PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU Chúng ta có thể phân lập vi nấm từ bất kỳ một cơ chất tự nhiên nào vì
mọi cơ chất trong tự nhiên đều có vi sinh vật bên trong. Tuy nhiên nếu
chúng ta chọn lấy mẫu một cách ngẫu nhiên, không có mục đích thì rất mất
thời gian và tiền bạc.
Những vật liệu khác nhau sẽ được coi như những cơ chất khác nhau
để phân lập nấm. Vật liệu chung nhất thường là: lá cây tươi, lá cây rụng, lá
cây mục, phân động vật, côn trùng, nước ngọt, nước biển,
Trước khi đi lấy mẫu phân lập nấm sợi chúng ta phải cân nhắc và suy nghĩ
về những điều cần thiết sau:
1, Sẽ chọn loại vật liệu để phân lập cho loại nấm nào.
2, Dùng bản đồ kiểm tra lại vị trí lấy mẫu.
3, Sẽ dùng phương pháp phân lập nào cho mẫu đó.
4, Và cuối cùng là sẽ mang mẫu như thế nào về phòng thí nghiệm.
Sau đó sẽ quyết định nơi lấy mẫu, chuẩn bị cho chuyến đi lấy mẫu đó,
mang theo những dụng cụ cần thiết như: Túi ni lông, thìa cân, túi đựng mẫu
làm bằng giấy, chai lọ, đèn gas xách tay, túi chứa, Khi tới nơi lấy mẫu
chúng ta quyết định số lượng mẫu sẽ lấy.
Một điều cũng rất quan trọng là phân lập nấm sau khi lấy mẫu càng sớm
càng tốt.
I. Mẫu đất.
Mẫu đất là mẫu có hiệu quả nhất và chúng ta có thể phân lập nấm trên
mẫu đất với số lượng lớn. Chúng ta có thể lấy mẫu đất ở nhiều nơi chẳng
hạn như ở ruộng lúa, nơi trồng cây lấy hạt hoặc cánh đồng trồng rau, dưới
rừng tùng hay dưới rừng tán lá rộng, ở vùng núi cao, ven bừ suối, Thông
thường nấm phân lập được từ mẫu đất gọi là nấm đất, nhưng một số nấm
phân lập được ở đáy hồ ao, sông suối hay đáy biển lại gọi là nấm ưa nước
hay nấm ưa mặn.
Để phân lập được nhiều loài nấm khác nhau, chúng ta nên lấy mẫu đất
khác nhau.
6, Mỗi loài thực vật khác nhau sẽ phân lập được các chủng nấm đặc hiệu, ví
dụ như loài nấm Trochophora simplex chỉ phân lập được từ cây
Daphniphyllum macropodium.
Đặc biệt khi phân lập nấm từ mẫu lá và vỏ cây thực vật chúng ta rất
khó có thể phân lập được loài nấm trong thực vật gọi là nấm nước trên cạn
(terrestrial aquatic fungi). Bởi vì nhóm nấm này sinh trưởng rất chậm và
không dễ dàng sinh bào tử như những nấm trên bề mặt, nấm gây bệnh hay
cácnấm hoại sinh khác. Vì thế khó có thể phân lập các loài nấm này từ lá cây
hay từ vỏ cây nếu chỉ sử dụng những kỹ thuật phân lập thông thường.
Nấm nước trên cạn sinh bào tử nhanh chóng nếu có nước kích thích,
chẳng hạn gặp mưa, sương. Chúng ta lấy mẫu sau khi trời mưa hoặc lấy mẫu
từ những giọt sương đọng trên cành lá.
IV. Phân.
Thành phần hữu cơ trong phân là rất lớn, do đó khu hệ vi sinh vật
trong đó vô cùng đa dạng. Những loài nấm có thể tồn tại được trên phân
động vật được gọi là nấm phân. Sự thay đổi của nấm phân xuất hiện trên một
mẫu phân động vật là một ví dụ điển hình về tính kế thừa ở nấm. Xuất hiện
đầu tiên là ngành nấm tiếp hợp Zygomycota (ví dụ Basidiobolus), tiếp đến là
Pyrenomycetes, Plectomycetes, và Discomycetes của ngành nấm túi
Ascomycota (ví dụ Arthroderma, Gymnoascus, ) rồi đến các nấm hoại sinh
(Ví dụ Arthrobotrys, Oedocephalum, Scopulariopsis, ) và cuối cùng là nấm
đảm Basidiomycota (ví dụ Corprinus) [5].
Người ta thường phân lập nấm phân từ phân động vật ăn cỏ chẳng hạn
như phân ngựa, cừu, dê, thỏ, gia súc, và thậm chí là chuột cũng đã được
công bố. [5]
V. Côn trùng.
Những côn trùng nhỏ bé, chẳng hạn như amip, giun đất, ve rận, sâu
bọ, là những mẫu tốt dùng cho phân lập nấm. Đặc biệt là nấm hoại sinh
giun tròn (nematode-trapping fungi).