệnh hoặc các chất
gây hại cho đối tượng nuôi thì sẽ là điều kiện cho bệnh phát ở diện rộng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status