PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, bà con nông dân của chúng ta vẫn loay hoay với
bài toán chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng thu nhập trên một đơn vị
diện tích. Nhà nước nhiều đã có nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ về
mặt kỹ thuật và nguồn vốn cho nông dân để người dân có điều kiện phát triển
sản xuất và tìm ra các mô hình sản xuất, các giống vật nuôi và cây trồng phù
hợp với điều kiện của từng địa phương giúp người dân xóa đói nghèo và vươn
lên làm giàu ngay trên chính mảnh đất của họ.
Ở Thừa Thiên Huế, trong những năm qua Trung tâm khuyến nông –
lâm – ngư đã xây dựng được nhiều mô hình thành công. Thông qua các mô
hình trình diễn Trung tâm đã chuyển giao nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
đến bà con nông dân trên địa bàn tỉnh. Một trong những mô hình được người
dân áp dụng thành công, đem lại hiệu quả kinh tế cao và nhân rộng đó là “Mô
hình nuôi ếch thương phẩm trên lồng lưới tại thôn Di Tây – Phú Hồ - Phú
Vang”. Tuy nhiên, việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn do nguồn
ếch giống trên địa bàn tỉnh không có mà phải nhập từ các tỉnh phía Nam nên
giá thành con giống cao, người dân khó liên hệ. Trước khó khăn trên, Trung
tâm đã tiếp tục chuyển giao mô hình “Sản xuất ếch giống nhân tạo” để đáp
ứng nhu cầu sản xuất ếch giống thương phẩm của người dân trên địa bàn xã
cũng như toàn tỉnh.
Để xác định những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện mô hình cũng
như hiệu quả kinh tế mà mô hình sản xuất ếch giống nhân tạo mang lại tôi
chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất ếch giống nhân tạo
tại thôn Di Tây xã Phú Hồ huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế” để làm báo
cáo tốt nghiệp.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất ếch giống tại thôn Di Tây xã Phú Hồ.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất ếch giống nhân tạo
- Phân tích một số các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hoạt
quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất kinh doanh để
hạch toán kinh tế và cũng là mối quan tâm của toàn xã hội, hiệu quả kinh tế là
một động lực, là thước đo phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế, trình độ tổ
chức quản lý sản xuất [1].
2
2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất ếch giống
nhân tạo
Tổng giá trị sản xuất: ( GO )[2]
GO là giá trị tính bằng tiền toàn bộ sản phẩm thu được trên một đơn vị
diện tích ao nuôi trong một chu kỳ sản xuất nhất định.
Chi phí trung gian: ( IC )[2]
IC là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình tạo ra sản
phẩm. Nó bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ mua, thuê ngoài của hộ
trong hoạt động sản xuất.
Giá trị gia tăng: ( VA )[2]
VA là kết quả cuối cùng thu được sau sau khi trừ đi chi phí trung gian
của hoạt động sản xuất kinh doanh
VA = GO – IC
Thu nhập hỗn hợp: ( MI )[2]
MI là phần thu nhập hỗn hợp bao gồm cả công lao động của gia đình
tham gia sản xuất.
MI = VA – khấu hao tài sản cố định – thuế
Lợi nhuận: ( LN )[2]
LN là phần thu nhập thuần túy còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi
phí lao động gia đình và chi phí hiện vật của hộ.
2.1.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Có nhiều phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế song điều quan
trọng là chúng ta cần xác định chính xác kết quả thu được và chi phí phải bỏ
ra cho quá trình sản xuất kinh doanh.Tuỳ theo mục đích tính toán hiệu quả
kinh tế mà chúng ta xác định kết quả thu được sao cho phù hợp.Nếu mục tiêu
của các loài này kém nên không phát triển rộng rãi ở Việt Nam, vì thế mà loài
ếch đồng Việt Nam vẫn tiếp tục bị khai thác mạnh mẽ Ông Đặng Ái Việt -
chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
TP.HCM - cho biết chỉ trong năm 2005 lượng ếch giống nhập qua cửa khẩu
TP.HCM khoảng trên 4 triệu con và ếch bố mẹ trên 8.000 con. Còn ở 17 trại
ếch giống khu vực TP.HCM đã xuất bán ra thị trường khoảng 2,5 triệu con,
gồm giống sản xuất tại chỗ và nhập khẩu [3].
Tuy nhiên, việc nuôi ếch ở nước ta chỉ mới được người dân hưởng ứng
khoảng 3 – 4 thập niên gần đây, điều này cũng dễ hiểu khi cách đây 50 năm,
lượng ếch đồng trong tự nhiên còn nhiều nên không ai nghĩ rằng sẽ có ngày
4
con người lại đi nuôi ếch. Nhưng nửa thế kỷ trở lại đây,nguồn ếch trong tự
nhiên không còn dồi dào như trước do con người sử dụng nhiều các loại thuốc
bảo vệ thực vật hay đánh bắt cạn kiệt ếch trong tự nhiên làm cho lượng ếch
trong tự nhiên suy giảm nghiêm trọng.
Cũng do lẽ đó mà mười năm trở lại đây, ngành nuôi trồng thủy sản mới
được nông dân chú ý đến. Thời gian đầu, do chỉ nhằm mục đích đáp ứng nhu
cầu thị trường trong nước, nên số người vào cuộc chưa nhiều, và phương pháp
nuôi cũng chỉ rập khuôn lối cũ. Nhưng càng về sau nhờ tìm được thị trường
xuất khẩu nên kỹ thuật nuôi có phần tiên tiến hơn. Cá, tôm ngoài việc nuôi
trong ao, hồ cũng được nuôi trong lồng, bè…Ếch cũng là một đối tượng được
người dân bắt đầu đưa vào nuôi, đến những năm 1970, 1971 nghề nuôi ếch
mới phát triển thành phong trào. Thời kỳ này, tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận
nhiều người tỏ ra thích thú với việc nuôi ếch. Tuy nhiên, do phương pháp
nuôi còn lạc hậu, khâu tìm nguồn thức ăn cho ếch lại quá khó khăn, thức ăn
dành cho ếch chủ yếu gần như phó mặc cho vật nuôi tự tức lấy. Lúc này,
người nuôi ếch không nghĩ rằng ếch có thể ăn được dạng cám viên hoặc ăn
được mồi chết. Vì vậy, thức ăn nuôi ếch chủ yếu là các loại động vật có trong
tự nhiên như giun, giòi và một số côn trùng khác. Do vậy trong thời gian này
nghề nuôi ếch không thể phát triển. Tuy nhiên, trong khoảng mười năm trở lại
là đùi ếch đông lạnh. Được biết giá đùi ếch đông lạnh trung bình 10 USD/kg,
ếch sống có giá 2,5 USD/kg. [3]
Song song với việc nhập ếch thương phẩm và đùi ếch đông lạnh, các
nước châu Âu hàng năm còn nhập thêm 10 tấn ếch sống nhằm cung cấp cho
các phòng thí nghiệmđể nghiên cứu phôi học và nội tiết học, hóc môn sinh
dục. Và tất nhiên điều ai cũng biết là giá ếch sống cung cấp cho các phòng thí
nghiệm có giá cao hơn loại ếch sống dùng làm thực phẩm. [3]
Bên cạnh sử dụng ếch như là một loại thực phẩm hay dùng ếch như là
một đối tượng nghiên cứu thì các sản phẩm từ ếch như da còn là một mặt
hàng xuất khẩu đáng giá. Da ếch sau khi thuộc và nhuộm màu xong được
dùng làm ví da, gang tay, dày dép và nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trị cao
không thua kém giá các sản phẩm làm từ da cá sấu hay đà điểu. Với một tấm
da khoảng 15cm có giá bán khoảng 4 USD, tấm da càng lớn càng được ưa
chuộng. [3]
Ngoài ra phải kể tới các phế phẩm lấy từ lò giết mổ ếch có thể dùng để
chế biến thức ăn gia súc hoặc làm phân bón.
6
2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sản xuất ếch giống nhân tạo
2.4.1 Thuận lợi
Việc sản xuất ếch giống nhân tạo được sự quan tâm của trung tâm
Khuyến nông tỉnh, trung tâm đã thực hiện xây dựng mô hình thí điểm, tập
huấn kỹ thuật cho người sản xuất. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như có
nhiều diện tích ao hồ phù hợp cho việc nuôi ếch thương phẩm.Sự đổi mới
trong tư duy sản xuất của người nông dân tìm kiếm ngành nghề sản xuất
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, người dân đã mạnh dạn đưa vào sản xuất
ếch thương phẩm và kết hợp sản xuất ếch giống nhân tạo vừa phục vụ cho sản
xuất ếch thương phẩm của gia đình và bán ra thị trường.
2.4.2 Khó khăn
Sản xuất ếch giống nhân tạo là một nghề khá mới mẻ đối với đại đa số
nông dân của Việt Nam cũng như đối với nông dân Thừa Thiên Huế nên đa
Kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm
Các tác nhân tham gia
Thuận lợi và khó khăn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu:
3.4.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp:
Từ các báo cáo hoạt động kinh tế của UBND huyện Phú Vang và
UBND xã Phú Hồ để thu thập các thông tin về điều kiện vị trí địa lý, thông tin
về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu dân số, lao động việc làm. Từ
đó có cái nhìn tổng quan về những khó khăn và thuận lợi để phát triển kinh tế
- xã hội.
Từ báo cáo chuyển giao kỹ thuật sản xuất ếch giống nhân tạo của trung
tâm khuyến nông, lâm, ngư của tỉnh để nắm bắt kỹ thuật sản xuất phục vụ quá
trình thực tập, so sánh kỹ thuật của người dân đã thực hiện với kỹ thuật trung
8
tâm khuến nông tỉnh chuyển giao có sự sai khác hay cải tiến nào để phù hợp
với điều kiện của xã.
3.4.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp:
Phỏng vấn hộ sản xuất: Để thu thập các thông tin chung về các hộ sản
suất như: cơ cấu nhân khẩu, lao động việc làm, tổng thu nhập của hộ/năm;
tình hình sản xuất như: thực trạng và quy mô sản xuất, thu nhập từ hoạt động
sản xuất ếch giống, chi phí sản xuất và các yếu tố liên quan đến sản xuất khác
như thời tiết, thị trường, chất lượng nước. Số lượng 3 hộ thực hiện mô hình.
Phỏng vấn người am hiểu: trưởng thôn, chủ nhiệm hợp tác xã để thu
thập thông tin tông quát về các vấn đề sản xuất như: thuận lợi và khó khăn
trong sản xuất ếch giống nhân tạo, thông tin về điều kiện tự nhiên, thị trường
tiêu thụ.
Quan sát tình hình sản xuất của thôn để có cái nhìn tổng quan về tình
hình sản xuất của hộ để từ đó rút ra các kết luận phục vụ quá trình thực tập.
3.4.2 Phương pháp xử lý dữ liệu:
8 năm trước đến tháng giêng năm sau, lượng mưa hàng năm khá lớn, trung
bình khoảng 3.000mm. Mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ
yếu vào các tháng 9,10,11 và 12 chiếm 75-80% lượng mưa cả năm, gây úng
lụt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng, khai thác thủy sản,
cũng như đời sống của nhân dân. Mùa nắng gió Tây - Nam khô nóng oi bức,
bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, lượng bốc hơi cao nhất là từ tháng 2 đến
tháng 4 (lúc nước thủy triều thấp) làm độ mặn trong các ao hồ nuôi thủy sản
tăng, gây trở ngại cho ngành nuôi trồng thủy sản [4]. Với điều kiện khí hậu
như vậy đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất nông nghiệp của xã
cũng như nuôi trồng thủy sản nhưng dưới sự chỉ đạo cũa xã người dân luôn
có biện pháp khắc phục và hạn chế thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp và
nuôi trong thủy sản.
10
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Năm 2010, toàn xã Phú Hồ có tổng số dân là 5029 người với 1131 hộ
phân bố ở 8 thôn trong xã. Số người trong độ tuổi lao động là 2448 người
chiếm 48,8%, số người trên độ tuổi lao động là 1235 chiếm 24,5 %,còn lại là
trẻ em chưa đến độ tuổi lao động chiếm 26,7 %[5]. Ta có thể thấy rằng tỷ lệ
người trong độ tuổi lao động của xã Phú Hồ là cao hơn hẳn so với số người
trên độ tuổi lao động và dưới tuổi lao động. Đây là một điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế trong thời điểm hiện tại với nguồn lao động dồi dào.
Nhưng bên cạnh đó số người trên và dưới độ tuổi lao động chiếm đến 51,2 %
đây cũng là một khó khăn cho phát triển kinh tế trong gia đình do những
người này không thể tự nuôi bản thân mà phụ thuộc vào việc lao động của
người trong độ tuổi lao động.
Tổng số hộ sản xuất nông nghiệp là 1003 hộ chiếm 88,7% và 128 hộ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ ngành nghề khác chiếm 11,3% [5]. Qua đây ta có thể
thấy xã Phú Hồ vẫn là một xã nông nghiệp với hơn 88 % hộ dân sản xuất nông
nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa. Đây là một khó khăn cho phát triển kinh tế vì
phần lớn sản xuất nông nghiệp mang tính nhỏ lẻ, chịu hiều rủi ro do tác động
Tuổi của chủ hộ Tuổi 50,3 -
Năm sản xuất ếch giống Năm 2.3 -
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Qua số liệu điều tra, ta thấy số nhân khẩu BQ/hộ là 6,3 khẩu, Số lượng
lao động trong gia đình là 2,6 chiếm 42,2%, mỗi nhà có từ 2 đến 3 lao động
đây là lực lượng lao động chính để phát triển kinh tế hộ gia đình. Hầu hết số
lượng lao động trong gia đình đều làm nông nghiệp,chứng tỏ nghề nông mang
lại thu nhập chủ yếu cho người dân, một phần nhỏ làm các ngành nghề phụ
khác cũng góp phần không nhỏ để nâng cao cuộc sống gia đình.Nhưng vào
những ngày mùa họ cũng tham gia sản xuất nông nghiệp.
Tổng thu nhập bình quân của các hộ này là 51.897.278 đồng đây là
mức thu nhập cao so với mức thu nhập trung bình của hộ trên địa bàn xã 33,7
triệu đồng/hộ/năm[4]. Phần lớn nguồn thu nhập này từ hoạt động sản xuất ếch
giống, một phần nhỏ từ trồng lúa và rau màu.
Số năm kinh nghiệm là 2,33 năm, điều này chứng tỏ những hộ này vừa
mới thực hiện mô hình nên kinh nghiệm sản xuất ếch giống còn hạn chế.
12
Chính vì vậy người dân sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong chọn lịch để ếch đẻ
nếu như thời tiết thay đổi. Mặt khác các loại bệnh dịch ngày càng xuất hiện
nhiều do chưa có kinh nghiệm nên việc phồng tránh còn gặp nhiều khó khăn.
4.3 Thực trạng sản xuất ếch giống tại thôn Di Tây
Năm 2006, Trung tâm khuyến nông tỉnh Thừa Thiên Huế đã thực hiện
mô hình “ Nuôi ếch thương phẩm bằng lồng lưới” tại hộ ông Đinh Như Trực.
Mặc dù mô hình đã thành công và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên,
việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn do không chủ động được
nguồn ếch giống. Trước tình hình đó trung tâm khuyến nông tỉnh đã tiếp tục
thực hiện mô hình “ Sản xuất ếch giống nhân tạo” cũng tại hộ ông Đinh Như
Trực. Do khó khăn về mặt ếch giống nên trung tâm chỉ hỗ trợ cho ông mười
cặp ếch giống và cử cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn để thực hiện mô
hình, với bản tính cần cù ông đã thực hiện thành công mô hình và sau một
(đồng)
Khấu
hao
(năm)
Sau khi
khấu hao
(đồng)
Ếch giống bố mẹ
Cặp 2,2 180.000 396.000 2 198.000
Thức ăn công
nghiệp
Kg 3,05 17.000 51.850 0 51.850
Thức ăn khác
Kg 0,47 12.000 5.640 0 5.640
Thuốc chữa bệnh
Chai 0,16 45.000 7.200 0 7.200
Thuốc tiêu hóa
Chai 0,25 63.000 15.750 0 15.750
Hóc môn sinh sản
Chai 0,07 108.000 7.560 0 7.560
Bể nuôi
M2 0,06 187.500 11.719 5 2.344
Giai nuôi
Cái 0,06 250.000 15.000 2 7.500
Quạt nước
cái 0,05 500.000 25.000 3 8.333
Dụng cụ chữa
bệnh
Bộ 1 120.000 120.000 2 60.000
Dụng cụ cho ếch
tính
Số
lượng
(đồng)
Đơn
giá
Thành
tiền
(đồng)
Khấu
hao
(năm)
Sau khi
khấu hao
(đồng)
Ếch giống bố mẹ
Cặp 200
180.00
0
36.0000.00 2 18.000.000
Thức ăn công
nghiệp
Kg 276,7 17.000 4.703.333 0 4.703.333
Thức ăn khác
Kg 43,33 12.000 520.000 0 520.000
Thuốc chữa bệnh
Chai 14,67 45.000 660.000 0 660.000
Thuốc tiêu hóa
Chai 23 63.000 1.449.000 0 1.449.000
Hóc môn sinh
0
180.000 2 90.000
Dụng cụ đo pH
Cái 1 90.000 90.000 2 45.000
Vôi sống
Kg 24,67 15.000 370.000 0 370.000
Công lao động
Ngày 273,8 75.000 20.532.500 0 20.532.500
Tổng
86.392.167 52.111.056
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2011)
Tính chi phí bình quân cho 200 cặp ếch giống bố mẹ, Với tổng chi phí
sau khi đã khấu hao hết các tài sản cố định là 52.111.026 đồng, đây là một chi
phí khá lớn để đầu tư cho một vụ sản xuất kéo dài một năm,từ lúc chọn nuôi
ếch giống bố mẹ đến lúc ếch sinh sản, điều này đòi hỏi những người làm mô
15
hình phải hạch toán chi tiết từng hạng mục và có sự hỗ trợ về tài chính và kỹ
thuật để người dân mạnh dạn đầu tư sản xuất. Tuy nhiên công lao động đều là
của gia đình nên chi phí này người dân không phải bỏ ra, với công lao động là
20.532.250 đồng nên với một vụ sản xuất người dân phải bỏ ra chi phí là
16.966.560 đồng, đây là khoản chi phí mà người dân có thể đầu tư được. Với
các chi phí này có thể biến đổi theo thời gian do sự biến động của thị trường
nên việc đầu tư sản xuất cần có các kinh phí dự trữ, điều này đòi hỏi người
dân phải tính toán trước được các chi phí phát sinh để có phương án giải
quyết kịp thời để tránh ảnh hưởng xấu tới kết quả sản xuất.
4.4.2 Thu nhập từ sản xuất ếch giống
Bảng 4: Thu nhập từ sản xuất ếch giống nhân tạo
Hiệu quả sản xuất Thành tiền
GO: Tổng giá trị sản xuất 96.000.000
IC: Chi Phí Trung Gian 31.578.556
giống bố mẹ trong vòng 12 tháng, ta có thể kết luận rằng mô hình sản xuất
ếch giống cần được nhân rộng để giúp các hộ dân trong địa phương có một
ngành sản xuất mới, vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất của họ. Tuy
nhiên, việc sản xuất ếch giống cần có quy hoạch cụ thể để tránh tình trạng thi
nhau sản xuất ồ ạt, làm rối loạn cung cầu, việc đầu tư sản xuất cần được sự hỗ
trợ về mặt tín dụng như ưu đãi thời gian vay vốn, lãi suất và hỗ trợ kỹ thuật từ
trung tâm khuyến nông để mô hình thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cho
người dân.
4.3.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
17
Hộ sản xuất
ếch giống
Sản xuất ếch
thịt của gia
đình
Người nuôi
ếch thương
phẩm trong xã
Người nuôi
ếch thương
phẩm trong
tỉnh
Người nuôi
ếch thương
phẩm ngoài
tỉnh
40%
10 %
25 %
25 %
khó khăn.
Với 40% ếch giống sản xuất được tại thôn Di Tây được cung cấp cho
các hộ nuôi ếch thương phẩm trong tỉnh, tập trung ở các huyện Phong Điền,
Phú Lộc, Quảng Điền và thị xã Hương Thủy. Ở các huyện này nghề sản xuất
ếch thương phẩm đang phát triển mạnh nhưng lượng ếch giống sản xuất ở trên
các địa bàn này không đủ để cung cấp. Do vậy, những người sản xuất ếch
thương phẩm phải tìm con giống ở những nơi khác.
Với thuận lợi về giao thông nên việc vận chuyển con giống dễ dàng,
quy mô sản xuất ếch thương phẩm ngày càng phát triển với quy mô lớn.
Chính vì vậy, đây là một thị trường đầy tiềm năng, người sản xuất ếch giống
tại Phú Hồ cần phải tận dụng khai thác thị trường này bằng các biện pháp như
nâng cao chất lượng con giống, xây dựng các mô hình liên kết trong tiêu thụ,
quảng bá hình ảnh con ếch giống của địa phương, tiến tới xây dựng thành một
thương hiệu.
Bán cho người sản xuất ếch thương phẩm ngoài tỉnh:
Đối với kênh phân phối này thì thị trường chính là các tỉnh như Quảng
Trị, Gia Lai, Dak Lak, ở kênh tiêu thụ này thường không ổn định, kênh tiêu thụ
này thường do người quen giới thiệu, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn do
vận chuyển ếch giống đi xa làm ảnh hưởng tới chất lượng ếch giống thả nuôi.
Do khan hiếm ếch giống trên các địa bàn này, nên người sản xuất buộc
phải tìm các nguồn giống khác để phục vụ sản xuất, họ chấp nhận phát sinh
thêm các chi phí sản xuất ếch thương phẩm như chi phí vận chuyển, hao hụt
con giống do vận chuyển xa. Năm 2010, với 25 % ếch giống sản xuất được
của xã Phú Hồ được cung cấp cho thị trường này. Tuy nhiên , về lâu dài ta có
thể nhận thấy kênh tiêu thụ này không ổn định, do cách trở về mặt địa lý, việc
vận chuyển ếch giống gặp khó khăn nên người sản xuất ếch thương phẩm ở
các địa phương này có thể tìm các nguồn giống khác thuận lợi hơn về việc
vận chuyển để giúp họ giảm chi phí sản xuất, hao hụt con giống.
Dùng cho sản xuất ếch thương phẩm của gia đình:
Số lượng ếch giống sản xuất được, một phần lớn người sản xuất cung
lượng thức ăn cho nòng nọc giảm 50%, nếu như người dân không nắm được
điều này sẽ dẫn tới phát sinh chi phí thức ăn,ngoài ra chưa kể đến nguồn thức
ăn dư thừa sẽ làm ô nhiễm nguồn nước khiến cho nồng nọc bị bệnh [6]. Do
20
vậy việc nắm vững kỹ thuật sản xuất cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
do giảm được các chi phí ở các khâu sản xuất.
4.4.2 Thời tiết
Theo thông tin phỏng vấn hộ, thời tiết cũng là một yếu tố ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất ếch giống nhân tạo.
Hiện nay, việc trái đất ngày càng nóng lên dẫn tới sự xáo trộn về thời tiết gây
ảnh hưởng đến lịch thời vụ, thời điểm cho ếch đẻ. Ví dụ riêng trong tháng 3
năm 2011 có 4 đợt rét đậm khác hẳn so với năm 2010. Do vậy, khi mà người
dân cho ếch đẻ trong những ngày nắng thì sau đó trời lạnh làm cho trứng ếch
không thể nở thành ếch con được, điều này gây ảnh hưởng trầm trọng tới
năng suất. Do các chi phí đầu tư cho ếch giống bố mẹ trong vòng một năm
nếu như trứng ếch không nở thì người dân không thể lấy lại các chi phí trong
một năm đó. Điều này đòi hỏi nhũng người sản xuất cần phải thường xuyên
theo dõi dự báo thời tiết, thời vụ để đưa ra những quyết định sản xuất phù hợp
với sự biến động của thời tiết để mang lại hiệu quả sản xuất.
4.4.3 Sự biến động của giá cả thị trường
Theo nguồn thông tin phỏng vấn người am hiểu, việc hoạch toán sản
xuất của các hộ dân thường được bắt đầu trước khi sản xuất. Do vậy, sự biến
động giá cả thị trường của các mặt hàng đầu tư cho sản xuất như thức ăn, xây
bể, công lao động, thuốc chữa bệnh, sẽ làm thay đổi các chi phí do vậy
người dân không chủ động được nguồn vốn sản xuất phải dẫn đến đi vay
mượn và phải gánh chịu phần lãi suất cho khối lượng tiền vay đó.
Với giá bán của sản phẩm,giá bán thường không ổn định do sự mất cân
bằng cung cầu, do chất lượng của sản phẩm, do giá bán không hợp lý và nhiều
nguyên nhân khác nữa đều có thể ảnh hưởng tới giá bán của sản phẩm.Nếu
giá bán có lợi cho người sản xuất thì lúc đó hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn so với
- Tiến hành quy hoạch tổng thể về chi tiết các hộ sản suất ếch giống trong
từng khu vực tại xã để tránh tình trạng sản xuất ồ ạt gây ảnh hưởng xấu tới
cung cầu,có các biện pháp khuyến cáo cho người dân về bảo vệ môi trường,
xử lý nước thải khi thải ra môi trường.
- Hỗ trợ cho người dân về mặt thị trường đầu ra, xây dựng các mô hình liên
kết sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm.
22
- Hỗ trợ kỹ thuật, đẩy mạnh công tác khuyến nông đến tận thôn, xóm và hộ
gia đình. Thường xuyên tiến hành tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình trình
diễn, khuyến cáo người dân tham gia.
- Tăng cường liên hệ, liên kết giữa người dân và các cơ quan chuyên trách về
phát triển nông thôn và phát triển sản xuất ếch giống tại xã, huyện nhằm xây
dựng định hướng phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân.
Đối với hộ sản xuất ếch giống:
- Mô hình sản xuất ếch giống đã mang lại hiệu quả về kinh tế, sản xuất ếch
giống đã trở thành một nghề mới trong địa bàn xã đem lại thu nhập cao cho
người dân, các hộ nên mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất để tăng thêm thu
nhập cho gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo.
- Tích cực tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật sản suất ếch giống nhân tạo để
nắm vững kỹ thuật sản xuất nhằm tránh rủi ro do không nắm vững kỹ thuật,
tham gia các lớp tập huấn về phòng bệnh cho ếch. Trong quá trình sản xuất
người dân cần thực hiện đúng kỹ thuật sản xuất ếch giống đã được tập huấn.
- Trong quá trình sản xuất nguời dân cần chủ động điều chỉnh lịch thời vụ để
phù hợp với sự thay đổi của thời tiết để tránh những rủi ro gây ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất
- Liên kết sản xuất giữa các hộ dân để hướng tới thị trường ngoài tỉnh, xây
dựng thành một thương hiệu sản xuất của xã.
Tóm lại sản xuất ếch giống mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững,
là bước đệm quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Vì vậy mọi thành
phần liên quan đều cần thực hiện tốt các đề xuất nêu trên để giải quyết triệt để
25