1
Thủng ổ loét dạ dày tá tràng – Phần 1 I. Đại cương:
1. Thủng ổ loét dạ dày tá tràng là một biến chứng cấp tính của ổ loét dạ dày tá
tràng mạn tính (cũng có khi nguyên nhân gây thủng là do ung thư dạ dày, loét
miệng nối…
2. Hậu quả phổ biến của lỗ thủng này là tình trạng viêm phúc mạc cấp tính
(toàn thể hoặc khu trú) đòi hỏi phải được chẩn đoán và xử trí sớm. đôi khi ngay
sau khi thủng, lỗ thủng được mạc nối lớn, túi mật … đến bít lại và được gọi là
thủng dạ dày bít.
3. Việc chẩn đoán thủng dạ dày thường không khó khăn trừ thủng bít hoặc dễ
nhầm với 1 số trường hợp khác, Khi đã thủng dạ dày nếu được chẩn đoán sớm
và mổ sớm thì tỉ lệ tử vong thấp (<1%). Tuy nhiên nếu để muộn, tình trạng viêm
phúc mạc nặng thì tiên lượng xấu, tỉ lệ tử vong khá cao (10 – 15%).
4. Trong điều trị thủng dạ dày tá tràng luôn tuân theo nguyên tắc hồi sức và giải
quyết tình trạng viêm phúc mạc là chính, nếu có điều kiện mới đặt vấn đề điều
trị triệt căn (nguyên nhân).
2
5. Về mặt dịch tễ
- Giới: Nam > nữ (5/1)
- Tuổi: 20 – 50.
- Mùa : đông, xuân, rét.
- Sau khi ăn no, stress, sau dùng 1 số thuốc (corticoid, aspirin…)
- 90% xảy ra trên người có tiền sử loét dạ dày hành tá tràng.
II. Giải phẫu bệnh: Sgk
- Thường là một lỗ xuất hiện trên 1 ổ loét xơ chai, đôi khi trên một ổ loét
non hoặc một ổ loét ung thư.
+ Môi khô, lưỡi bẩn
- ở bệnh nhân hẹp môn vị: tình trạng toàn thân thường nặng do chất ứ đọng
tràn vào ổ bụng và vào máu gây nhiễm độc.
- Những bệnh nhân thủng dạ dày sau chụp baryt vào ổ bụng: nhiễm độc
nặng, suy thận nặng.
- Thực thể: Là những triệu chứng rất quan trọng nhất là trong những giờ
đầu.
- Nhìn:
+ Bụng không di động theo nhịp thở.
+ Hai cơ thẳng to nổi rõ.
- Sờ:
5
+ Bụng co cứng rõ và liên tục: có cảm giác bụng cứng như gỗ. co cứng nhất là
vùng trên rốn, sau đó lan khắp bụng.
+ ấn đau khắp bụng và trội lên ở vùng trên rốn.
+ Có cảm ứng phúc mạc.
*dấu hiệu co cứng và cảm ứng phúc mạc là những dấu hiệu quan trọng nhất.
Tuy nhiên nếu bệnh nhân đến muộn, dấu hiệu co cứng sẽ mất đi và thay vào
đó là bụng viêm phúc mạc: Chướng, phản ứng thành bụng và cảm ứng phúc
mạc toàn bộ.
- Gõ: bệnh nhân ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi.
+ Vùng đục trước gan mất: có giá trị trong những giờ đầu, nếu bệnh nhân đến
muộn, bụng chướng: khó thấy chính xác.
+ Đục ở vùng thấp: trường hợp muộn, bụng có dịch.
- Thăm trực tràng: túi cùng Douglas phồng, ấn đau: rõ khi bệnh nhân đến
muộn.
IV. Cận lâm sàng:
1. Xquang:
- Chiếu: có liềm hơi, cơ hoành di động kém. ít làm.
- Không có tiền sử loét dạ dày tá tràng.
- ít khi đau đột ngột dữ dội lúc khởi đầu mà thường âm ỉ, tăng dần và đau
khắp bụng.
- dấu hiệu nhiễm khuẩn có ngay từ đầu.
- Xquang: không có liềm hơi.
8
- Mức độ co cứng nhiều nhất ở hố chậu phải.
2) Viêm phúc mạc mật: thường nhầm với thủng túi mật do viêm:
- Đau và co cứng rõ nhất vùng hạ sườn phải.
- Sốt + rét run.
- Vàng da vàng mắt.
- Bilirubin máu cao.
- Nước tiểu: Muối mật, sắc tố mật (+).
- Siêu âm: Thành túi mật dầy, có sỏi, dịch quanh túi mật
3) Viêm tuỵ cấp: Bệnh cảnh lâm sàng của viêm tuỵ cấp (nhất là viêm tuỵ cấp
thể phù) rất giống với thủng dạ dày (bệnh nhân cũng có đau bụng dữ dội trên
rốn) nhưng có một số điểm khác biệt:
- ít có tiền sử loét dạ dày tá tràng. xuất hiện sau bữa ăn thịnh soạn.
- Bụng co cứng trên rốn nhưng thường không liên tục. Bụng vẫn có thể di
động theo nhịp thở.
- điểm sườn lưng (nhất là ở bên trái) ấn rất đau.
- Xquang không có liềm hơi.
9
- xét nghiệm: amylase máu và amylase niệu tăng rất cao (gấp 2 – 3 lần),
đường huyết tăng, canxi huyết giảm.
- siêu âm: thấy hình ảnh tuỵ viêm phù, mất bóng…
- có thể tiến hành bơm rửa ổ bụng, lấy dịch hút đem đi thử, tìm amylase
trong nước dịch này.
11
e. Viêm phúc mạc do thủng túi thừa Meckel:
- Khó chẩn đoán phân biệt trước mổ.
- Hội chứng viêm phúc mạc + hội chứng tắc ruột + ỉa phân đen.
6) Bệnh nội khoa khác:
- Nhồi máu cơ tim.
- Viêm phổi thuỳ đáy cấp.
- Cơn đau dạ dày cấp.
VI. Diễn biến: Sgk.