nghiên cứu tác dụng cầm máu tại chỗ vùng cho da và vết thương phần mềm của bột cao khô tiên hạc thảo - Pdf 20


ĐẶT VẤN ĐỀ
Bỏng và tổn thương mất da vẫn là chấn thương thường gặp trong thời
bình và thời chiến. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bỏng đứng hàng thứ ba trong
chấn thương. Hàng năm, số người bị bỏng tại Hoa Kỳ khoảng 1 – 2 triệu
người, tại Pháp là khoảng 200.000 – 300.000 người. Theo Lê Thế Trung,
Orlov A.N, trong thời bình bỏng chiếm tỷ lệ từ 5 – 10% số bệnh nhân chấn
thương ngoại khoa [35]. Tai nạn giao thông là nguyên nhân gây tổn thương
phần mềm chiếm tỷ lệ cao nhất [26]. Theo thống kê của ủy ban Quốc gia
phòng chống tai nạn thương tích cho thấy: ở Việt Nam, tai nạn thương tích
đang nổi lên như là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các bệnh viện trong
10 năm gần đây (với khoảng 40 người chết và 70 người bị thương tật vĩnh
viễn hàng ngày) [1]. Hơn nữa, khả năng ô nhiễm vết thương phần mềm rất
cao do đặc điểm của vết thương hở, tổn thương đụng dập trực tiếp, chảy máu,
tiếp xúc với đất cát… Đây chính là trở ngại cho quá trình liền vết thương [26].
Hai loại tổn thương này, đặc biệt là vết thương bỏng sâu có thể gây mất dịch,
huyết tương, điện giải, máu, các yếu tố miễn dịch…nếu kéo dài sẽ dẫn đến
tình trạng suy mòn. Do đó, trong điều trị hiện nay ghép da tự thân che phủ
sớm sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ cứu sống bệnh nhân bỏng nặng và mất da do
tai nạn. Để đảm bảo phẫu thuật thành công, việc chọn thời điểm phẫu thuật,
hạn chế thời gian mất máu trong phẫu thuật, chuẩn bị nền ghép và che phủ
sớm là những yếu tố quan trọng [12],[35]. Theo Marano M.A và cộng sự
(1990), cứ 1% diện tích bỏng được cắt bỏ, số lượng máu mất từ 172 – 616 ml
tùy theo vị trí và thời điểm tiến hành phẫu thuật [65]. Để hạn chế lượng máu
mất trong phẫu thuật các biện pháp thường được sử dụng như ga rô chi thể,
đốt điện, sử dụng các dung dịch cầm máu tại chỗ như Thrombin,

Epinephrine… Thuốc có tác dụng cầm máu có nguồn gốc từ thảo dược chưa
được nghiên cứu sử dụng nhiều trong phẫu thuật ghép da điều trị bỏng sâu
cũng như vết thương mất da.
Tiên hạc thảo (Tên khoa học: Agrimonia nepalensis D.Don) là cây thuốc

thiệt hại do bỏng gây ra rất lớn, chi phí điều trị cao và bỏng sâu sẽ để lại di
chứng nặng nề về thẩm mỹ, chức năng, tâm lý.
Theo thống kê ở Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 1,0 – 2 triệu người bị bỏng
(khoảng 1% dân số), trong số này có khoảng 70.000 đến 108.000 phải vào
bệnh viện điều trị và tử vong mỗi năm từ 6.500 đến 12.000 người; ở Nga
(Liên Xô cũ) số người bị bỏng phải vào điều trị hàng năm khoảng 170.000; ở
Anh số đó khoảng 140.000; ở Pháp khoảng 200.000 đến 300.000 bị bỏng và
số vào điều trị hàng năm là 10.000 đến 15.000; ở Nhật Bản số bệnh nhân điều
trị các chuyên khoa bỏng khoảng 5.000 người hàng năm [28],[36].
Ở Việt Nam, số bệnh nhân bỏng hàng năm thống kê được có xu hướng
ngày càng tăng. Tại Viện Bỏng Quốc Gia, số bệnh nhân bỏng vào điều trị
năm 1994 là 1212 người và năm 2003 đã là trên 5000 người [39]. Trong đó tỷ
lệ tử vong chiếm từ 1 – 2% và để lại di chứng nặng nề cho bệnh nhân và xã
hội.
Vết thương phần mềm cũng chiếm tỷ lệ cao trong thời chiến và thời
bình. Trong chiến tranh, do việc sử dụng rộng rãi các loại vũ khí gây sát
thương hàng loạt nên vết thương phần mềm chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các
tổn thương khác. Theo Lê Thế Trung (1984), trong chiến dịch Điện Biên Phủ,

vết thương phần mềm chiếm 78% tổng số các thương binh. Trong kháng
chiến chống Mỹ tại Miền Nam Việt Nam vết thương phần mềm chiếm 65 –
78% [26]. Trong thời bình, vết thương phần mềm vẫn ở tỷ lệ cao do tai nạn
giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt… xảy ra hàng ngày.
1.2. SINH LÝ CẦM MÁU - ĐÔNG MÁU
Cầm máu - đông máu là quá trình sinh lý rất phức tạp, liên quan chặt chẽ
và cùng nằm trong một quá trình là cầm máu nói chung. Cầm máu là tập hợp
những hiện tượng sinh lý, sinh hoá nhằm chấm dứt hoặc ngăn cản sự mất máu
của cơ thể khi mạch máu bị tổn thương hoặc bị đứt. Cầm máu có hai chức
năng quan trọng: đảm bảo máu lưu hành trong lòng mạch và ngăn cản máu
chảy ra ngoài khi thành mạch bị tổn thương. Cầm máu được thực hiện nhờ

calci, hydrolase acid, cathepsin, thromboxan A2 (gây ngưng tập và co mạch
tiếp) tạo thuận lợi cho kết tập tiểu cầu và sự bám dính tiếp theo, thúc đẩy sự
đông máu. Đồng thời thành mạch còn tổng hợp các phân tử giãn mạch như:
prostacyclin (PGI2 đối kháng TXA2) làm cho máu tuần hoàn không đông,
oxit nitric (NO) và những phân tử co mạch endothelin (ET1); các peptido -
leucotrien (LTC4, LTD4).
- Yếu tố tiểu cầu: Ngoài màng tiểu cầu có một lớp rất mỏng giàu
glycoprotein chứa các yếu tố V, VIII, XIII. Bào tương tiểu cầu chứa nhiều sợi
actomyosin, ATP, ADP, TXA2, các phospholipid đặc biệt tham gia vào cơ
chế đông máu. Tham gia quá trình cầm máu có 9 yếu tố tiểu cầu đánh số bằng

số Arập: Yếu tố TC1 (chuyển prothrombin thành thrombin; bản chất gần
giống yếu tố V của huyết tương); Yếu tố TC2 (đẩy nhanh fibrinogen thành
fibrin khi có thrombin); Yếu tố TC3 (có hoạt tính của thromboplastin); Yếu tố
TC4 (có hoạt tính antiheparin); Yếu tố TC5 là serotonin (gây co mạch và có
khả năng làm máu đông tại chỗ); Yếu tố TC6 (là một protein làm dày thành
mạch, giảm tính thấm thành mạch); Yếu tố TC7 (antifibrinolysin ức chế
plasmin); Yếu tố TC8 (retractozym co cục máu đông); Yếu tố TC9 (chất ổn
định fibrin).
Tiểu cầu có vai trò chính trong quá trình cầm máu sơ bộ. Các giai đoạn
của cầm máu sơ bộ:
+ Bám dính tiểu cầu (adhesion): Khi thành mạch bị tổn thương, làm bộc
lộ các sợi collagen ở dưới lớp nội mô và tế bào nội mô tiết yếu tố Willebrand
(VW: Von Willebrand) làm tiểu cầu dễ bám dính. Tiểu cầu có thể dính vào
các cấu trúc dưới nội mô khác như fibronectin, laminin, vitaminronectin. Sự
bám dính tiểu cầu xảy ra sau khi nội mạc mạch máu bị tổn thương vài giây.
+ Kết tập tiểu cầu (agregation): Tiếp ngay sau sự bám dính là hiện tượng
kết tập tiểu cầu. Chất gây kết tập tiểu cầu là TXA2, ADP. ADP được giải
phóng từ hồng cầu, tế bào nội mạc bị tổn thương và chính tiểu cầu. ADP cùng
TXA2 hoạt hoá các tiểu cầu ở gần, làm chúng dính vào những tiểu cầu đã

sinh. Cơ chế ngoại sinh xuất hiện khi có tổn thương thành mạch hoặc mô kế
cận. Cơ chế nội sinh xuất hiện nếu có sự tổn thương làm thay đổi hệ thống
máu hoặc khi lấy máu ra khỏi lòng mạch.

- Hoạt động của hệ thống nội sinh:
Sự hoạt hoá con đường nội sinh đông máu được phát động bởi sự có mặt
của 4 protein trên bề mặt tiếp xúc là: yếu tố XII, XI, Prekallicrein, HMWK –
giai đoạn này gọi là giai đoạn tiếp xúc. Khi máu tiếp xúc với sợi collagen
dưới nội mạc thành mạch tổn thương yếu tố XII chuyển thành XIIa. Sau đó
yếu tố XIIa sẽ hoạt hoá yếu tố XI, yếu tố XIa hoạt hoá tiếp yếu tố IX. Yếu tố
IXa sẽ tạo phức hợp với yếu tố VIII để hoạt hoá yếu tố X, cùng tham gia vào
quá trình này có phospholipit tiểu cầu (PL) và ion calci.
- Hoạt động của hệ thống ngoại sinh:
Hoạt động của hệ thống này bắt đầu là sự giải phóng thromboplastin tổ
chức bởi mô bị tổn thương làm hoạt hoá yếu tố VII. Yếu tố VIIa tác động theo
hai hướng: một là hoạt hoá yếu tố X với sự tham gia của PL tiểu cầu, ion calci
và thromboplastin tổ chức. Hai là hoạt hoá yếu tố IX, mà theo Hoffbrand A.V.
thì đây là con đường chủ yếu diễn ra ở in vivo.
Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh chậm hơn
rất nhiều (5-7 phút) so với cơ chế ngoại sinh. Phản ứng được thực hiện trong
điều kiện tối ưu khi nó xảy ra trên bề mặt tiểu cầu được kích thích, tiểu cầu
vừa là một nguồn phospholipid, vừa là một nguồn yếu tố V cố định trên
màng.
Yếu tố Xa từ hai con đường trên cùng yếu tố IV (Ca++), yếu tố V, PL
tạo thành phức hợp prothrombinase. Phức hợp này xúc tác phản ứng chuyển
prothrombin thành throbin, phản ứng xảy ra rất nhanh, được tính bằng vài
giây. Ngay sau đó thrombin chuyển fibrinogen thành fibrin, đồng thời
thrombin còn hoạt hoá yếu tố XIII thành XIIIa, XIIIa sẽ chuyển fibrinpolymer
chưa bền vững thành dạng bền vững. Cục máu đông hình thành sẽ bít chỗ
thành mạch tổn thương, hoàn thành quá trình cầm máu.



/,,,
+ +
-


/
,,,,
+,,
0
/,, /,,
0,
+,,,+,,,
12$34512$3$%"#67'404894

1.2.3. Tiêu fibrin (fibrinolyse)
Quá trình này xảy ra rất chậm, theo hai giai đoạn:
- Co cục máu: Sau khi cục máu đông được hình thành 20-30 phút, nó bắt
đầu co lại, co rõ rệt sau 1 giờ và co hoàn toàn sau 3 giờ. Sự co cục máu đông
được hoạt hoá bởi thrombin và ion calci của yếu tố tiểu cầu. Khi cục máu co
lại, các mép của vết thương thành mạch được kéo lại gần nhau, giúp cho vết
thương dễ sẹo hoá.
- Cục máu tan: dưới tác dụng của plasmin, mạng lưới fibrin bị cắt thành
những mảnh không thể tái tạo được [3],[15],[29],[30],[44],[56].
1.2.4. Cân bằng đông máu – tan máu
Trong máu và trong các mô có chứa khoảng 50 chất có ảnh hưởng đến
quá trình đông máu, gồm các chất gây đông máu và các chất chống đông máu.
Máu trong cơ thể ở dạng lỏng do có sự cân bằng giữa các chất gây đông máu
và các chất chống đông máu. Đông máu và tan máu là hai quá trình thống

tạo thành.

- Lớp hạ bì có tổ chức mỡ dày có vai trò đệm đỡ và tạo hình dáng cơ thể,
là nguồn dự trữ và cung cấp năng lượng cho cơ thể.
Về chức năng, da có 2 lớp với đặc tính liên kết chặt chẽ và biệt hoá cao.
Biểu bì gồm: lớp nền, tế bào gai, tế bào hạt và lớp sừng, tạo ra hàng rào ngăn
cản sự bốc hơi và xâm nhập vi khuẩn. Trung bì tạo ra sự bền vững và đàn hồi
của da. Lớp biểu bì mỏng tự thay thế một cách hằng định từ lớp mầm của nó,
tế bào sừng mất 4 tuần hình thành tế bào không chân chứa keratin để tạo ra
lớp hạt và lớp sừng làm nên hàng rào chức năng của thượng bì. Lớp nền của
thượng bì gắn chặt chẽ với trung bì bởi cấu trúc liên kết phức hợp có chứa
collagen type IV và VII [12].
1.4. TỔN THƯƠNG BỎNG
1.4.1. Độ sâu của tổn thương bỏng
Chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng chính xác sẽ góp phần tiên lượng
bỏng và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có trên 70 tác giả
đề xuất hơn 25 cách phân loại độ sâu của tổn thương bỏng dựa trên lâm sàng,
tiến triển, giải phẫu bệnh học. Từ năm 1965, khoa bỏng, Viện Quân Y 103
(hiện nay là Viện Bỏng Quốc gia) đã áp dụng cách phân loại theo 5 độ sâu
bỏng của Lê Thế Trung:
Bỏng độ I (viêm da cấp): tổn thương tới lớp nông của thượng bì biểu
hiện da vùng bỏng khô đỏ, nề, đau rát, tổn thương sau 2 – 3 ngày khỏi, lớp
nông của biểu bì bong ra không để lại dấu vết gì.
Bỏng độ II (bỏng biểu bì): lớp tế bào mầm còn nguyên vẹn. Trên nền da
viêm cấp có các nốt phổng chứa dịch trong hay vàng nhạt, thời gian xuất hiện
có thể muộn (từ 12 giờ - 24 giờ sau bỏng), đáy nốt phổng có màu hồng ánh
ướt và thấm dịch xuất tiết. Trên mô bệnh học thấy các mạch máu trung bì, hạ
bì giãn rộng, mao mạch lớp nhú ứ huyết, huyết tương thấm qua thành mạch,

bóc tách các lớp tế bào biểu bì tạo thành nốt phổng. Sau 3 – 4 ngày, hiện

Chẩn đoán độ sâu bỏng: Chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng dựa vào các
triệu chứng tại chỗ trên lâm sàng (hình thái nốt phổng, màu sắc hình thái hoại
tử, xung huyết phù nề vết bỏng…), có thể tiến hành một số nghiệm pháp như:
thử cảm giác đau (cặp rút lông, châm kim vùng bỏng, thử nóng, lạnh…). Một
số phương pháp chẩn đoán độ sâu bỏng khác: khi làm thủ thuật rạch các đám
hoại tử, nhìn không thấy máu chảy, bệnh nhân không đau khi rạch là bỏng sâu
độ IV, V.
Ở Việt Nam, phương pháp chẩn đoán độ sâu bỏng là chẩn đoán lâm
sàng với những bác sỹ chuyên khoa có nhiều kinh nghiệm, nó vừa đảm bảo
tính chính xác, vừa nhanh, vừa đơn giản phù hợp với quá trình điều trị [28],
[35], [36].
1.4.2. Điều trị vết thương bỏng sâu bằng ghép da
Ghép da là dùng mảnh da ghép che phủ lên vùng tổn khuyết. Phương
pháp lấy da: hiện nay phổ biến là cách lấy da bằng các dao lạng da có định
mức chiều dày (Lagrot, Humby…), các dao lấy da chạy bằng điện (Electro
dermatome), dao lấy da Padgett. Chiều dày mảnh da lấy từ 0,15 – 0,7 mm và
diện tích lấy da 1 lần có thể được 5 – 10% diện tích cơ thể [14]. Phân loại
ghép da:
- Theo nguồn gốc da ghép người ta chia ra: ghép da tự thân, ghép da
đồng loại, ghép da dị loại.
- Theo chiều dày mảnh da ghép chia ra 2 loại là: ghép da mỏng, ghép da
dày toàn bộ.

- Theo nuôi dưỡng gồm: ghép da tự thân mảnh tự do, ghép da tự
thân có cuống.
- Theo kích thước gồm: ghép da mảnh lớn, ghép da kiểu tem thư và ghép
da kiểu mắt lưới.
- Theo nền ghép gồm có: ghép da sau cắt hoại tử và ghép da trên mô hạt.
Trong đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu vùng cho da và ghép da tự
thân, tự do mảnh mỏng, kiểu mắt lưới.

bình thường. Do quá trình tái tạo và phục hồi chậm hơn vùng cho da mỏng
nên muốn lấy lại lần 2 người ta phải đợi sau 2 – 3 tuần kể từ khi lấy da lần thứ
nhất. Vùng cho da nếu bị khuyết sâu thường lâu liền và phải ghép da bổ xung
[4],[35].
Để vết thương vùng cho da liền thuận lợi: sử dụng các vật liệu che phủ
thông thường. Vùng cho da mảnh mỏng thường dùng gạc Vaselin để đắp vết
thương.
Leicht P. và cộng sự nghiên cứu màng Omiderm thấy thời gian liền vết
thương vùng cho da mất từ 9 – 12 ngày, màng Duoderm mất từ 7 – 10 ngày
[63]. Ebbehoi J. và cộng sự nghiên cứu gạc Jelonet là gạc lưới cotton nhúng
ướt trong Parafine thấy thời gian liền vết thương vùng cho da là 11 ngày[49].
1.5. ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM.
Nội dung điều trị VTPM bao gồm rạch rộng và cắt lọc vết thương, lấy bỏ
dị vật, loại bỏ khối máu tụ và khoảng chết, tưới rửa vết thương dưới áp lực, sử
dụng kháng sinh, đóng kín vết thương.

- Rạch rộng và cắt lọc vết thương: vết thương có mô chết là môi trường
thuận lợi để vi khuẩn tồn tại và phát triển, làm giảm sức đề kháng của cơ thể
tại vết thương do ức chế thực bào của bạch cầu đối với vi khuẩn. Do vậy, vết
thương cần được rạch rộng để cắt lọc triệt để, loại bỏ hoàn toàn mô chết và
những mô dập nát có nguy cơ hoại tử về sau.
- Lấy bỏ các dị vật: trong vết thương phần mềm bao giờ cũng có những
dị vật như: đất, cát, mảnh đá, gỗ, mảnh áo quần, mảnh kim khí do chính bản
thân bệnh nhân đưa vào (thuốc lào, tàn thuốc lá, tàn giấy báo…) là những
nguyên nhân ô nhiễm vết thương, gây nhiễm khuẩn nặng cần được lấy bỏ hết.
- Loại bỏ khối máu tụ và khoảng chết: Máu tụ và khoảng chết tại vết
thương đều có khả năng thúc đẩy nhiễm khuẩn. Máu tụ hình thành thường do
các chấn thương mạnh làm dập nát cơ, tổn thương các mạch máu, một ổ máu
tụ tồn tại rất dễ bị nhiễm khuẩn và phát triển thành ổ áp xe sau này. vì vậy,
trong phẫu thuật kỳ đầu cần phải rạch rộng, lấy hết máu tụ, cầm máu kỹ và

sinh lý của huyết [29],[31],[34].
Khí huyết tân dịch liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại chuyển hoá
lẫn nhau, khí là “cha” của huyết nên khí sinh huyết, hành huyết và nhiếp
huyết; huyết là “mẹ” của khí nên huyết vận hành sinh khí, khí tồn tại trong
huyết, huyết cung cấp tinh vi thuỷ cốc là cơ sở vật chất chủ yếu để duy trì
công năng tạo thành khí tạng phủ kinh lạc. Huyết giữ gìn che chở cho khí, khí
cần dựa vào huyết để yên ổn vậy nên huyết mang theo khí, khí thúc đẩy vận
hành huyết tuần hoàn khắp toàn thân. Tân dịch và huyết dịch có nguồn gốc từ

tinh vi thuỷ cốc nên gọi là “ tân huyết đồng nguyên ”, huyết dịch trong mạch
ngấm ra ngoài mạch thành tân dịch nhu nhuận toàn thân, tân dịch ngấm vào
tôn lạc góp phần tạo nên huyết dịch. Để huyết dịch vận hành bình thường thì
huyết dịch cần phải đầy đủ, mạch phải hoàn chỉnh và thông suốt, tạng phủ
toàn thân phải phát huy chức năng sinh lý bình thường [29],[31][34].
1.6.2. Quan niệm của y học cổ truyền về xuất huyết
Y học cổ truyền cho rằng, xuất huyết là một chứng do nhiều bệnh, nhiều
cơ chế sinh bệnh gây nên mà kết quả là làm cho huyết mạch bị tổn thương
hoặc sự lưu thông huyết dịch trong lòng mạch không thông thoát bình thường,
dẫn đến huyết đi không đúng đường, tràn ra ngoài mạch gây xuất huyết. Theo
y học cổ truyền có 3 nhóm nguyên nhân chính gây chảy máu: huyết ứ, huyết
nhiệt và tỳ hư [6],[29],[33],[44]:
- Chảy máu do nguyên nhân huyết ứ: Huyết ứ là tình trạng huyết dịch
đình trệ không lưu thông, đình tích ở tạng phủ kinh lạc. Huyết ứ chủ yếu do
mạch đạo bị tổn thương huyết dịch tràn ra gây xuất huyết và tích trệ ở bên
ngoài mạch. Đồng thời, huyết dịch trong lòng mạch lưu thông không thông
thoát gây ứ trệ lại. Nguyên nhân có thể do vết thương, hoặc do hàn nhiệt thất
thường. Hàn tính ngưng trệ gây ứ, nhiệt thì hun đốt huyết dịch làm cho huyết
dịch khô thiếu, đặc quánh kém lưu thông thành ứ hoặc do chức năng của khí
huyết tạng phủ thương tổn hoặc bị trở ngại…
- Chảy máu do nguyên nhân huyết nhiệt: Chảy máu do huyết nhiệt chỉ


- Thuốc ôn kinh, chỉ huyết: thuốc ôn kinh, chỉ huyết thường dùng trị
chứng xuất huyết thể hư hàn, tỳ hư không thống huyết, thường dùng với các
thuốc ích khí kiện tỳ để chữa các chứng chảy máu kéo dài do một số nguyên
nhân và bệnh mạn tính, rong kinh kéo dài. Các vị thuốc ôn kinh, chỉ huyết
thường dùng như: Ô tặc cốt, Ngải cứu, Phục long can…
1.7. MỘT SỐ CÂY THUỐC VÀ BÀI THUỐC CÓ TÁC DỤNG CẦM MÁU
1.7.1. Một số cây thuốc có tác dụng cầm máu
Từ cổ xưa đến nay có rất nhiều cây thuốc có tác dụng cầm máu được sử
dụng một cách rộng rãi, dưới đây là một số cây thuốc cầm máu hay dùng [2],
[7],[9],[19],[27],[33],[40]:
- Cây Tam thất (Panax pseudo-gíngseng Wall).Tên khác: Nhân sâm tam
thất, Sâm tam thất, Kim bất hoán. Họ: Ngũ gia bì.
Công dụng: Tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn. Có tác dụng hành ứ
chỉ huyết, dùng để chữa thổ huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu. Tam thất còn
được dùng trong trường hợp chảy máu, sưng đau do ứ huyết, dùng ngoài có
tác dụng cầm máu tại chỗ.
- Cây Ngải cứu (Artemisia vulgaris L).Tên khác: Thuốc cứu, Nhả ngải.
Họ: cúc.
Công dụng: Ngải cứu vị đắng, tính ấm, tác dụng ôn kinh chỉ huyết, an
thai, cầm máu chữa rong kinh, rong huyết do tỳ vị hư hàn không thống huyết.
- Cây Cọ cảnh (Trachycarpur fortunei(Hook.f.).Tên khác: Bẹ móc, Tông
lư. Tông bản (cuống lá), Tông lư tử (quả), Tông lư căn (Rễ). Họ cau.
Công dụng: vị đắng chát, tính bình, chữa nôn ra máu, chảy máu cam,
băng huyết, rong huyết, ngoại thương xuất huyết.

- Cây Cỏ nến (Ty pha angusstata B. et chaub.). Tên khác: Bông nến, Bồn
bồn, Cọ giếng, Hương bồ thảo, Bồ hoàng. Họ: cỏ nến.
Công dụng: Hoa Cỏ nến có vị ngọt, tính bình, chữa thổ huyết, chảy máu
mũi, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt không đều, rong huyết.

trường hợp ho ra máu, xuất huyết tiêu hóa, lỵ ra máu, trĩ. Dùng với thạch cao
để chữa mụn nhọt, các vết thương vết loét.
- Cây hoa giẻ ( Desmos chinensis lour, Annonaceae). Tên khác: Vỏ giẻ,
Hoàng chỉ, Tửu tỉnh.
Công dụng: vị cay, tính ôn, dùng làm thuốc chữa thấp khớp, đau khớp,
đau dạ dày, đi lỏng, chảy máu không cầm được và tổn thương do ngã.
- Cây Tiên hạc thảo (Agrimonia nepalensis D.Don). Tên khác: Long nha
thảo, Lang nha thảo, Kim đỉnh long nha, Kim túc lang nha thảo… Họ Hoa
hồng.
Các vị thuốc nêu trên có thể dùng độc vị hoặc phối hợp với nhau trong
các bài thuốc cầm máu.
1.7.2. Một số bài thuốc có tác dụng cầm máu
Trong y học cổ truyền có rất nhiều bài thuốc cầm máu hay sử dụng,
chúng tôi xin nêu tóm tắt dưới đây một số bài thuốc hay sử dụng và hay được
nhắc đến [5],[6],[10],[19],[22],[27],[40],[41].
• Bài thuốc cầm máu (Nghiệm phương dân gian)

Hoa kinh giới: 12g Trắc bá diệp: 12g Cỏ nhọ nồi: 12g
Hoa bồ hoàng: 10g Bẹ móc: 10g Ngải cứu:10g
Tác dụng chữa rong huyết, nôn ra máu, đại tiện ra máu.
• Bách hợp: 30g. Giã tươi lấy nước uống.
Tác dụng chữa các triệu chứng đau ngực, thổ huyết.
• Tứ sinh thang. (cục phương).
Trắc bá diệp tươi: 20g Lá sen tươi: 20g
Lá ngải cứu tươi:12g Sinh địa: 12g
Tác dụng lương huyết, chỉ huyết. Chữa sốt nôn ra máu, chảy máu cam.
• Tiểu kế ẩm tử.
Sinh địa: 32g Tiểu kế: 12g Hoạt thạch: 16g
Mộc thông: 12g Ngẫu tiết: 12g Đạm trúc diệp: 12g
Trích thảo: 06g Đương quy: 06g Bồ hoàng sao: 12g


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status