Báo cáo thực tập
Giải pháp phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế tại Chi nhánh
Ngân hàng công thương Hoàn
Kiếm LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới diễn ra
iều kiện cho phục vụ hoạt động xuất nhập 2
khẩu, hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần vào việc thực hiện đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước mà còn là một tất yếu quan trọng quyết định sự
tồn tại và phát triển của Ngân hàng trong cơ chế thị trường, giúp cho Ngân
hàng công thương Hoàn Kiếm sớm hội nhập với hệ thồng Ngân hàng trong
nước và thế giới.
Thanh toán quốc tế thực sự là phứ
c tập và còn nhiều tồn tại trong cơ chế
nghiệp vụ cũng như trong công tác tổ chức và thực hiện. Chính vì vậy, chúng
ta cần phải quan tâm nghiên cứu, tìm ra biện pháp khắc phục. Xuất phát từ
những vấn đề trên, em đã nghiên cứu đề tài:
“ Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh Ngân
hàng công thương Hoàn Kiếm”.
Bố cục của chuyên đề gồm có ba chương:
Chương I: Nh
ững vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế của Ngân hàng
thương mại.
Chương II: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh Ngân
hàng công thương Hoàn Kiếm.
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm.
Do còn có những hạn chế về kiến thức chuyên môn và thời gian thực tập
nên đề tài không thể không có những hạn chế thiếu sót. Em r
ất mong nhận
được sự giúp đỡ của thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Hà Nội tháng 9 năm 2003
Sinh viên
trao đổi hàng hoá giữa các nước. Về cơ bản thanh toán quốc tế phát sinh dựa
trên cơ sở hoạt động ngoại thương. Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của
một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậ
y, nếu công tác thanh toán
quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị của hàng hoá xuất khẩu mới được thực
hiện, góp phần thúc đẩy ngoại thương phát triển. Thanh toán quốc tế trở thành
một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại.
Nhưng trong hoạt động mua bán luôn gắn liền với lợi ích của các bên
tham gia. Công tác thanh toán trong nội địa từ
ng nước đã khó khăn phức tạp
nhưng thanh toán quốc tế càng khó khăn phức tạp hơn nhiều (các bên tham
gia hợp đồng khác nhau ở nhiều lĩnh vực: Chế độ chính trị, kinh tế, xã hội,
…). Trong mối quan hệ này mỗi bên tham gia ngoài việc chấp hành luật pháp
trong nước còn phải tuân thủ các hiệp định, hiệp ước cũng như các tập quán
thương mại khác.
Trong mua bán quyền lợi của các bên tham gia thường mâu thuẫn v
ới
nhau, bên nào cũng muốn dành về mình phần thuận lợi hơn. Để giải quyết 5
mâu thuẫn này cần có sự tham gia của Ngân hàng, lúc này Ngân hàng đóng
vai trò trung gian, tạo sự tin tưởng, thuận lợi cho cả hai bên.
Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại hiện đại đã góp phần
thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế giữa các nước diễn ra nhanh chóng,
thuận lợi chính xác và đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia thanh
toán quốc tế. Ngân hàng là một tổ chúc trung gian tài chính, có bề dày kinh
nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tài chính ti
ền tệ, đồng thời Ngân hàng có
mạng lưới và quan hệ đại lý với các Ngân hàng khác rất rộng. Ngoài ra, Ngân
Thanh toán quốc tế hạn chế r
ủi ro trong qúa trình thực hiện hợp đồng
kinh tế đối ngoại: Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của bạn
hàng cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng
thanh toán của người mua, của con nợ, đồng thời trong điều kiện tiền tệ
thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của con nợ là rất bấp bênh, hơn
nữa trong cơ ch
ế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng nhiều vì vậy rủi
trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại ngày càng lớn. Nếu tổ chức
tốt hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhờ đó thúc đẩy
hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
- Đối v
ới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Việc hoàn thiện để phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế có một ý nghĩa hết sức thiết thực, hoạt
động thanh toán quốc tế là một dịch vụ thuần tuý làm tăng khả năng cạnh
tranh của Ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của Ngân
hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng thu hút thêm nhiều
khách hàng, trên cơ sở đó Ngân hàng tăng được quy mô hoạt
động của mình,
giúp cho Ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo
được niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể
khai thác được nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn
trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng phát triển được
nghiệp vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ và các dị
ch vụ khác. Nếu hoạt động
thanh toán quốc tế được đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động tín dụng
n, làm thủ tục chuyển tiền ra nứơc ngoài.
Người chuyển tiền
Người nhận chuyển tiền
Ngân hàng nước nhận
chuyển tiền
Ngân hàng nước người
chuyển tiền 8
(3). Ngân hàng nước ngoài nhận đựơc chuyển tiền sau khi đã nhận tiền
chuyển đến, thực hiện trả tiền cho người nhận.
Thanh toán chuyển tiền bao gồm các loại:
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T).
Chuyển tiền bằng điện tốc độ nhanh, nhưng chi phí cao. Ngày nay khi
tham gia mạng SWITF thì hầu hết chuyển tiền được thực hiện trên mạng
SWITF.
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T).
Chuy
ển tiền bằng thư chi phí thấp hơn chuyển tiền bằng điện, song tốc
độ lại chậm hơn. Chuyển tiền bằng điện thì người chuyển tiền không bị động
vốn lâu ngày, nhưng tỷ giá ngoại tệ áp dụng trong điện hối cao hơn tỷ giá
ngoại tệ trong thư hối.
Chuyển tiền là một phương thức thanh toán trực tiếp giữa hai bên.
Phương thức này rất đơn giản, ở đây Ngân hàng chỉ là người trung gian thực
hiện việc thanh toán theo uỷ nhiệm hưởng hoa hồng, không bị ràng buộc gì về
tránh nhiệm. Khi áp dụng phương thức này thì giữa hai bên mua bán phải có
tín nhiệm rất cao, việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Vì
vậy chuyển tiền ít được sử dụng trong thánh toán hàng hoá ngoại thương mà
thường được sử dụng trong quan hệ trả nợ
bán phải thực sự tin cậy lẫn nhau. Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở
nước ngoài, hay dùng trong thanh toán phi mậu dịch như: tiền cước phí vận
tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi
cho vay và đầu tư. Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần thường
xuyên trong một thời kỳ nhất định. Phương thức này chỉ
có lợi cho người
mua.
Phương thức thanh toán nhờ thu( Collection of payment).
“ Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán quốc tế
trong đó người xuất khẩu (người bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu (người mua), uỷ thác cho
Ngân hàng bên bán
Ngân hàng bên mua
Người bán
Người mua 10
Ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu nước ngoài, trên
cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu ký phát”.
Trong thanh toán quốc tế, khi sử dụng phương thức này các nước thường
vận dụng “ Bản quy tắc thông nhất về nhờ thu chứng từ thương mại – ICC
522” do phòng thương mại quốc tế Paris ban hành, bản sửa đổi năm 1995.
* Quy trình thanh toán uỷ thác thu:
Khi việc chi trả
được tiến hành theo phương thức uỷ thác thu, thì có thể
mô tả khái quát quy trình đó như sau:
(1). Căn cứ vào hợp đông mua bán ngoại thương, người xuất khẩu tiến
hành gửi hàng cho người nhập.
(2). Ngay sau khi đã gửi hàng ra nước ngoài, người xuất khẩu lập bộ
Trong thanh toán uỷ thác thu, nếu người xuất khẩu không thực hiện trọn
vẹn và đầy đủ các cam kết với người nhập khẩu trong hợp đồng mua bán
ngoại thương thì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán (một phần hay
toàn bộ) số tiền trên giấy đòi tiền của người xuất khẩu.
Trong thanh toán uỷ
thác thu, người xuất khẩu thông qua Ngân hàng chỉ
khống chế được quyền định đoạt hàng hoá, mà chưa khống chế được việc trả
tiền của người nhập khẩu. Người nhập khẩu có thể bằng cách chưa nhận bộ
chứng từ hàng hoá, để kéo dài việc trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc có thể
không trả tiền khi tình hình thị trường bất lợi cho họ.
Đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, Ngân hàng chỉ là người trung
gian thu hộ tiền cho người xuất khẩu, còn không có trách nhiệm với việc trả
tiền của người nhập khẩu. Hình thức này tuy về thủ tục có phần đơn giản song
việc trả tiền còn chậm.
Trong thanh toán ngoại thương, nhờ thu được chia làm hai loại:
a. Nhờ thu phiếu trơn (nhờ thu không kèm chứng từ – Clean collection):
Khi việc đòi tiền chỉ dự
a trên chứng từ đòi tiền là hối phiếu do người xuất
khẩu ký phát, mà không kèm theo các chứng từ hàng hoá, thì được gọi là nhờ
thu phiếu trơn.
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu
Ngân hàng nước
xuất khẩu
Ngân hàng nước nhập
khẩu 12
Loại này thường được dùng trong thanh toán tiền chi trả về dịch vụ, cước
người được hưởng (Người xuất khẩu) một số tiền nhất định trong thời hạn qui 13
định, với điều kiện người được hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù
hợp với những nội dung, điều kiện ghi trong thư tín dụng “.
Tham gia nghịệp vụ thanh toán bằng thư tín dụng có thể gồm nhiều bên,
thông thường có các bên sau:
- Người yêu cầu mở thư tín dụng (The applicant for the credit) là người
nhập khẩu (Người mua).
- Người hưởng thư tín dụng (The benifitciary) là người xuất khẩ
u (Người
bán).
Các ngân hàng liên quan: ít nhất có hai Ngân hàng tham gia: Ngân hàng
mở L/C còn gọi là Ngân hàng phát hành L/C (The issuing bank), Ngân hàng
này có trách nhiệm trích trả tiền cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ
chứng từ phù hợp với L/C; Ngân hàng thông báo L/C (Advising Bank) là Chi
nhánh Ngân hàng hoặc đại lý của Ngân hàng phát hành L/C hoặc Ngân hàng
phục vụ người xuất khẩu.
Tuỳ theo từng L/C cụ thể, mà còn có các Ngân hàng khác tham gia như:
- Ngân hàng thanh toán, chiết khấu (The Negotiating Bank) : Ngân hàng
này trực tiếp trả tiền cho L/C. Trên thực tế Ngân hàng thanh toán L/C chính là
Ngân hàng L/C hoặc Ngân hành thông báo, hoặc một ngân hàng nào đó do
Ngân hàng phát hành L/C chỉ
định.
- Ngân hàng xác nhận L/C (The confirming Bank). Theo yêu cầu của
người hưởng lợi, một Ngân hàng đứng ra xác nhân L/C sẽ cùng với Ngân
hàng phát hành L/C có trách nhiệm trả tiền đối với L/C.
* Qui trình thanh toán L/C:
(1). Người nhập khẩu dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thương ký với
làm căn cứ nhận hàng.
(2)
(7)
(8)
Ngân hàng xuất khẩu(Ngân
hàng thông báo L/C)
Ngân hàng nhập khẩu
(Ngân hàng mở L/C)
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu 15
(3) (5) (6) (1) (9)
(4) Nét đặc thù trong thanh toán L/C là việc trả tiền của Ngân hàng chỉ căn
cứ vào sự phù hợp của các chứng từ hàng hoá với những điều kiện nêu trong
thư tín dụng mà không trực tiếp dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thương. Do
vây, Ngân hàng không bị ràng buộc bởi những điều khoản trong hợp đồng
mua bán ngoại thương, mà chỉ bị ràng buộc các
điều kiện trong nội dung của
L/C khi nó đã được mở.
Thanh toán bằng L/C tuy có phức tạp về mặt thủ tục, song các nguyên
tắc thanh toán rất chặt chẽ, rõ ràng, nên việc nhận hàng và trả tiền luôn luôn
được đảm bảo. Vì thế, hình thức này được sử dụng rất rộng rãi trong thương
mại quốc tế.
lợi L/C) ph
ải phát hành một hối phiếu ghi “ không được truy đòi người phát
phiếu”. Như vậy, sau khi đã thanh toán cho người huởng, Ngân hàng mở L/C
mất quyền truy đòi lại số tiền của L/C bất kỳ trong trường hợp nào. Loại L/C
này được dùng rất phổ biến trong các hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có thể chuyển nhượng đựơc
(Irrevocable Transferable L/C): Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ b
ỏ,
trong đó quy định quyền của Ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một
phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người khác, theo lệnh của người được
hưởng lợi đầu tiên. Loại L/C này chỉ được chuyển nhượng một lần, chi phí
cho việc chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên chịu.
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): Thông thường khi tiến
hành mua bán qua trung gian thì người ta dùng loại thư
tín dụng này.
Sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, thì người xuất
khẩu dùng L/C này để mở một L/C khác cho người khác hưởng với những nội
dung gần giống như L/C ban đầu (L/C gốc), như vậy L/C sau gọi là L/C giáp
lưng. 17
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): Loại L/C này thường được
dùng trong phương thức mua bán quốc tế hàng đổi hàng hoặc trong gia công
quốc tế. Thư tín dụng đối ứng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi một thư tín dụng đối
ứng nới nó đã được mở.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): Là loại thư tín dụng được
dùng để trả tiền nhiều lần, trong khuôn khổ thời hạn do h
ợp đồng mua bán
ngoại thương quy định. Sau khi thư tín dụng truớc đã được trả tiền song, thì
Bên cạnh đấy cũng phải thấy rằng kiến thức của khách hàng về lĩnh vực
ngoại thương nói chung cũng như hoạt
động thanh toán quốc tế nói riêng sẽ
ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình thanh toán. Thiện chí của các bên
tham gia trong khi mua bán cũng ảnh hưởng tới quá trình thanh toán. Và một
điều quan trọng là khách hàng của Ngân hàng phải có khă năng thanh toán.
Chính vì vây mà cán bộ thanh toán cần phải tư vấn kỹ cho khách hàng, xem
xét khả năng tài chính của khách hàng và Ngân hàng phải có các biện pháp
thu hút được nhiều khách hàng hơn.
2. Nhân tố khách quan.
Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế củ
a
các Ngân hàng thương mại như: Tình hình kinh tế xã hội của đất nước nói
chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng, đặc biệt là hoạt động xuất
nhập khẩu. Các chính sách kinh tế đối ngoai, chính sách tài chính quốc gia
của đất nước tạo bước phát triển về hoạt động kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh
hoạt động xuất nhập khẩu, khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài, cả
i tổ lại hệ
thống Ngân hàng .v.v từ đó thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế phát triển.
Bên cạnh đấy hệ thống thanh toán của hệ thông Ngân hàng, quy trình các
nghiệp vụ thanh toán cần phải được hoàn thiện để thúc đẩy hoạt động thanh
toán quốc tế được nhanh chóng hơn, chính xác hơn. 19
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI
đồng, tăng 26% so với năm 2001.
Đến nay tổng cán bộ công nhân viên của Ngân hàng hơn 230 người,
trong đó có một giám đốc và ba phó giám đốc. Là một đơn vị trực thuộc Ngân
hàng công thương Việt Nam. Hiện nay ngân hàng có 10 phòng ban, mỗi
phòng ban thực hiện các chức năng và mảng công việc riêng, cụ thể có:
Phòng nguồn vốn, Phòng kinh doanh, Phòng kế toán, Phòng kinh doanh đối
ngoại, Phòng ngân quỹ, Phòng vi tính, Phòng kiểm soát, Phòng thu nợ
, Phòng
tổ chức hành chính nhân sự, Phòng giao dịch Đồng Xuân, Phòng dịch vụ
chuyển tiền cá nhân, Tổ dịch vụ Sài Đồng. Riêng phòng nguồn vốn có 11 quỹ
tiết kiệm nằm rải rác trên địa bàn quận.
Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng được phát triển thêm,
hiện nay Ngân hàng sẵn sàng đáp ứng các dịch vụ ngân hàng – tài chính như:
Mở tài khoản tiền gửi doanh nghiệp và cá nhân, nhận tiền gửi tài khoản bằng
đồng VN
Đ và ngoại tệ, tín dụng, bảo lãnh, thanh toán trong nước và quốc tế,
chuyển kiều hối, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế - séc du lịch, mua bán ngoại
tệ, dịch vụ chuyển tiền nhanh, dich vụ chi trả tiền lương, dịch vụ kho quỹ.
Đặc biệt, phục vụ tận doanh nghiệp: Dịch vụ Bảo hiểm, dịch vụ thẻ
ATM, dịch vụ tư vấn quản lý tài chính,.v.v
2. Tình hình hoạt độ
ng kinh doanh của Chi nhánh mấy năm gần
đây.
Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và của ngành ngân hàng,
nhưng Ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã cố gắng vưon lên về nhiều mặt
và đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đáng khích lệ. Kết quả đó củng cố được
vị thế của Ngân hàng, cải thiện một bước đời sống cán bộ công nhân viên,
đồng thời góp phần vào sự nghiệp phát triển của nền kinh tế.
Với phương châm “ổn định - an toàn - hiệu quả và phát triển” ngay từ
đầu năm 1998, Chi nhánh đã xác định cho mình một hướng đi đúng đắn.
Mạng lưới quỹ tiết kiệm của Chi nhánh nằm rải rác khắp địa bàn quận,
tận thu nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, tốc độ nguồn vốn huy động tăng
trưởng cao trong bối cảnh hầu hết các Ngân hàng thương mại đều tăng lãi suất
huy động để thu hút nguồn vốn. 22
Năm 2000 thu được 530 tỷ đồng tăng 12% so với năm 1999 đưa tổng
nguồn vốn của Chi nhánh lên đến hơn 2182 tỷ đồng, tăng 14% so với năm
1999.
Năm 2001, tổng nguồn vốn huy động là 4200 tỷ đồng, tăng 2027 tỷ
đồng, vượt 93% so với năm 2000.
Năm 2002, đạt 4700 tỷ đồng (tăng 12,6% và vượt 5,2 % so với kế hoạch
đặt ra).
Có thể nói, sự tăng trưởng lớn về
nguồn vốn không chỉ là kết quả của
phong cách phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình chu đáo, mà còn khẳng định
về uy tín và vị thế của Chi nhánh trên thương trường. Với tổng nguồn vốn lớn
và ổn định, Chi nhánh có đủ khả nằng để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn đối với
khách hàng, đồng thời chuyển vốn về Ngân hàng công thương Việt Nam, góp
phầ
n điều hoà toàn bộ hệ thống và tham gia thị trường vốn.
2. Hoạt động tín dụng:
Là hoạt động cơ bản, quan trọng của Chi nhánh. Vì vậy đây không chỉ là
nhiệm vụ của ngành cán bộ kinh doanh, mà là lĩnh vực lôi cuốn tất cả các
phòng ban, các hoạt động hướng về phục vụ một cách tốt nhất đối với khách
hàng.
Mục tiêu cơ bản được đặt ra là nâng cao chất lượng tín d
ụng, hoạt động
tín dụng chủ yếu đi vào chiều sâu. Chính vì vậy Chi nhánh đã liên tục rà soát,
Sở dĩ dư nợ ngày càng tăng vì Ngân hàng đã xác định qui mô dư nợ phù
hợp với trình độ, khả năng và kinh nghiệm quản lý của cán bộ, lấy an toàn,
hịêu quả làm mục tiêu hàng đầu, phát triển đúng hướng, phù hợp chủ trương
của Ngân hàng công thương Việt Nam.
3. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế .
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của Chi nhánh bắt
đầu phát triển mạnh từ cuối năm 1997 và đến năm 1998 trở thành hiện tượng
quan trọng đóng góp lớn vào hiệu quả của Ngân hàng công thương Hoàn
Kiếm. Năm 2000 đ
ánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong hoạt động kinh
doanh đối ngoại của Chi nhánh. Với tinh thần cố gắng làm việc phấn đấu
vươn lên, với nghiệp vụ vững vàng và phong cách giao dịch được hoàn thiện
một cách rõ nét của từng cán bộ kinh doanh đối ngoại, sự phối hợp nhuần 24
nhuyễn giữa các phòng ban nên dù gặp muôn vàn khó khăn do sự khan hiếm
ngoại tệ mang lại…. Nhưng với thời gian hoạt động chưa bằng một nửa các
chi nhánh khác, Chi nhánh đựơc đánh giá là 1 trong 6 đơn vị có hoạt động
thanh toán quốc tế phát triển nhất trong hệ thống Ngân hàng công thương Việt
Nam.
Năm 2000 Chi nhánh đă đạt được doanh số thanh toán hàng xuất là 60
triệu USD, chiếm 20% tổng doanh số hàng xuất của hệ thống Ngân hàng công
thươ
ng, mở được 440 L/C với doanh số 40 triệu USD, đáp ứng yêu cầu nhập
khẩu của khách hàng. Đối với nghiệp vụ nhờ thu, TTR Chi nhánh cũng đã
làm rất tốt, doanh só nhờ thu đạt 12 triệu 741 ngàn USD, doanh số TTR đạt
52 triệu USD, đưa doanh số thanh toán hàng nhập khẩu lên 104 triệu USD
(quy đổi). Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 95 triệu USD, thu phí về hoạt động
thanh toán quốc tế là 2,4 tỷ đồng.