ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong kinh doanh rừng làm sao rút ngắn được chu kỳ kinh doanh, nhanh
mang lại hiệu quả mà vẫn đảm bảo yêu cầu sinh thái và môi trường chính là mục
tiêu mà con người hướng tới. Hàng loạt các biện pháp được đưa ra thảo luận.
Từ xa xưa chọn giống cây trồng vẫn luôn là biện pháp đi đầu trong công
tác khôi phục, trồng, bảo vệ và phát triển rừng. Keo là một trong những loài cây
mọc nhanh nhất trong số các loài cây gỗ đang được sử dụng trồng rừng ở nước
ta hiện nay. Với đặc tính sinh trưởng nhanh, gỗ mềm dễ gia công chế biến là
nguồn nguyên liệu lớn cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp sản xuất
giấy, chế biến ván nhân tạo, chế biến đồ mộc xuất khẩu, gỗ bao bì, gỗ xây
dựng Do đó, chu kỳ kinh doanh đã được rút ngắn dẫn đến hiệu quả kinh tế
không ngừng được nâng lên đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con
người.
Xã Dũng Phong – Cao Phong – Hòa Bình là một trong những địa phương
đi đầu trong công tác trồng, bảo vệ và phát triển rừng cho chương trình trồng
mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ và nhiều các dự án khác. Cây trồng chính ở
đây được chọn là Keo (bao gồm Keo tai tượng và Keo lai). Đây là hai loài có
biên độ sinh thái rộng, chúng có thể mọc được ở nơi có độ pH thấp, đất nghèo
dinh dưỡng, có khả năng cạnh tranh với nhiều loài cỏ dại, khả năng chống chịu
với điều kiện thời tiết bất lợi. Chính vì vậy, nó đã được đưa vào trồng phổ biến ở
cả rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Thực tế công tác trồng rừng ở địa phương
cho thấy, phần lớn diện tích ở đây chủ yếu người dân tập trung vào sản xuất
nông nghiệp (nhất là cây mía) hình thức sản xuất độc canh đã làm cho đất ở khu
vực ngày càng trở nên thoái hóa; họ ít chú trọng đến sản xuất lâm nghiệp (do
chu kỳ kinh doanh dài, hiệu quả chưa được thống kê). Do vậy, diện tích rừng
trồng ở đây rất hạn chế. Vậy làm thế nào để nâng cao diện tích và hiệu quả rừng
trồng Keo mang lại đảm bảo mục tiêu lâu dài vẫn đang là một bài toán khó với
nhà nước, cán bộ và nhân dân nơi đây.
1
Chính vì lý do trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Bước đầu đánh giá
hiệu quả kinh tế mô hình rừng trồng Keo lai và Keo tai tượng tại xã Dũng
auriculiformis Cunn). Chúng được phát hiện tự nhiên ở Việt Nam, Thái Lan,
Malaysia, Indonesia, nam Trung Quốc và một số nơi vùng Châu Á – Thái Bình
Dương. Ở nước ta Keo lai mọc ở các khu vực rừng trồng hỗn loài Keo tai tượng
và Keo lá tràm, được phát hiện lần đầu tiên tại Ba Vì – Hà Nội (Lê Đình Khả,
3
1993) [8]. Khảo nghiệm tại trung tâm giống cây rừng đã xác định được một số
đặc điểm của Keo lai, nó mang nhiều ưu điểm của loài cây bố mẹ.
- Khả năng sinh trưởng, phát triển tốt thích nghi với điều kiện khí hậu
nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều ở nước ta.
- Keo lai mang đặc điểm trung gian giữa hai loài cây bố mẹ, có thân
thẳng, tròn, tán dày lá, kích thước lá trung bình (lá nhỏ hơn lá Keo tai tượng, lớn
hơn lá Keo lá tràm) lá có 4 gân chính, cây tỉa cành tự nhiên tốt.
- Là cây xanh quanh năm, tán lá khá dày, rễ có nhiều nốt sần Rhizobium
có khả năng cố định đạm, cây có khả năng sống trên các vùng đất đai nghèo kiệt
và khô hạn, do đó có thể trồng được trên đất khô và đất kiềm. Chính vì vậy, hiện
nay nó là một trong những loài cây chính được chọn trong công tác trồng rừng
để cải tạo đất phủ xanh đất trống, đồi trọc và chống xói mòn.
- Keo lai có tiềm năng bột giấy, làm nguyên liệu ván dăm và đóng đồ gia
dụng. Ngoài ra trồng Keo lai còn cung cấp chất đốt phục vụ cho cuộc sống con
người.
1.1.2. Trên thế giới
Keo lai được Messrs Hepbum và Shim phát hiện năm 1972 trong những
hàng cây trồng ven đường. Năm 1978 khi xem xét các mẫu tiêu bản thực vật ở
Queensland (Australia) Pedkey đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai
tượng và Keo lá tràm. Ngoài ra nó cũng được phát hiện trong tự nhiên ở Papu
New Guinea (Turn bull, 1986; Grinfin, 1988), dẫn theo Lê Đình Khả (1997) [6].
Theo Rufels (1987), cho thấy tại miền Bắc Sabal – Malaisia Keo lai xuất
hiện tại rừng Keo tai tượng 3 – 4 cây/ha; còn Wong thì thấy xuất hiện tỷ lệ 1/500
cây.
Tại Thái Lan (Kij Kar, 1992), Keo lai được tìm thấy ở vườn ươm Keo tai
đánh giá tiềm năng bột giấy của Keo lai cũng như tiến hành khảo nghiệm các
dòng Keo lai được chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả, Phạm
Văn Tuấn, Nguyễn Văn Thảo và các cộng sự, 1999; Lê Đình Khả, 1999) [7].
Kết quả cho thấy Keo lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng so với Keo tai tượng
và Keo lá tràm và có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài này. Khi
5
cắt cây để tạo chồi thì Keo lai cho rất nhiều chồi (trung bình 289 hom/gốc). Các
hom này có tỷ lệ ra rễ trung bình 47% trong đó có 11 dòng cho ra rễ từ 57 –
85%. Sai khác giữa các dòng về sinh trưởng là khá rõ. Một số dòng sinh trưởng
rất nhanh nhưng các chỉ tiêu về chất lượng lại không đạt yêu cầu, một số dòng
vô tính vừa sinh trưởng nhanh lại vừa có chất lượng rất tốt có thể nhân giống
nhanh và số lượng nhiều đưa vào sản xuất như các dòng BV5, BV10, BV16,
BV29, BV32.
Giá trị sử dụng về tiềm năng bột giấy cây Keo lai đã được Lê Đình Khả,
Lê Quang Phúc (1995 - 1999) [9] nghiên cứu cho thấy: Keo lai có tỷ trọng gỗ
trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, tỷ trọng gỗ của Keo lai trung bình
khoảng 0,455 g/cm
3
ở giai đoạn 4 tuổi, trong khi đó Keo tai tượng là 0,414 cm
3
,
Keo lá tràm là 0,469 cm
3
. Giấy được sản xuất từ các dòng Keo lai được chọn có
độ dai và độ chịu gấp cao hơn rõ rệt so với 2 loài Keo bố mẹ.
Khảo nghiệm một số dòng vô tính mới được chọn 1996 ở (Cẩm Quỳ) đã
xây dựng ngay tại nơi chọn lọc cây mẹ. Nguồn Keo lai được lựa chọn là từ các
rừng Keo tai tượng được lấy giống từ Đồng Nai, thấy nổi lên một số nét chính
các cây trội Keo lai mới được chọn mặc dù ban đầu khá lớn, song qua khảo
nghiệm đều thấy sinh trưởng kém hơn các dòng Keo lai cũ là BV5, BV10.
hai loài bố mẹ và trong tất cả các khảo nghiệm tại vùng thấp miền Bắc, miền
Trung và miền Nam. Trong hầu hết các điều kiện lập địa phù hợp tại miền Nam
và miền Trung, thâm canh cao các dòng Keo lai có thể đạt tăng trưởng MAI từ
35 – 40 m
3
/ha/năm sau luân kỳ kinh doanh 5 – 7 năm (Lê Đình Khả, 2001) [10].
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Dao (2003) [2] cho thấy khảo nghiệm tại Ba
Vì (Hà Nội) ở phương thức thâm canh Keo lai 78 tháng tuổi chiều cao vút ngọn
trung bình 15m, đường kính trung bình D
1.3
là 14,3cm, thể tích thân cây Keo lai
đạt 172,2 dm
3
/cây gấp 1,42 – 1,48 lần Keo tai tượng và gấp 5,6 – 10,5 lần thể
tích Keo lá tràm. Khảo nghiệm tại Bình Thanh (Hòa Bình) ở công thức thâm
canh 7 tuổi chiều cao trung bình Keo lai là 22,3m, đường kính trung bình D
1.3
là
20,7cm, ở công thức quảng canh Keo lai có chiều cao 22,9m, đường kính D
1.3
là
19,3cm, thể tích thân cây Keo lai đạt 383,1 dm
3
/cây ở công thức thâm canh, còn
thể tích thân cây công thức quảng canh là 344,2 dm
3
/cây.
7
Khảo nghiệm tại Đại Lải (Vĩnh Phúc) ở đất đồi lateritic nghèo dinh
dưỡng, mùa đông lạnh sau 6 năm tuổi ở công thức thâm canh H
mô hình tính toán Carbon trong rừng Keo lai đưa ra kết quả: Sinh khối và trữ
lượng Carbon trong rừng trồng Keo lai tỷ lệ thuận với tuổi rừng và sinh trưởng
rừng, cao nhất ở miền Nam, tiếp đến là miền Trung và thấp nhất là ở miền Bắc.
Lượng Carbon do rừng Keo lai hấp thụ Từ 7 – 10 tấn Carbon/ha/năm (tương
đương với 26 – 36 tấn CO
2
/ha/năm).
Như vậy, ở nước ta những nghiên cứu về Keo lai cũng đang dần đáp ứng
được khả năng mở rộng gây trồng của loài này trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên
hiện nay hòa chung với tình hình của thế giới các nhà khoa học Việt Nam vẫn
đang tiếp tục nghiên cứu nhằm phát triển, mở rộng và ổn định để đưa loài cây
này lên một tầm cao mới.
1.2. Những nghiên cứu về Keo tai tượng (Acacia mangium)
1.2.1. Đặc điểm chung
Keo tai tượng (Acacia magium Wild) thuộc họ đậu (Fabacea) họ phụ trinh
nữ (Minosacea), là cây gỗ nhỡ, lá rộng thường xanh, mọc nhanh, chiều cao có
8
thể tới 30m, đường kính đạt 60cm. Đời sống của Keo tai tượng khoảng từ 30 –
50 năm. Chúng phân bố tự nhiên ở một số nơi thuộc Queensland (Australia) là
vùng duyên hải thấp với độ cao từ mực nước biển dưới 800m. Keo tai tượng còn
phân bố kéo dài tới các tỉnh miền tây Papua New Guinea (Western Province) và
tỉnh Irian Taya thuộc Indonesia (Awang and Taylor, 1993). Vùng sinh thái Keo
tai tượng thường là nhiệt đới ẩm, với mùa khô ngắn (4 – 6 tháng), lượng mưa
trung bình từ 1446 – 2970mm. Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13 – 21
o
C,
nhiệt độ trung bình tháng cao nhất trung bình từ 25 – 32
o
C. Cây có thể sinh
trưởng thích hợp ở những nơi có biên độ pH từ 4,5 – 6,5. Cây từ 4 tuổi có thể
1.2.3. Ở Việt Nam
Keo tai tượng được đưa vào miền Bắc nước ta từ năm 1981 (Bộ lâm
nghiệp, 1990). Là một trong những loài cây chủ yếu được giới thiệu để trồng
rừng thâm canh ở các vùng đất thấp của khu vực nhiệt đới ẩm. Ở Việt Nam, nhất
là các tỉnh phía Nam Keo tai tượng chiếm một tỷ trọng khá lớn và có rất nhiều
những nghiên cứu cụ thể về loài này.
Trong công tác chọn giống, nhiều xuất xứ Keo tai tượng đã được khảo
nghiệm. Theo Giang Văn Thắng (1995) [19] với mật độ 1250 cây/ha, lượng tăng
trưởng Keo tai tượng đạt cao nhất và cho trữ lượng cao nhất.
Nghiên cứu về tăng trưởng của rừng Keo tai tượng, Ngô Đình Quế và Đỗ
Đình Sâm (1998) [18] cho rằng Keo tai tượng ở Đông Nam Bộ cho tăng trưởng
đường kính từ 2,7 – 3,2 cm/năm và chiều cao có thể đạt được 3,0 – 3,5 m/năm.
Hà Quang Khải (1999) [11], nghiên cứu quan hệ sinh trưởng và tính chất
đất của Keo tai tượng trồng thuần loài tại Núi Luốt, Xuân Mai – Hà Tây, kết quả
Keo tai tượng 8 tuổi trồng thuần loài trên đất feralit nâu vàng, đá mẹ Poocphyrit
tại Núi Luốt, Xuân Mai – Hà Tây đạt các chỉ tiêu sinh trưởng D
1.3
= 12,6cm, H
vn
= 12,7m. Dưới rừng Keo tai tượng, đất xung quanh rễ ở vùng gần gốc và vùng
xa gốc có sự khác nhau, trong 13 chỉ tiêu nghiên cứu, thì 10 chỉ tiêu khác biệt về
trị số giữa vùng xa gốc và vùng gần gốc. Những chỉ tiêu sinh trưởng H
vn
, D
1.3
có
tương quan với các chỉ tiêu độ phì của đất trong khu vực nghiên cứu một cách
tổng hợp chứ không phải riêng lẻ từng chỉ tiêu một. Chỉ tiêu D
1.3
của Keo tai
1.3
đạt 14,6cm, H
vn
đạt 16,3m, trữ lượng đạt 171,2 m
3
/ha; còn ở
mật độ 2000 cây/ha trữ lượng đạt 168 m
3
/ha và trữ lượng ở mật độ 1250 cây chỉ
đạt 157,9 m
3
/ha [1].
Để đánh giá khả năng cải tạo môi trường rừng trồng, Phạm Ngọc Mậu
(2007) [12] đã tiến hành theo phương pháp trọng số điểm 100 với Keo tai tượng
trồng tại Đoan Hùng, Phú Thọ 8 tuổi kết quả đạt được 87 điểm, nghĩa là rừng
trồng này có ảnh hưởng tốt tới môi trường.
Những nghiên cứu này đã và đang từng ngày, từng giờ góp phần vào thúc
đẩy quá trình chọn giống, trồng, chăm sóc thúc đẩy quá trình trồng rừng trên
khắp cả nước tạo ra những quả đồi xanh trù phú, đóng góp vào hoàn thành
nhiệm vụ, kế hoạch chung của quốc gia.
11
1.3. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo lai và Keo tai tượng
Khi nghiên cứu về phương diện kinh tế của rừng trồng cũng được nhiều
người quan tâm. Theo CAB.International for Asia, từ năm 1939 đến năm 1995
có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong Lâm nghiệp, trong đó có 9 công
trình đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng và chủ yếu tập trung đánh giá
hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
HansM - Gregersen và AmldoH. Contresal (1979) [22], trong cuốn “Phân
tích kinh tế các dự án trong Lâm nghiệp” đã đưa ra các phương án tính hiệu quả
kinh tế rừng trồng với các nội dung cơ bản về lãi suất, cơ sở tính lãi suất, các chỉ
3
/ha cho lợi nhuận từ
14.832.098 – 32.124.063 đồng/ha.
Tóm lại, Keo tai tượng và Keo lai đóng vai trò quan trọng trong công tác
trồng rừng. Với chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng trong đó có 3 triệu ha
rừng sản xuất thì Keo tai tượng và Keo lai là một trong số ít loài hiện đang được
chọn làm cây trồng với quy mô lớn. Những nghiên cứu về hai loài cây này
tương đối phong phú, được tiến hành trên các điều kiện khác nhau và ở mỗi điều
kiện cho kết quả khác nhau. Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ thể nhằm có được
cơ sở khoa học cũng như thực tế để phát triển rừng Keo tại khu vực xã Dũng
Phong là chưa có. Vì vậy nghiên cứu về hiệu quả rừng trồng hai loài Keo này là
thực tế cần thiết hiện nay.
13
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả của mô hình rừng trồng Keo lai và Keo tai tượng
tại xã Dũng Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình nhằm lựa chọn loài cây
trồng phù hợp và đem lại hiệu quả cao nhất phục vụ cho công tác trồng rừng ở
địa phương.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được sinh trưởng của Keo lai và Keo tai tượng trồng tại khu
vực nghiên cứu.
- Đánh giá được chất lượng của các mô hình.
- Đánh giá được trữ lượng của các mô hình.
- Bước đầu đánh giá được hiệu quả kinh tế của mô hình rừng trồng Keo
lai và Keo tai tượng tại xã Dũng Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
diện tích đất canh tác nông nghiệp đang bị thoái hóa nghiêm trọng. Công việc đó
tiến hành thông qua đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, dự đoán trữ lượng từ đó
tính năng suất thu được sau một chu kỳ kinh doanh.
Hiệu quả không chỉ xét riêng về mặt đem lại thu nhập trước mắt, hơn thế
nữa trồng rừng chính là biện pháp kinh doanh lâu dài đảm bảo ổn định cuộc
sống của người dân. Phần lớn những diện tích khó canh tác không thể làm nông
nghiệp, đất đai bị bỏ hoang đều có thể đưa vào sử dụng cho mục đích lâm
nghiệp. Đây chính là điểm nhấn tạo tiền đề cho quá trình trồng rừng phát triển.
Tiến trình nghiên cứu được thể hiện theo sơ đồ sau:
15
Khung phân tích nghiên cứu
So Sánh
Đánh giá hiệu quả kinh tế
của hai mô hình rừng
Tính toán trữ lượng ở thời điểm
hiện tại và dự đoán trữ lượng ở
cuối chu kỳ kinh doanh
Đề xuất khuyến nghị
16
Thu thập thông tin và tài
liệu đã có
Đánh giá sinh trưởng và
năng suất rừng Keo tai
tượng
Đánh giá sinh trưởng và
năng suất rừng Keo lai
Xử lý thông tin đã thu thập
2.5.2. Phương pháp kế thừa số liệu
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh – kinh tế xã hội.
- Lịch sử rừng trồng của các mô hình Keo tai tượng và Keo lai.
1.3
, H
vn
, độ thẳng thân, khả
năng tỉa cành, độ lệch tán, tình hình sâu bệnh Để đánh giá chất lượng theo 3
cấp:
Cây sinh trưởng tốt (T): Là những cây sinh trưởng khỏe mạnh, thân thẳng,
tán lá cân đối, không bị sâu bệnh.
17
Cây sinh trưởng trung bình (TB): Là những cây có hình thái trung gian,
sinh trưởng trung bình.
Cây sinh trưởng xấu (X): Là những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn,
nhiều u bướu.
- Toàn bộ số liệu điểu tra được ghi vào biểu:
Biểu 01: Biểu điều tra tầng cây cao
- Loài cây: - Độ dốc:
- Tuổi cây: - Người điều tra:
- Diện tích OTC: - Ngày điều tra:
STT D
1.3
H
vn
H
dc
D
t
ĐT NB TB ĐT NB TB
1
2
Biểu 03: Tổng thu nhập thực tế từ các mô hình
Chỉ tiêu
Loài
Chu kỳ kinh
doanh (năm)
Sản lượng
cuối chu kỳ
(m
3
/ha)
Đơn giá
(đ/ha)
Thành
tiền (đ/ha)
Keo lai
Keo tai tượng
2.5.4. Phương pháp xử lý số liệu
Từ số liệu thu được trên OTC ta tiến hành chỉnh lý, tính toán số liệu dựa
trên phần mềm Excel, SPSS.
• Tính các đại lượng sinh trưởng
Trường hợp mẫu lớn (n> 30) các đại lượng được tính toán theo công thức sau:
- Tính số trung bình mẫu:
X
=
∑
Xifi
n
**
1
(2.1)
của hai mẫu với công thức:
2
2
2
1
2
1
21
n
S
n
S
XX
U
+
−
=
(2.5)
Trong đó:
1
X
,
2
X
: Là số trung bình của các mẫu đem so sánh.
S
1
, S
2
: Là sai tiêu chuẩn của các mẫu 1 và 2.
−
×
=
∑∑
= =
c
i
r
i
bjai
ij
sn
TT
f
T
1 1
2
2
1
χ
(2.6)
Trong đó:
fij: Tần số quan sát của mẫu i và từng cấp chất lượng j.
T
- Tính tỷ lệ % cây tốt, trung bình, xấu theo công thức:
P%=
N
n
Χ
100 (2.7)
Trong đó:
P%: Tỷ lệ tương ứng của số cây tốt, xấu, trung bình (%).
n: Số cây tốt, xấu, trung bình tương ứng (cây).
N: Tổng số cây (cây).
• Tính trữ lượng lâm phần và dự tính trữ lượng lâm phần ở cuối chu kỳ kinh
doanh (7 năm)
- Tính trữ lượng trên 1ha của các mô hình tại thời điểm ta quan sát theo công
thức:
M= ∑Vi (2.8)
Trong đó:
V
: là thể tích trung bình của một cây (m
3
)
Với
V
= g*h*f (2.9)
g: tổng tiết diện ngang của thân cây (g= ח/4 * D
2
)
f: là hình số (f = 0,5)
21
• Tính toán một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình
1. Giá trị hiện tại thuần túy (NPV)
BCR là hệ số tương quan giữa giá trị hiện tại của tổng thu nhập so với giá
trị hiện tại của tổng chi phí của các mô hình theo công thức:
BCR =
∑
∑
=
=
+
+
n
t
t
n
t
t
r
Ct
r
Bt
0
0
)1(
)1(
=
CPV
BPV
(2.11)
Trong đó:
BCR: Là tỷ suất giữa lợi nhuận và chi phí (lần).
BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đ).
23
- Phía Bắc giáp xã Tân Phong,
- Phía Nam giáp xã Nam Phong,
- Phía Đông giáp xã Yên Lập,
- Phía Tây giáp xã Tây Phong,
Dũng Phong nằm cách trung tâm thành phố Hòa Bình 21km và cách trung
tâm huyện Cao Phong 8km. Xã có tuyến đường giao thông chính là trục đường
chạy từ xã Tây Phong đi vào trung tâm xã dài 3km, từ trung tâm xã đi Yên Lập
dài 5km, đi xã Tân Phong dài 1,5km và đi xã Nam Phong dài 4km. Ngoài ra xã
còn có các tuyến đường liên thôn với chiều dài tổng số 12km. Đây là điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng; đặc biệt như:
nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.1.2. Địa hình
Dũng Phong là một xã miền núi thuộc huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình,
với dạng địa hình chủ yếu là đồi núi, dạng địa hình núi thấp bị chia cắt bởi các
dải núi. Độ cao tuyệt đối trung bình là 300m, độ dốc bình quân 25
o
, độ cao tuyệt
đối thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam.
3.1.3. Khí hậu thủy văn
♦ Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu chung của toàn huyện, xã Dũng Phong thuộc
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt. Nóng ẩm về mùa
mưa, lạnh và khô về mùa khô.
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa bình quân từ 1600 –
1800mm, chiếm 80% lượng mưa cả năm.
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa bình quân từ
400mm, chiếm 20% lượng mưa cả năm.
- Nhiệt độ không khí bình quân từ 21 – 24
khẩu, gồm 2 dân tộc chính:
- Dân tộc Mường chiếm 90% dân số toàn xã.
- Dân tộc Kinh chiếm 10% dân số toàn xã.
- Tỷ lệ tăng dân số 1,5%/năm.
- Mật độ dân số bình quân 171 người/km
2
, dân cư phân bố không đồng đều tập
chung ở gần các khu chợ nông sản. Việc phân bổ lao động chủ yếu là lao động
nông nghiệp, chiếm đến 80%; còn lại là lao động các ngành nghề khác.
3.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
♦ Về kinh tế:
- Sản xuất nông nghiệp:
25