đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa địa phương ở htx nông nghiệp tín lợi xã quảng lợi huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cây trồng là nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng đáp ứng nhu
cầu về đời sống và sinh hoạt của con người. Từ những nhu cầu về lương thực, thực
phẩm hàng ngày, may mặc cho đến thức ăn để chăn nuôi gia súc, gia cầm và
nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội
thì yêu cầu của con người về các loại nông sản phẩm ngày càng cao, không chỉ về
số lượng mà còn về chất lượng, về hình thức mẫu mã, về sự đa dạng và những tiêu
chuẩn khác. Chính điều này đã đặt ra cho con người những nhận thức mới, nhận
thức về sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người đồng thời mang
lại hiệu quả kinh tế cao.
Sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhà nước ta 20 năm qua đã đem lại những
thành quả lớn lao, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp nước ta
từ chỗ không đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đến
nay chúng ta có thể tự đáp ứng nhu cầu của mình và vươn lên trở thành một nước
xuất khẩu. Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, bình
quân hàng năm xuất khẩu hơn 4 triệu tấn, riêng năm 2005 con số này là 5,2 triệu
tấn.
Lúa là cây trồng có vị trí chiến lược rất quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp nói chung và cũng như trong cơ cấu sản xuất hàng hóa nói riêng. Được
Đảng và Nhà nước ta xác định là cây lương thực chủ chốt trong kim ngạch xuất
khẩu, mang lại ngoại tệ cho đất nước, góp phần làm tăng tích lũy cho người nông
dân trồng lúa. Họ có thêm vốn để đầu tư, mở rộng diện tích sản xuất. Tuy nhiên sản
xuất lúa hàng hóa phải đặt ra yêu cầu đạt năng suất cao nhất trên một đơn vị diện
tích, giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó còn phải đáp ứng những tiêu
chuẩn khắc khe về mẫu mã, chất lượng và giá cả của người tiêu dùng. Song do tập
quán canh tác bao đời nay của người nông dân trong sản xuất chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm truyền thống, chậm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất lúa vẫn
thấp chất lượng lúa chưa cao. Ngày nay, khi mà lúa gạo đã có đủ cho nhu cầu trong
nước và có dư để xuất khẩu thì vị trí của các giống lúa chất lượng cao ngày càng
quan trọng, trong khi đó hầu hết các giống lúa này đang trong tình trạng bị thoái

xuất lúa địa phương trên địa bàn.
2
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1. Lý Luận chung về hiệu quả kinh tế
2.2.1.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
a. Khái niệm hiệu quả kinh tế
Trong cơ chế thị trường, một vấn đề luôn được các nhà sản xuất quan tâm
hàng đầu là hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất là điều kiện
để tích lũy và tái đầu tư mở rộng, là động lực thúc đẩy việc mở rộng sản xuất kinh
doanh. Hay nói cách khác nó chính là yếu tố sống còn của không riêng bất cứ nhà
sản xuất nào
Chính vì vậy hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của mỗi
nhà sản xuất, mỗi doanh nghiệp mà còn là của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế là một
phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ
chức, quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng hoạt động
kinh tế nghĩa là tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt động kinh
tế. Đây là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của cuộc
sống con người tăng lên trong khi nguồn lực là có hạn. Chỉ có như vậy thì doanh
nghiệp mới có điều kiện mở rộng và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên
tiến vào sản xuất.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo Tiến sĩ
Nguyễn Tiến Mạnh thì: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình)
kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân
lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”.
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở
mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế hoàn toàn có
thể tính toán được trong hiệu quả kinh tế sự vận động và biến đổi không ngừng của
các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau
của chúng.[22]

về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa một
bên là kết quả đạt được và một bên là các chi phí bỏ ra. Tiêu chuẩn của hiệu quả
4
kinh tế là sự tối đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện tài nguyên có
hạn. Tuy vậy, cần thấy rằng kết quả thu được rất phong phú, có thể thu được trên
phương diện kinh tế, tài chính, xã hội như giảm bớt chênh lệch giàu nghèo, giảm
thất nghiệp và cải thiện môi trường sinh thái. Do đó hình thành nên khái niệm hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội.
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các
mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là : giải quyết công ăn
việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế; giảm số người thất
nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm
bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp
nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, đảm bảo và nâng
cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi trường; Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người ta
xem xét mức tương quan giữa các kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải
thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn
việc làm ) và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế xã hội là mối tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết
quả đạt được cả về mặt kinh tế và xã hội. Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế
là phát triển xã hội, vì thế hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Do đó khi nói đến hiệu quả kinh tế chúng ta cần phải hiểu trên quan
điểm kinh tế xã hội.
Qua nội dung đã trình bày phần trên có thể kết luận rằng :
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, nói
rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương qian giữa
kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính. Là chỉ tiêu phản ánh

sản phẩm, Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Trong
khi đó khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ
tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết
quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy
nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào”
và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường hiệu quả kinh tế còn việc sử dụng
đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường
– tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là: Nội dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh
doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều
6
lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều
trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng”
tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả.[22]
2.2.1.2. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế.
Trên cơ sở kết quả thu được và chi phí bỏ ra có thể xác đinh được hiệu quả
kinh tế. Hiệu quả kinh tế có thể được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau tùy
thuộc vào mục tiêu phân tích và kết quả tính toán. Chẳng hạn, với mục tiêu là sản
xuất ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội thì dùng chỉ tiêu giá trị sản xuất. Nhưng
với doanh nghiệp hay trang trại phải thuê nhân công thì người ta dùng chỉ tiêu lợi
nhuận, còn đối với nông hộ lại dùng chỉ tiêu giá trị gia tăng hay thu nhập hỗn hợp.
Thông thường thì dùng chỉ tiêu giá trị gia tăng.
Trong phân tích hiệu quả kinh tế ta có những phương pháp khác nhau như:
Hiệu quả so sánh về mặt lượng giữa giá trị sản xuất và chi phí sản xuất.
Dạng thuận:
H=Q/C
Hoặc dạng nghịch:
H=C/Q
Trong đó :
H : Hiệu quả kinh tế

sánh kết quả của sản xuất với đầu tư chung và so sánh phần tăng thêm của sản xuất
với đầu tư bổ sung, chủ yếu là so sánh thu nhập thuần túy với nhân tố khái quát.
Mức doanh lợi là chỉ tiêu khái quát nhất về hiệu quả sản xuất nói chung và thâm
canh nông nghiệp nói riêng. Mức doanh lợi có thể biểu hiện bằng mối quan hệ so
sánh về lượng của thu nhập và chi phí sản xuất hoặc của tổng thu nhập với tổng số
vốn sản xuất (vốn cố định và vốn lưu động trừ phần khấu hao).
Còn mức doanh lợi của đầu tư bổ sung là quan hệ so sánh giữa phần tăng
thêm của thu nhập với đầu tư bổ sung. Chỉ tiêu này có thể biểu hiện mối quan hệ về
lượng với phần tăng lên của thu nhập với phần chi phí sản xuất bổ sung hoặc giữa
phần tăng lên thu nhập với phần vốn sản xuất bổ sung.
Các chỉ tiêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá, phân tích hiệu
quả kinh tế. Bởi nguyên lý cận biên là phần lý thuyết cốt lõi trong kinh tế học hiện
đại. Nó là cơ sở để định giá các yếu tố đầu vào cho việc phân phối sản phẩm và thu
nhập.
Hai phương pháp trên vừa phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực và chi
phí trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này
không phản ánh được cái giá phải trả cho quy mô của hiệu quả là bao nhiêu và
8
không thể so sánh được hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp có quy mô khác
nhau.
Như vậy có nhiều phương pháp xác định hiệu quả kinh tế, mỗi cách đều
phản ánh một khía cạnh nhất định về hiệu quả. Vì vậy, tùy mục đích nghiên cứu,
phân tích và thực tế để lựa chon cho phù hợp. Nếu doanh nghiệp thiếu vốn và sử
dụng đồng vốn sao cho hiệu quả thì sử dụng phương pháp thứ nhất. Nếu xác định
hiệu quả của đầu tư thâm canh thì dung phương pháp thứ hai. Thông thường thì cần
kết hợp cả hai phương pháp thì việc đánh giá, xem xét mới đầy đủ và toàn diện hiệu
quả kinh tế.
2.2.2. Vai trò kinh tế của cây lúa.
2.2.2.1. Nguồn gốc cây lúa.
Việc thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng với sự xuất hiện của nghề

lương thực chính, 25% sử dụng trên 1/2 khẩu phần ăn hàng ngày. Như vậy, lúa gạo
ảnh hưởng ít nhất 65% dân số thế giới.
Có thể nói, lúa gạo nói chung ảnh hưởng rất lớn đến một bộ phận dân cư.
Ngày nay khi mà kinh tế phát triển thì nhu cầu của con người về chất lượng sản
phẩm cũng tăng lên. Con người có xu hướng tìm đến những giống địa phương chất
lượng cao. Ở nước ta những giống lúa địa phương đã tồn tại lâu đời như: giống Tám
ấp bẹ Xuân Đài là giống tám truyền thống của tỉnh Nam Định được trồng từ lâu ở
làng Xuân Đài thuộc huyện Hải Hậu ngày nay, là giống có phẩm chất rất cao, cơm
dẻo rất thơm, chịu được chua tốt, có khả năng kháng được bệnh. Hay là giống Dự
Hương ở ven biển Đồng bằng Bắc bộ, thuộc nhóm gạo dẻo có mùi thơm đặc trưng,
chịu được chua phèn. Ngoài ra còn rất nhiều giống địa phương chất lượng cao như:
giống Thơm sớm, Nàng thơm Nhà bè, Thơm Bình Chánh, Nàng thơm chợ Đào,
Nàng Hương…phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long. [3]
2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lúa.
2.2.3.1. Nhóm nhân tố tự nhiên.
Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và sản lượng lúa bởi
vị nhóm các yếu tố này tác động trực tiếp và liên tục trong suốt quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng. Cụ thể là:
• Nhiệt độ
Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến toàn bộ chu kỳ sinh trưởng phát triển của
cây lúa. Ngưỡng nhiệt độ cho cây lúa sinh trưởng phát triển thích hợp là từ
10
13
0
C-40
0
C. Phản ứng của lúa với nhiệt độ ở mỗi giai đoạn sinh trưởng cũng khác
nhau. Giai đoạn nảy mầm yêu cầu nhiệt độ cao. Giai đoạn vươn lá lúa có thể chịu
đựng ở nhiệt độ thấp hơn, đến giai đoạn trổ bông và vào chắc lúa cần nhiệt độ cao.
Tổng tích ôn từ khi gieo đến khi chín hoàn toàn cây lúa cần 2500-3000

đất phù sa, đất xám đọng mùn, đất nhiễm phèn nhẹ, đất nhiễm phèn nặng được cải
tạo, đất nhiễm mặn nhẹ. Nhưng thích hợp nhất là đất phù sa ngọt trên các lưu vực
11
sông lớn, nhỏ như sông Mêkông, sông Hồng, sông Mã. Cây lúa có thể sống được
trên đất có độ pH từ 3,5-10 nhưng thích hợp nhất là 3,5-7.
• Thời vụ
Thời vụ có tầm quan trọng đặt biệt, là một trong những biện pháp quan trọng
nhất trong thâm canh hiện nay. Thời vụ được coi là một cái trục chính để cho các
biện pháp kỹ thuật khác xoay xung quanh nó mà hoạt động, “Nhất thì, nhì thục”. Do
vậy, việc xác định thời vụ thích hợp sẽ mang lại năng suất cao và đạt hiệu quả kinh
tế. Để xác định thời vụ cho lúa ta phải dựa vào: đặc điểm của của các giống lúa,
thời tiết, khí hậu, đất đai của từng vùng, quy luật phát sinh phát triển của sâu bệnh,
dựa vào chế độ luân canh tăng vụ, rãi vụ của từng địa phương, các tiết trong năm…
Đối với khu vực Bắc Trung Bộ nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng thì thời vụ
có nét riêng: lúa Đông Xuân gieo từ đầu tháng 12 đến tháng 1 dương lịch, thu hoạch
từ ngày 10-20 tháng 5, còn lúa Hè Thu gieo vào cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 và thu
hoạch trước ngày 5 tháng 9.[6]
• Vùng sinh thái
Cũng giống như các loại cây trồng khác trong nông nghiệp, quá trình sinh
trưởng phát triển của cây lúa cũng phụ thuộc rất lớn tới điều kiện sinh thái của địa
phương. Điều kiện sinh thái là sự phức hợp các mối quan hệ giữa điều kiện tư
nhiên, khí hậu, đất đai và nhiều nhân tố khác.
Ở Việt Nam, có 7 vùng sinh thái, tuy lúa đều có thể được trồng trên khắp các
vùng này nhưng năng suất, phẩm chất lúa ở các vùng lại khác nhau. Ví dụ như
giống lúa Tám Xoan cho năng suất và phẩm chất tốt nhất ở Bắc Ninh, còn lúa Nàng
Thơm chỉ thích hợp tối ưu ở xã Mỹ Lệ huyện Cần Đước tỉnh Long An. Một số tỉnh
lân cận có trồng nhưng phẩm chất bị giảm so với vùng xuất xứ này. Như vậy, vùng
sinh thái cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến vùng sản xuất lúa.[23]
Trên đây chỉ là một số nhân tố tự nhiên cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến cây
lúa. Ngoài ra còn nhiều nhân tố khác cũng tác động không kém phần quan trọng.

nhân tố pháp lý này có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và sản xuất lúa.
Người nông dân thật sự đã gắn bó với phần ruộng đất của mình bằng kết quả sản
xuất do chính họ làm ra, họ yên tâm đầu tư thâm canh, tăng năng suất cây trồng,
tăng hiệu quả kinh tế,bảo vệ môi trường sinh thái bảo đảm cho quá trình sản xuất
nông nghiệp ổn định và bền vững.
- Chính sách khuyến nông
13
Trong những năm gần đây công tác khuyến nông rất được chú trọng, ở hầu
hết các địa phương đều có cán bộ khuyến nông trực tiếp tập huấn chỉ đạo sản xuất,
xây dựng và trình diễn các mô hình sản xuất đạt hiệu quả, giới thiệu các nông dân
làm ăn giỏi, các tiến bộ kỹ thuật mới, những thông tin về giống cây trồng, vật nuôi
cũng như giá cả thị trường thông qua các bản tin của đài, báo, tivi, tờ rơi…Điều này
đã giúp cho nhiều nông dân vươn lên làm giàu.
Trong thực tế nếu người sản xuất thiếu vốn thì sẽ sản xuất với quy mô nhỏ,
mức đầu tư cho sản xuất thấp là nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp, chất lượng
sản phẩm giảm và cuối cùng là thất thu. Đây là một trong những yếu tố không nhỏ
làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sản xuất lúa. Trong nhiều năm qua nhà nước
đã có những hỗ trợ cho nông dân như: Trợ giá giống lúa cho các địa phương, tập
huấn kỹ thuật cho bà con nông dân, hỗ trợ một phần chi phí cho cán bộ khuyến
nông…
- Chính sách đầu tư và tín dụng
Những năm qua chính phủ đã có nhiều nỗ lực cải tạo hệ thống thủy lợi. Đầu
tư trong ngành nông nghiệp tập trung chủ yếu vào cơ sở hạ tầng hỗ trợ sản xuất và
phát triển nông thôn. Trong thập niên 90, đầu tư vào thủy lợi chiếm khoảng 70%
tổng đầu tư của ngành nông nghiệp, chủ yếu tập trung cho lúa.
Về tín dụng nông thôn, hiện nay hệ nay hệ thống hỗ trợ tài chính nông thôn
chính thức có NHNN & PTNT Việt Nam, NHCSXH và quỹ tín dụng nhân dân.
Mục tiêu của hệ thống hỗ trợ tài chính nông thôn chính thức là bảo đảm đầu vào
cho sản xuất nông nghiệp, tăng cường công nghệ sau thu hoạch và xuất khẩu nông
sản, hỗ trợ đa dạng hóa nông nghiệp, cải tạo cơ sở hạ tầng nông thôn, giảm nghèo

nhau và phải đảm bảo đảm bón đúng thời vụ. Bón phân một cách hợp lý sẽ đảm bảo
cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây trồng vào mọi thời kì sinh trưởng phát triển, đồng
thời góp phần cải tao đất, tăng độ phì của đất.
- Bảo vệ thực vật: Sâu bệnh hại cây trồng luôn là vấn đề hết sức lo ngại đối
với sản xuất nông nghiệp. Sâu bệnh phá hoại làm cho cây trồng chậm phát triển ảnh
hưởng đến năng suất và phẩm chất nông sản. Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp
phòng trừ sâu bệnh là hết sức cần thiết đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và
sản xuất lúa nói riêng.
15
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao. Hiện nay trên
thế giới có khoảng 100 quốc gia trồng lúa. Vùng trồng lúa tương đối rộng nhưng tập
trung chủ yếu ở các nước châu Á (91,1% giai đoạn 1991-1995). Trung Quốc và Ấn
Độ là hai nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên thế giới. Cây lúa có thể trồng được
ở những vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 53
0
B, Tiệp 49
0
B,
Nhật, Italia 45
0
B đến nam bán cầu: New South Wales (Australia) 35
0
N.
Ở những nước công nghiệp phát triển, nhờ đẩy mạnh đầu tư thâm canh nông
nghiệp nên trình độ cơ giới hóa cao, họ cũng tạo ra nhiều giống lúa mới cho năng
suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn. Đa số lao động nông nghiệp có
khả năng nhận thức và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh. Trong khi đó ở
những nước đang phát triển, hình thức lao động chủ yếu bằng thủ công. Máy móc,

2000
2001
2002
151.027.599
151.646.356
156.888.894
153.785.367
151.623.334
146.029.456
38,193
38,423
38,961
38,905
39,260
39,682
576.816.805
582.665.263
611.251.382
598.307.226
595.267.724
579.476.722
2002/1997 -96,69 103,9 100,46
[Nguồn :FAO,1990-1998].
2.2.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam.
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, là điều kiện rất thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nước nói riêng. Nghề trồng lúa Việt
Nam đã có từ lâu đời và có thể coi là cái nôi hình thành cây lúa nước. Với địa bàn
trải dài trên 15 vĩ độ bắc bán cầu, từ bắc vào nam đã hình thành những đồng bằng
châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu để nuôi sống mấy
chục triệu người trong nước và hàng chục tấn xuất khẩu.

1994 6.598,60 3,57 23.528,20 1.962,00 420,90
1995 6.765,60 3,69 24.963,70 2.025,00 538,80
1996 7.003,80 3,77 26.396,70 3.047,00 868,40
1997 7.099,70 3,88 27.523,90 3.682,00 891,30
1998 7.362,70 3,96 29.145,50 3.793,00 1.006,00
1999 7.653,60 4,10 31.393,80 4.550,00 1.035,00
2000 7.666,30 4,24 32.529,50 3.477,00 668,00
2001 7.492,70 429 32.108,40 3.721,00 623,00
2002 7.504,30 4.,59 34.447,20 3.241,00 725,00
2003 7.452,20 4,64 34.568,80 3.567,00 981,70
2004 7.443,80 4,82 35.827,80 3.774,00 1.038,70
2005 7.329,20 4,889 35.823,90 4.758,00 1.321,20
2006 7.322,30 4,894 35.833,60 4.360,00 1.200,00
[Nguồn :[16], [18],[19], [21]]
Qua số liệu ở bảng 2 cho thấy từ năm 2000 đến nay diện tích trồng lúa có xu
hướng giảm xuống. Nguyên nhân là do có sự chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng
thủy sản và một số cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn, ngoài ra còn phải kể
đến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ dẫn đến việc xây dựng các hệ thống giao
thông, thủy lợi, khu công nghiệp…đã lấn sang đất nông nghiệp. Mặc dù có sự giảm
18
sút về diện tích nhưng năng suất và sản lương lúa không ngừng tăng lên đến năm
2006 đạt năng suất 48,94 tạ/ha và sản lượng đạt 35.833,6 nghìn tấn. Đạt mức kỷ lục
từ trước đến nay. Vì vậy, chúng ta không những đảm bảo nhu cầu lương thực cho
hơn 80 triệu dân mà còn vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên
thế giới. Riêng năm 2005 sản lượng xuất khẩu gạo đạt 5,2 triệu tấn đem về cho đất
nước trên 1,4 tỷ USD. Có được kết quả như vậy là nhờ những năm qua Đảng và
Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách hợp lý trong việc phát triển nông nghiệp, ứng
dụng TBKHKT trong sản xuất lúa, đặc biệt là đưa các giống có năng suất, chất
lượng cao vào sản xuất.
Bên cạnh những thành quả đã đạt được thì trong năm 2006 vừa qua ở

Năng suất Tạ/ha 46 50,4 52,3 4,4 9,57 1,9 3,77
Sản lượng Tấn 17562 18616 18752 1054 6 136 0,73
Bảng 3: Kết quả sản xuất lúa ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3
năm 2003-2005.
[Nguồn: [15]].
Qua 3 năm từ 2003-2005 diện tích gieo trồng lúa trên địa bàn huyện giảm
509 ha. Nguyên nhân của sự biến động này là do huyện đã có chủ trương chuyển
đổi, giảm bớt diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng một số loại cây, con
có giá trị kinh tế cao.
Về năng suất: Có thể nói, năm 2004 năng suất lúa của huyện có sự tăng lên
đột biến (53,3 tạ/ha) tăng 6,81% so với năm 2003, nhờ đó mà sản lượng lúa tăng
thêm 1561 tấn. Có được thành quả như vậy là do huyện đã tích cực thực hiện các
biện pháp thâm canh, đẩy mạnh chương trình khuyến nông, áp dụng các tiến bộ
khoa học-kỹ thuật, đưa giống mới vào gieo trồng, từng bước thực hiện cơ giới hóa
nông nghiệp. Năm 2005, năng suất lúa giảm đến 6,9 tạ /ha. Nguyên nhân là do thời
tiết bất lợi, khô hạn thiếu nước lúc lúa trổ và mưa khi lúa đã chín làm ngã đổ nhiều
diện tích. Do đó sản lượng giảm 3561 tấn so với năm 2004.
Qua đây có thể nói rằng, nhìn chung tình hình sản xuất lúa của huyện Quảng
Điền luôn có sự biến động, không ổn định, nhiều diện tích chưa chủ động được
nước tưới, còn tình trạng chờ nước trời. Do vậy, huyện cần đẩy mạnh hơn nữa công
tác thủy lợi, xây dựng đê điều cung cấp nước cho sản xuất. Bên cạnh đó cần đẩy
20
mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tuyển chọn giống mới, đẩy mạnh công tác thâm
canh, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chuyển một số diện tích có năng suất thấp,
thiếu ổn định sang trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, nuôi trồng thủy sản…
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Các hộ gia đình trên địa bàn đang sản xuất lúa địa phương, lúa nông nghiệp
và các cây trồng khác.

22
• Nhóm hộ nghèo chiếm tỷ lệ 30% với 12 phiếu điều tra.
• Nhóm hộ trung bình chiếm 45% với 18 phiếu điều tra.
• Nhóm hộ khá giàu chiếm 25% với 10 phiếu điều tra.
+ Phỏng vấn người am hiểu.
Phỏng vấn sâu những người am hiểu về vấn đề nghiên cứu.
3.5. Xử lí số liệu.
Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê so sánh, phương pháp phân
tích hồi quy với sự hỗ trợ của phần mềm Excel.
Sử dụng phương pháp hồi quy nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
năng suất lúa của nông hộ. Công cụ để phân tích mối quan hệ này là việc sử dụng
hàm sản xuất. Đó là mô hình biểu hiện sự phụ thuộc giữa kết quả (năng suất) với
các yếu tố đưa vào sản xuất. Có dạng tổng quát:
Y = f(X
1
,X
2
,…X
n
).
Trong đó: X
1
, X
2
, …X
n
là các yếu tố đầu vào (giống, trình độ văn hóa, các
loại phân bón…)
Và Y là kết quả sản xuất (năng suất).
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi sử dụng mô hình Cobb-Douglas trên

+ α4LnX
4
+ α5LnX
5.
Trong đó:
23
Y : Năng suất (kg/sào)
A : Hằng số (Hệ số góc của hàm sản xuất)
X
1
: Trình độ văn hóa của chủ hộ (lớp)
X
2
: Giống (kg/sào)
X
3
: Lượng phân đạm (kg/sào)
X
4
: Lượng phân lân (kg/sào)
X
5
: Lượng phân Kali (kg/sào).
3.6. Các chỉ tiêu nghiên cứu.
- Điều kiện tự nhiên của HTX Tín Lợi
o Vị trí địa lí
o Địa hình
o Thời tiết, khí hậu
o Thời vụ
o Tình hình đất đai thổ nhưỡng

gieo trồng cho bao nhiêu giá trị.
GO được tính theo công thức sau:
GO =Q
i
*P
i
Q
i
: Lượng sản phẩm loại i được sản xuất ra.
P
i
: Giá trị sản phẩm loại i.
• Tổng chi phí trung gian (IC) trên một sào: Bao gồm chi phí vật chất,
chi phí công lao động và chi phí dịch vụ được tiêu dùng trong quá
trình sản xuất (không tính khấu hao). Chi phí trung gian gồm: Chi phí
giống, chi phí mua phân các loại, chi phí làm đất, chi phí bơm nước,
tuốt, cắt, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, bảo vệ đồng ruộng, chi phí
thuê công lao động, và các chi phí khác
• Giá trị gia tăng (VA) trên một sào: Là kết quả cuối cùng sau khi đã trừ
đi chi phí trung gian .
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status