-
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Hiện nay, ngành nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng phát triển và đã trở
thành một nền kinh tế quan trọng của đất nước. Trong những năm qua ngành thuỷ
sản không những đã góp phần giúp nhân dân xoá đói giảm nghèo mà còn vươn lên
làm giàu trên chính diện tích canh tác hiệu quả thấp trước đây. Ngành này đã đóng
góp một tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu khá lớn trong các mặt hàng xuất khẩu nông
sản, gia tăng nguồn thu ngoại tệ phục vụ cho xây dựng và phát triển của đất nước.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh duyên hải miền trung có điều kiện tự nhiên khá
thuận lợi cho sự phát triển các hoạt động thuỷ sản nhất là nghề nuôi trồng thuỷ
sản.Với địa hình bờ biển kéo dài, có hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng lớn,
nhiều sông, hồ, thời tiết ấm áp thích hợp cho sự phát triển của các đối tượng thuỷ sản
và thuận lợi cho việc hình thành nên các mô hình nuôi trồng thuỷ sản phong phú.
Lộc An và Lộc Điền là hai xã thuộc huyện Phú Lộc nằm ở phía nam của
tỉnh. Hai xã có vị trí nằm tiếp giáp với đầm phá Tam Giang – Cầu Hai về phí
đông, giao thông thuận lợi với đường quốc lộ 1A chạy qua, nguồn lao động dồi
dào….. là những lợi thế để phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn. Thực
tế trong những năm qua cho thấy hoạt động nuôi trồng thuỷ sản phát triển khá
nhanh trên địa bàn huyện Phú Lộc nói chung và hai xã Lộc An và Lộc Điền nói
riêng. Bước đầu hoạt động này đã mang lại những thành quả nhất định tuy nhiên
qua đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề trong quá trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản
nơi đây có thể kể đến một trong những tình trạng chủ yếu đó là tình hình dịch
bệnh thường xuyên xảy ra làm thiệt hại không nhỏ tiền của của nhân dân. Để hiểu
rõ hơn những vấn đề này chúng tôi chọn đề tài : “Điều tra kinh tế xã hội và đánh
giá hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của các xã Lộc Điền và Lộc An, huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm thấy được tình hình nuôi trồng thuỷ sản của hai
xã, nguyên nhân, cũng như đề xuất một số giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu
quả sản xuất.
/>1
-
Da trơn (2000) 421.709 655.419.500
Hồi (2000) 1.533.824 4.875.552.400
Măng (2000) 461.857 715.091.100
Chình (2000) 232.815 975.005.700
Cá biển (2001) 1.091.085 4.088.894
( Nguồn: Bộ Thủy sản)
Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong nuôi giáp xác và trong nuôi trồng thủy
sản, tính đến năm 2003, sản lượng nuôi tôm trên thế giới đạt 1.804.932 tấn trong
đó có 666.071 tấn tôm sú, 723.858 tấn tôm thẻ chân trắng, còn lại là các đối tượng
khác (FAO,2004). Cũng theo FAO, báo cáo “Tình hình nuôi trồng thủy sản trên
thế giới” năm 2007, sản lượng tôm nuôi trên thế giới đạt vào khoảng 3,3 triệu tấn.
/>3
-
[14]. Tuy tôm nuôi mới chỉ chiếm 4,3% sản lượng và 15,3% giá trị trong cơ cấu
các sản phẩm nuôi trồng thủy sản (FAO,2003) nhưng có một vai trò đặt biệt quan
trọng trong thương mại thủy sản thế giới, đặt biệt là các nước đang phát triển. [1].
2.1.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta thực sự khởi sắc từ năm 1990
và đến năm 2000 – 2002 thì bùng phát cả về diện tích lẫn đối tượng nuôi.
Việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản được tiến hành chủ yếu trên các
vùng đất ngập nước ven biển, trong các thủy vực nước mặn ven bờ, trên các
vùng cát trũng thấp ven biển miền Trung và một phần diện tích từ canh tác
nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Diện
tích nuôi trồng thủy sản năm 2001 là 993.264 ha trong đó diện tích nuôi nước
ngọt là 408.700 ha, diện tích nuôi mặn, lợ là 584.500 ha; Năm 2002 là
955.000 ha trong đó diện tích nuôi nước ngọt là 425.000 ha, diện tích nuôi
mặn, lợ là 530.000 ha. Do thay đổi cơ cấu và đối tượng nuôi trồng thủy sản đã
dẫn đến tăng nhanh sản lượng nuôi trồng thủy sản và đóng góp phần đáng kể
cho ngành chế biến hải sản xuất khẩu. Sản lượng thủy sản năm 2001 đạt
891.695 tấn, năm 2002 đạt 976.100 tấn, tăng 9,47% so với năm 2001.[1]
cá giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc…[5]. Đối với nuôi thủy sản nước ngọt, hình thức
nuôi lồng bè và kết hợp với khai thác cá trên sông đang ngày càng phổ biến. Hình
thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo được việc làm và tăng thu
nhập. Ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung đối tượng nuôi lồng chủ yếu là trắm cỏ
với quy mô lồng nuôi khoảng 12 – 24 m
3
, năng suất 450 – 600 kg/lồng. Ở các tỉnh
phía Nam đối tượng nuôi chủ yếu là cá basa, cá lóc, cá bống tượng và cá he. Nuôi
các đối tượng loài đặc sản có giá trị kinh tế cao như: ba ba, tôm càng xanh, cá sấu,
lươn, ếch…đang được mở rộng và làm tăng giá trị kinh tế của các mô hình nuôi
nước ngọt [1]. Về vấn đề nuôi tôm, trong thời gian qua, diện tích và sản lượng
tôm nuôi của nước ta liên tục tăng, số liệu được trình bày trong bảng sau đây:
Bảng 2.3: Diện tích và sản lượng từ năm 2003 đến năm 2005. [4].
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2000 324,1 93,5
2001 454,9 154,9
2002 509,6 186,2
2003 574,9 237,9
2004 598 281,8
2005 528,3 327,2
(Nguồn: Báo cáo thảo luận hội nghị đánh giá kết quả thực hiện chương trình
phát triển thuỷ sản giai đoạn 2000- 2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010)
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm ở nước ta vài năm trở lại đây trở nên bấp bênh,
môi trường nuôi ngày càng ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra thường xuyên và lây lan
trên diện rộng. Nguyên nhân của việc bùng phát dịch bệnh, năng suất thấp xuất
phát từ việc phát triển nuôi một cách tự phát, quy hoạch vùng nuôi không hợp lý
không đảm bảo cho sự phát triển bền vững.[7]
+ Diện tích nuôi nước lợ, mặn: 3.823,46 ha, đạt 92,51% so với kế hoạch gồm:
- Diện tích nuôi chuyên tôm: 1.424,3ha/2.430,2ha, đạt 58,61%;
- Diện tích nuôi xen ghép: 2.213,73ha/1.532,5ha, đạt 144,45%;
- Diện tích nuôi tôm chân trắng: 185,43ha/185,43ha, đạt 100%.
- Nuôi lồng nước lợ thực hiện được: 1.523 lồng đạt 152,30% .
Đến nay, diện tích nuôi xen ghép phát triển khá mạnh đạt 144,45 % so với kế
hoạch và tăng 45,21% so với cùng kỳ năm 2008, có được điều này là do bà con
/>6
-
ngư dân đã thấy được hiệu quả bền vững từ hình thức nuôi này. Năm nay một số
hồ nuôi tôm bỏ hoang đã được bà con ngư dân chuyển sang nuôi xen ghép như
Quảng Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà. Diện tích nuôi chuyên tôm giảm
mạnh chỉ đạt 58,61% so với kế hoạch vì chuyển sang nuôi xen ghép.
+ Về nuôi tôm chân trắng : Đến nay diện tích nuôi tôm chân trắng trên cát phát
triển khá mạnh đạt 185,43 ha, diện tích quay vòng 3 vụ đạt 237,85 ha. Diện tích
tăng là do hiệu quả từ việc nuôi tôm chân trắng mang lại. Tuy nhiên nuôi tôm
chân trắng đòi hỏi vốn đầu tư lớn và quy trình kỹ thuật khắt khe. Vừa qua tại
Phong Điền một số hộ nuôi ở xã Điền Hương và Phong Hải đã xảy ra hiện tượng
tôm chết khi mới nuôi gần hai tháng là do chất lượng con giống và quy trình kỹ
thuật chưa đảm bảo. Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản đã nhiều lần nhắc nhở chính
quyền địa phương và người nuôi phải có ao xử lý nước cấp và nước thải nhưng
chưa được sự quan tâm đúng mức của chính quyền và bà con.
+ Về diện tích nuôi nước ngọt đến nay: 1.846,79ha/1.838,64ha, đạt
100,44%. Trong đó nuôi chuyên cá 1.599,61 ha, nuôi cá - lúa 229,08 ha và
nuôi cá – sen 18,1 ha. Riêng cá lồng đã đưa vào nuôi 2.155 lồng đạt gần
90,32% so với kế hoạch
.
* Về sản lượng thu hoạch:
Tổng sản lượng thu hoạch đến thời điểm hiện nay là 6.762,65 tấn đạt 79,56%
[6]. Trong đó:
Bình quân năng suất của
tôm sú và chân trắng.
6 Doanh nghiệp 11,00
Nuôi tôm chân trắng trên
cát
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế)
2.3.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản xã Lộc An và Lộc Điền .
Trong những năm gần đây dưới sự chỉ đạo phát triển của ủy ban nhân dân
xã Lộc Điền và Lộc An tình hình nuôi trồng thủy sản của hai xã đã có những phát
triển đáng kể, diện tích và sản lượng không ngừng tăng lên, trong đó xã Lộc Điền
có diện tích 179 ha đạt 106,5% kế hoạch tăng 11 ha so với năm 2008, năng suất
bình quân ước tính đạt 1 tấn/ha sản lượng nuôi trồng 179 tấn tôm, cá các loại đạt
91,66% kế hoạch giá trị sản xuất ước 8,8 tỷ đồng, diện tích tôm bị bệnh chết 24,5
ha chiếm tỷ lệ 15,31%. Lộc An nuôi trồng thủy sản chủ yếu là nuôi cá nước ngọt
năm 2009 tổng diện tích nuôi là 67,1 ha trong đó có 50,4 ha là nuôi cá nước ngọt;
31,4 ha nuôi cá; 31,7 ha nuôi cá lúa; 3,9 ha là sen cá; riêng nuôi cá lồng có 67 lồng
chủ yếu là trắm cỏ, diện tích nuôi tôm là 16,7 ha. Đối với cá nuôi ao cho năng suất
0,9 tấn/ha, đối với cá lồng năng suất bình quân 0,25 tấn/lồng. Sản lượng nuôi
trong năm qua đạt 143 tấn tôm, cá trong đó tôm 17 tấn còn lại là cá, tổng giá trị
sản xuất ước tính 5,8 tỷ đồng đạt 89,78% kế hoạch.[10][12]
/>8
-
Nhìn chung ở hai xã Lộc Điền và Lộc An đang có những chuyển biến tích
cực trong nuôi trồng thủy sản đem lại thu nhập đáng kể, đạt được thành công
trong xóa đói giảm nghèo cho nhân dân. Ở đây, nhiều mô hình nuôi thủy sản
thành công ngày càng nhiều, điển hình là [8]:
Bảng 2.5 Danh sách các hộ nuôi thủy sản điển hình của huyện phú Lộc
T Đơn vị Hộ nuôi DT
(ha)
Vụ 1 Vụ 2 Cả năm
Theo nguồn báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2009 của
hai xã Lộc Điền và Lộc An gửi Ủy ban nhân dân huyện Phú Lộc đã chỉ ra
những thuận lợi và khó khăn chung trong nuôi trồng thủy sản :[10][12]
* Thuận lợi :
- Có định hướng, chủ trương và kế hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản của
huyện và xã.
- Có sự quan tâm và ưu tiên và đầu tư đúng mức của các cấp lãnh đạo và các ban
ngành liên quan.
/>9
-
- Có nhiều diện tích cho nuôi trồng thủy sản.
- Điều kiện tự nhiên thích hợp cho nuôi tôm , cá.
- Người dân đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong ngăn chặn dịch bệnh và bảo vệ
môi trường nuôi trồng thuỷ sản. Ý thức vai trò và trách nhiệm của cộng đồng cao.
* Khó khăn :
- Vấn đề ao lắng, ao xử lý nước cấp vào ao chưa được quan tâm.
- Hệ thống xử lý nước thải còn chưa kiểm soát được.
- Vốn đầu tư hạn chế, ngư dân thiếu vốn đầu tư cho vụ nuôi.
- Dịch bệnh xảy ra nhiều.
- Thị trường đầu ra không ổn định.
- Môi trường ngày càng ô nhiễm.
- Giá cả vật tư cao.
- Cán bộ hợp tác xã còn ít, năng lực không đồng đều, tính năng động còn hạn
chế.
- Trình độ hiểu biết của người dân về nuôi trồng thuỷ sản còn thấp, một số người
còn mang hệ tư tưởng bảo thủ.
Những khó khăn đó xuất phát từ.
* Nguyên nhân :
- Đời sống người dân còn nghèo
- Thiếu giống thủy sản
nuôi trồng của hai xã và tìm ra mô hình nuôi hiệu quả.
- Xác định nguyên nhân, đề xuất một số giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu
quả sản xuất.
3.5. Phương pháp nghiên cứu.
3.5.1. Phương pháp điều tra.
a. Thu thập thông tin thứ cấp:
Tiếp cận nguồn cơ sở dữ liệu thống kê về nuôi trồng thuỷ sản của các tổ
chức tại địa bàn điều tra bao gồm: Phòng nông nghiệp huyện Phú Lộc, Uỷ ban
Nhân dân xã tiến hành nghiên cứu.
b. Thu thập thông tin sơ cấp:
Phỏng vấn trực tiếp các hộ tham gia nuôi trồng thuỷ sản bằng bảng hỏi điều
tra thiết kế sẵn.
c. Phương pháp chọn mẫu điều tra.
Chọn phỏng vấn 10% số hộ trong danh sách tổng các hộ nuôi trồng thuỷ
sản ở mỗi xã đảm bảo tính đại diện cho tổng số mẫu.
d. Phương pháp tổ chức thực hiện điều tra.
Điều tra thí điểm: Xây dựng bộ bảng hỏi điều tra với trên 30 chỉ tiêu điều tra.
Dùng bản hỏi điều tra thí điểm ngẫu nhiên một số hộ nuôi trong danh sách được
/>12
-
cung cấp, lấy kết quả đối chiếu với mục tiêu và nội dung nghiên cứu. Trên cơ sở
đó điều chỉnh bộ bảng hỏi lần cuối để tiến hành điều tra chính thức.[2]
Điều tra chính thức: Chọn ngẫu nhiên số hộ nuôi trồng thủy sản tương ứng với
10% tổng số hộ nuôi tại mỗi xã để điều tra.
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng hộ bằng bộ bảng hỏi điều tra hoàn chỉnh.
3.5.4. Phương pháp xử lý số liệu.[3]
Số liệu thu được sẽ được tập hợp và xử lý bằng phần mềm xử lý số liệu
Excell 2003.
/>13
bán sơn địa gò đồi, đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.
/>14
-
4.1.1.2. Địa hình:
Địa hình xã Lộc Điền khá thuận lợi, tổng chiều dài của xã 7 km, với tổng
dân số 16.161 người. Tổng diện tích tự nhiên là 11.586,14 ha, trong đó diện tích
nuôi trồng thủy sản 220 ha, diện tích đất nông nghiệp 10.384 ha. Xã có phần diện
tích nằm trong vùng đầm phá rộng cho nên ở đây đang phát triển nhiều mô hình
nuôi trồng thủy sản nước mặn, là lợi thế phát triển kinh tế của vùng.[11]
Lộc An với tổng chiều dài 5km cùng số dân 13.584 người, diện tích tự
nhiên là 2.705 ha, trong đó tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 67,1 ha. Địa hình
của Lộc An với lợi thế bằng phẳng đất đai màu mỡ nhiều ao hồ thuận lợi cho nuôi
cá nước ngọt và các hình thức nuôi xen ghép nước ngọt. Tuy nhiên phần diện tích
đầm phá lại nhỏ hẹp cho nên nuôi trồng thủy sản nước mặn chưa đem lại thu nhập
cao.[9]
Lộc Điền và Lộc An là hai xã thuộc vùng đất cát đầm phá, vùng trũng do
ảnh hưởng thuỷ triều của phá Cầu Hai, là vùng nằm ở trung tâm đầm phá, có tính
đại diện cho cả vùng, có quy mô vừa phải và có qui hoạch rõ ràng.
4.2. Thực trạng tình hình nuôi trồng thủy sản tại xã Lộc Điền và Lộc An:
4.2.1 Đặc điểm hộ điều tra.
Kết quả điều tra 10% hộ nuôi thuỷ sản tại mỗi xã Lộc Điền và Lộc An,
trong đó có 24 hộ ở Lộc Điền và 24 hộ ở Lộc An, tổng cộng chúng tôi đã điều tra
48 hộ đã cho thấy sự đa dạng về tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm nuôi tôm,
cũng như số lượng ao nuôi. Một số đặc điểm chủ yếu của các hộ điều tra được
trình bày ở các thành phần sau:
* Về độ tuổi lao động :
Đa số các chủ nuôi thủy sản ở đây có độ tuổi từ 40 trở lên chiếm phần lớn, số
người tham gia lao động thủy sản của xã Lộc An có độ tuổi trung bình trẻ hơn ở
xã Lộc Điền, điều đó cho thấy hiện nay ở Lộc An đang có xu hướng thanh niên trẻ
ngày càng tham gia nhiều hơn đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đó là một thế
* Về tỷ lệ người lao động:
Từ sơ đồ bảng vẽ chúng ta nhận thấy tỉ lệ lao động giữa nam và nữ của hai
xã là đồng đều. Trong mỗi gia đình có một lao động nam tham gia lao động thủy sản
thì cũng có một nữ tham gia. Điều này đã chứng minh được vai trò của người phụ nữ
trong nuôi trồng thủy sản, họ ngày càng tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực này.
* Về các vấn đề khác :
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu điều tra
Các chỉ tiêu
Xã Lộc An Xã Lộc Điền
Số hộ Chiếm (%) Số hộ Chiếm (%)
Số năm kinh
nghiệm
10 1 4,17 4 16,67
11 0 0 1 4,17
15 0 0 3 12,50
3 3 12,50 1 4,17
4 3 12,50 2 8,33
5 5 20,83 3 12,50
6 4 16,67 4 16,67
7 1 4,17 4 16,67
8 4 16,67 2 8,33
9 3 12,50 0 0
Tập huấn
Không 18 75 16 66,67
Có 6 25 8 33,33
Đánh giá của
người dân
Rất nhiều 2 33,33 5 62,50
Nhiều 3 50,00 3 37,50
nhiều lớp tập huấn phổ biến kỹ thuật cho các hộ nuôi, như thế sẽ nâng cao được
trình độ tay nghề của người ngư dân hơn.
/>19
-
4.2.2.Thực trạng về ao nuôi và tình hình cải tạo ao trước khi nuôi.
Bảng 3.2 : Thực trạng ao nuôi và tình hình cải tạo ao nuôi
Các thông số
Lộc An Lộc Điền
Số hộ
Tỷ lệ
(%)
Số hộ
Tỷ lệ
(%)
Cải tạo ao
Không 3 13,04 1 10
Có 20 86,96 9 90
Thời gian cày đáy
( ngày )
1 4 16,67 1 4,17
2 12 50,00 8 33,33
3 8 33,33 15 62,50
Thời gian phơi đáy
(ngày)
2 3 12,50 1 4,17
3 9 37,50 1 4,17
4 7 29,17 1 4,17
5 4 16,67 7 29,17
6 0 0,00 1 4,17
7 1 4,17 13 54,17
/>20
-
ao chứa lắng không đủ nước để cấp cho tất cả các ao nên họ không thiết kế ao
lắng. Qua điều tra không có hộ nào trong 48 hộ nuôi của hai xã có ao lắng. Như
thế nước được đưa trực tiếp vào ao nuôi khi thay và cấp nước thì có thể kéo theo
mầm bệnh, và các chất thải ô nhiễm khác không có lợi cho sức khoẻ của động vật
nuôi sẽ làm ảnh hưởng đến năng suất vụ nuôi.
Thời gian cải tạo ao tuỳ điều kiện thời tiết và tuỳ vào sự quản lý của người
kỹ thuật trong trại nuôi mà có thời gian từ 2 - 10 ngày. 90% hộ nuôi ở Lộc Điền
và 86,96% hộ nuôi ở Lộc An cải tạo ao kỹ trước khi thả giống với các công đoạn
như nạo vét bùn đáy, phơi khô ao và đặc biệt các hộ đã chú trọng khử trùng vôi và
diệt tạp, loại vôi được sử dụng phổ biến là vôi sò và vôi nông nghiệp. Liều lượng
sử dụng vôi tuỳ vào độ chua của ao, vào từng khu vực nuôi. Kết quả điều tra được
thể hiện ở bảng:
Bảng 3.3 Các hoá chất khử trùng và diệt tạp sử dụng ở các hộ điều tra
Các hóa chất sử dụng Số hộ Tỷ lệ (%) Liều lượng sử dụng
Dolomit 16 33,33 40-60kg/1000m
2
- Vôi 48 100,0 20-40kg/500 m
2
Hoá chất diệt tạp (Chlorine) 24 50% 15-30 ppm
Chất diệt tạp được sử dụng phổ biến là Chlorine, đây là hoá chất hữu
hiệu để diệt các loài cá tạp trong ao nuôi. Tuy vậy người dân chưa ý thức
được tác hại của những hoá chất sử dụng, làm trơ nền đáy, gây tác hại lâu dài
về sau. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, các kiến thức cơ bản cho
người nuôi nên được tiến hành thường xuyên, thực sự mang lại lợi ích cho
người dân. Đây là nền tảng để góp phần thành công trong phát triển nuôi
trồng thủy sản bền vững, an toàn và hiệu quả.
4.2.3 Nguồn nước cấp và biện pháp xử lý nước.
Bảng 3.4 : Nguồn nước và biện pháp xử lý nước
- Vôi nông nghiệp, hạt mát, chlorine 12 25,0
- Rubi, Dolomite, Vitamin C, Rỉ đường, BKC,
phân vi sinh
2 4,17
- CKC, Chlorine 6 12,5
- NPK 8 16,67
- CaCO3 2 4,17
- Các loại hỗn hợp khác ( Saponine, kazeolite,
zeolite,…)
10 20,83
Liều lượng sử dụng
- Các loại vôi (20-40kg/sào) 48 100,0
- Dolomite (10-15 kg/sào) 6 12,5
- Các hoá chất diệt tạp (chlorine, saponine,hạt
mát): 1-5 kg/sào
13 27,08
- Super canxi (10-20 kg/sào) 2 4,17
- NPK (2-4 kg/sào) 8 16,67
- BKC, CKC (0.3-0.5 lít/sào) 1 2,08
- Kazeolite, Zeolite (3-5 kg/sào) 1 2,08
Chất gây màu nước
- Phân vô cơ 46 95,83
- Khác (cám, bánh dầu, mắm cá, nước mắm…ủ với men) 2 4,17
Nhìn chung các chủ ao nuôi thuỷ sản tại xã Lộc Điền và Lộc An có trình
độ học vấn ở mức thấp, đa số có trình độ từ cấp 1, 2 là chủ yếu. Chỉ có 29,17% hộ
nuôi ở Lộc Điền 16,67% hộ nuôi ở Lôc An đã học hết cấp 3 và có 4,17% hộ
không biết chữ, 8,33% hộ chỉ biết đọc, đều nằm ở xã Lộc Điền. Với trình độ học
vấn như vậy người dân sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận khoa học kỹ
thuật, tiếp nhận thông tin và phát triển sản xuất, cũng như nhận thức của người
2
) Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)
- 1000 - 2000 15 62,5 12 50
- 2100 - 3000 6 25 8 33,33
> 3000 3 12,5 4 16,67
Diện tích ao nuôi tại hai xã Lộc Điền và Lộc An rất đa dạng, dao động từ
1.000 – 10.000m
2
. Trong đó ao có diện tích nhỏ từ 1.000 – 2.000m
2
có 27/48 hộ ,
ao có diện tích từ 2100 – 3000 có 9/48 hộ, còn lại là các ao >3000m
2
phù hợp với
hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến. Đáy ao nuôi đa số là bùn cát
hoặc cát bùn (86,5%) là môi trường đáy thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển
của tôm. Một số ao chỉ toàn bùn, cát hoặc đất sét (13,5%) thích hợp đối với môi
trường nuôi cá nước ngọt, đa số các hộ này thuộc xã Lộc An nơi có nhiều hộ nuôi
cá trắm cỏ, mè, chép...ở dạng ao và lồng, riêng lồng chỉ có 2,2 ha.
* Đối tượng nuôi
/>25