Báo cáo thực tập: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam – Thách thức & Cơ hội sau khi gia nhập WTO - Pdf 20

GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI

Đề Tài
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam
– Thách thức & Cơ hội sau
khi gia nhập WTOSV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 1
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
Mục Lục
Mục Lục 2
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1. Lý thuyết về xuất nhập khẩu: 5
1.1. Xuất nhập khẩu: 5
1.2. Xuất nhập khẩu thủy sản: 5
2. Một số quy định về xuất nhập khẩu thủy sản khi gia nhập vào WTO: 6
3. Những lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam: 6
3.1. Lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở Việt Nam: 6
Vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân : 10
CHƯƠNG 2 13
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT – CHẾ BIẾN – XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM 13
1. Thực trạng khai thác, sản xuất – chế biến – xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam: 13
1.1. Tình hình khai thác, sản xuất: 13
1.2. Tình hình chế biến và bảo quản: 15
1.3. Tình hình xuất khẩu: 18
2. Đánh giá khả năng cạnh tranh đối với ngành thủy sản ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO:
24

Cơ hội sau khi gia nhập WTO”.
II. Mục tiêu của đề tài:
1) Mục tiêu chung:
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy Việt Nam trong những năm qua (2003 – 2007).
Từ đó, phân tích những lợi thế và nhận diện những thách thức trở ngại trong việc xuất
khẩu thủy sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Trên cơ sở đó, đưa ra các chiến lược
đẩy mạnh hoạt động thương mại xuất khẩu thủy sản Việt Nam càng phát triển hơn.
2) Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
những năm qua.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam.
- Đề ra giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
III. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu:
• Thu thập thông tin thứ cấp trên báo, tạp chí, internet, niên giám thống kê, cục
thống kê.
• Các báo cáo tổng kết của Bộ Thủy sản.
• Báo cáo của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam VASEP.
Phương pháp phân tích:
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 3
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
• Phương pháp mô tả.
• Phương pháp dự báo kinh tế.
• Phương pháp tần số đơn giản
* Với từng mục tiêu cụ thể khác nhau, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác
nhau như:
• Nghiên cứu thực trạng sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
những năm qua: nghiên cứu nhân quả. Thu thập số liệu trong những năm gần
đây rồi đưa ra các nhận xét.
• Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam: nghiên cứu ứng

Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về mặt vật chất và tài chính,
các quan hệ diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vực khoa
học – công nghệ có liên quan đến tất cả giai đoạn của quá trình sản xuất, giữa các quốc
gia với nhau và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế.
1.2. Xuất nhập khẩu thủy sản:
Các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản là khi mà hàng hóa (các
mặt hàng thủy sản: tôm, cá, mực …) được thực hiện mua bán từ quốc gia này sang
quốc gia khác, từ phạm vi lãnh thổ này sang lãnh thổ khác.
Ý nghĩa của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu:
• Đây là một hoạt động không thể thiếu ở các quốc gia bởi vì không một quốc gia
nào có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân trong nước.
• Nguồn tài nguyên có hạn và mỗi quốc gia có một lợi thế riêng.
• Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hằng năm mang về một lượng ngoại tệ
lớn.
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 5
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
• Xu hướng của thế giới hiện nay là mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa các nước.
2. Một số quy định về xuất nhập khẩu thủy sản khi gia nhập
vào WTO:
Từ năm 2007, Việt Nam là thành viên của WTO, và sẽ phải thực hiện đúng lộ
trình cắt giảm thuế theo như cam kết giữa Việt Nam và EU. Các hiệp định cơ bản của
WTO gồm hiệp định về thương mại hàng hoá gồm cả hiệp định chung về thuế quan và
thương mại (GATT, 1994) và các hiệp định liên quan khác; hiệp định chung về thương
mại dịch vụ (GATS); hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
(TRIPs). WTO thực hiện chức năng của mình trong việc giám sát việc thực hiện các
Hiệp định này, đàm phán thúc đẩy tự do hoá thương mại, tạo cơ chế giải quyết tranh
chấp thương mại, tiến hành rà soát định kỳ chính sách thương mại của các nước thành
viên.
Một số quy định về thuế xuất nhập khẩu như sau:
Miễn và giảm thuế nhập khẩu không dựa trên thành tích xuất khẩu, tỷ lệ xuất

28' kinh
độ Đông. Chiều dài tính theo đường thẳng trong đất liền từ Bắc xuống Nam khoảng
1.650 km. Chiều ngang từ Đông sang Tây nơi rộng nhất trên đất liền là 600 km, nơi
hẹp nhất 50 km.
Việt Nam có biên giới đất liền dài 3.730 km. Phía Bắc giáp nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa với chiều dài biên giới 1.150 km. Phía Tây giáp Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào trên chiều dài biên giới 1.650 km và giáp Vương quốc
Cămpuchia - 930 km. Qua biển Đông và vịnh Thái Lan là Cộng hòa Philippin, Cộng
hòa Inđônêxia, Cộng hòa Singapo, Cộng hòa Brunây và Liên bang Malaixia.
Ngoài ra, có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng
khoảng 1 triệu km
2
. Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú, cho phép
khai thác hàng năm 1,2 – 1,4 triệu tấn. Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư
trường trọng điểm là : ngư trường Minh Hải – Kiên Giang, ngư trường Ninh Thuận –
Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh và ngư trường
quần đảo Hoàng Sa - quần đảo Trường Sa.
3.1.2. Điều kiện tự nhiên:
a) Khí hậu:
Do tính chất dài và hẹp của lãnh thổ, Việt Nam mang đặc tính của một
bán đảo, ảnh hưởng của biển len lỏi đến khắp nơi. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới
nên khí hậu chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độ gió mùa châu Á (chủ yếu là gió
mùa Đông Bắc và Đông Nam). Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.500 - 2.000
mm. Độ ẩm trên dưới 85%. Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của
thiên nhiên Việt Nam thay đổi. Nhìn chung, Việt Nam có một mùa nóng mưa nhiều và
một mùa tương đối lạnh, ít mưa. Riêng khí hậu của các tỉnh phía Bắc (từ đèo Hải Vân
trở ra bắc) thay đổi theo bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Do ảnh hưởng gió mùa, hơn
nữa sự phức tạp về địa hình nên khí hậu của Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm,
từ giữa năm này với năm khác và giữa nơi này với nơi khác (từ Bắc xuống Nam và từ
thấp lên cao).

e) Đảo và quần đảo:
Việt Nam là một quốc gia có nhiều đảo và quần đảo. Hệ thống đảo ven
bờ gồm có 2.773 hòn đảo lớn nhỏ diện tích từ 0,001 km
2
đến 100 km
2
, diện tích tổng
cộng lên đến 1.720 km
2
. Về mặt phân bố, 83,7% số đảo ở ven biển tỉnh Quảng Ninh và
Hải Phòng, nơi tập trung thứ hai là các tỉnh Kiên Giang và Cà Mau trên vịnh Thái Lan.
Có tới gần 1.300 hòn đảo chưa có tên, vì chúng có kích thước quá nhỏ. Khoảng cách
giữa đất liền và đảo cũng rất khác nhau: đảo Cái Bàu chỉ cách đất liền một rạch triều;
trong khi đảo Bạch Long Vĩ cách Hải Phòng tới 135 km; đảo Hòn Hải cách Phan Thiết
tới gần 155 km; đảo Thổ Chu cách cửa Ông Đốc (Kiên Giang) tới 146 km; quần đảo
Hoàng Sa nằm cách Đà Nẵng tới 350 km và quần đảo Trường Sa nằm cách vịnh Cam
Ranh hơn 450 km. Các đảo và quần đảo của Việt Nam có vị trí chiến lược hết sức
quan trọng về kinh tế và quân sự.
3.2. Lợi thế về lao động:
Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động trên 50%.
Số người biết chữ (10 tuổi trở lên) chiếm tỷ lệ rất cao - 91%. Nhận thức của người
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 8
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
Việt Nam tương đối nhanh nhạy và linh hoạt, vì vậy, với thời gian đào tạo ngắn nhưng
người Việt Nam có khả năng tiếp thu được kiến thức khoa học kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến, nhanh chóng đảm nhận nhiệm vụ mới.
Dân số Việt Nam năm 2003 là 80,9 triệu người, trong đó nữ 41,15 triệu người,
chiếm 50,86% tổng số, nam - 39,75 triệu người, chiếm 49,14% tổng số. Trong đó có
46,2 triệu người trong độ tuổi lao động (có 5,7 triệu người thất nghiệp). Và con số này
tăng lên đến năm 2006 là 48,3 triệu người (có 4,82 triệu người thất nghiệp). ( Nguồn

SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 9
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
Vì vai trò ngày càng quan trọng của Ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá
phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối
của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệ thống thuỷ lợi để
không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long.
Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay
một phần vào Ngành Thuỷ sản. Ngành Thuỷ sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn
ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng nhất nhì trong nền kinh tế ngoại
thương Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu vẫn gia tăng hàng năm và năm 2004 đạt gần
2,4 tỷ USD, vượt 20% so với kế hoạch, đưa chế biến thuỷ sản trở thành một ngành
công nghiệp hiện đại, đủ năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế và dành vị trí thứ 10
trong số nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu trên thế giới.
Vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân :
a) Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam
50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản
lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm
cho nhu cầu của người dân Việt Nam. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận
các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người
dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. Từ các vùng đồng bằng đến trung
du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi
trồng thuỷ sản. Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao
trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.
b) Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm
Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung
cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc
dân, Ngành Thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng

rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì hiện
nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền kinh
tế công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây dựng,
khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển. Đối với nền
canh tác nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm hoạ, nhưng với nuôi trồng
thuỷ sản nước mặn, nước lợ thì nước mặn được nhận thức là một tiềm năng mới, vì
hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt
động canh tác lúa nước.
Có thể nói nuôi trồng thủy sản đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả
kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven
biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân.
Tại nhiều vùng nông thôn, phong trào nuôi cá ruộng trũng phát triển mạnh mẽ.
Đây là hình thức nuôi cho năng suất và hiệu quả khá lớn, được đánh giá là một trong
những hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, góp phần làm tăng thu nhập cho
người lao động và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 11
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
e) Tạo nghề nghiệp mới, tăng hiệu quả sử dụng đất đai
Ao hồ nhỏ là một thế mạnh của nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nông thôn Việt
Nam. Người nông dân sử dụng ao hồ nhỏ như một cách tận dụng đất đai và lao động.
Hầu như họ không phải chi phí nhiều tiền vốn vì phần lớn là nuôi quảng canh. Tuy
nhiên, ngày càng có nhiều người nông dân tận dụng các mặt nước ao hồ nhỏ trong
nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có
chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như mè, trắm, các loại cá chép, trôi Ấn Độ và
các loài cá rô phi đơn tính.
f) Nguồn xuất khẩu quan trọng
Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong
bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành
Thuỷ sản còn là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD.

bình quân đạt gần 45CV/chiếc, tăng 2,5 lần so với 1991. Năm 2004, theo báo cáo từ
các địa phương, tổng số tàu thuyền máy đã tăng lên đến 85.430 chiếc với tổng công
suất 4.721.700 CV, công suất bình quân đạt hơn 55 CV/tàu. Công suất trung bình các
đội tàu ở phía Nam đạt trên 90 CV/tàu và các vùng còn lại là 30 CV/tàu. Đáng chú ý
là, số lượng tàu quốc doanh đã giảm còn 44 tàu vào năm 2002.
Trong giai đoạn 1991 - 2004, số lượng tàu thuyền máy tăng bình quân
hằng năm 5,6%, nhưng mức tăng này có xu hướng chậm dần. Trong khi đó, mức tăng
tổng công suất trung bình hằng năm là 15,8 %, chiều hướng này cũng đang giảm dần.
Sự chênh lệch mức tăng giữa số lượng tàu và tổng công suất trong giai đoạn này cho
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 13
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
thấy, trong số tàu tăng hằng năm, số tàu công suất lớn chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đây là
xu thế tích cực khi người dân chú trọng đóng tàu vươn khơi xa, giảm dần áp lực khai
thác vùng ven bờ. Chủ trương phát triển khai thác xa bờ, ổn định khai thác vùng gần
bờ của ngành thủy sản thực hiện trong nhiều năm qua cũng đã góp phần quan trọng
trong việc hỗ trợ ngư dân tham gia phát triển khai thác xa bờ. Trong những năm gần
đây, trước áp lực nguồn lợi ven bờ suy giảm, các cơ quan quản lý ngành thủy sản đã
có chủ trương hạn chế đóng mới các loại tàu thuyền dưới 20 CV. Do vậy, số lượng tàu
nhỏ khai thác gần bờ đã giảm nhiều. Chủ trương chuyển đổi cơ cấu nghề nghề cá,
trong đó có chuyển đổi từ khai thác gần bờ sang khai thác xa bờ, nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động thủy sản gắn với bảo vệ nguồn lợi và môi trường đã được triển khai ở
nhiều địa phương và được người dân ủng hộ
Do đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi hải sản ở các vùng biển khác nhau
nên cơ cấu nghề nghiệp ở từng địa phương cũng khác nhau:
+ Nghề lưới kéo chiếm tỷ lệ cao nhất ở các tỉnh Nam Bộ (37,5%), trong
đó tỷ lệ này ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng là 47%, Kiên Giang chiếm
41,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu chiếm 38,5%. Đây là do đặc điểm nguồn lợi ở vùng
biển Đông Nam Bộ (cá đáy chiếm 60% khả năng khai thác).
+ Nghề lưới rê ở các tỉnh Bắc Bộ chiếm 26% tổng số đơn vị nghề và ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ chiếm 29,3% là phù hợp với nguồn lợi ở vịnh Bắc Bộ

Hệ thống kênh, rạch chằng chịt ở Nam Bộ cung cấp một lượng cá nước ngọt đáng kể.
Sản lượng khai thác thủy sản nội địa năm 2003 và năm 2004 đã đạt khoảng 200.000
tấn, thu hút khoảng 100.000 lao động.
1.2. Tình hình chế biến và bảo quản:
Chế biến thuỷ sản được hiểu là chế biến tất cả các loài thuỷ sản nước ngọt,
nước lợ và nước mặn thu hoạch từ hoạt động khai thác thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ
sản. Chế biến thuỷ sản được phân thành hai nhóm sau:
• Chế biến phục vụ tiêu dùng nội địa
Là hoạt động chế biến thuỷ sản nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước. Những
năm trước đây, do phải nhập dây chuyền đồng bộ từ nước ngoài nên chi phí cho hoạt
động chế biến nội địa tương đối cao, giá thành sản phẩm không phù hợp với sức mua
của người dân trong nước. Gần đây, ngành thuỷ sản đã chủ động phát triển công
nghiệp cơ điện lạnh phục vụ thiết bị cho chế biến thuỷ sản nội địa nên tình trạng này
đã được khắc phục. Mặt khác, do mức thu nhập tăng nên nhu cầu tiêu thụ cũng tăng
theo, nhiều sản phẩm thuỷ sản chế biến đã không còn phân biệt ranh giới giữa tiêu
dùng nội địa và xuất khẩu.
• Chế biến sản phẩm xuất khẩu
Là hoạt động chế biến thuỷ sản nhằm mục tiêu xuất khẩu thu ngoại tệ.
Trước những nguy cơ và thách thức mới, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất
khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long đã không ngừng đổi mới phương thức quản lý và
tác phong làm việc; tích cực đầu tư máy móc và trang thiết bị hiện đại để tiến hành qui
trình tự động hoá sản xuất.
Áp dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới như công nghệ bảo quản sau thu
hoạch, công nghệ surimi, công nghệ ngủ đông trong vận chuyển thuỷ sản tươi sống,
công nghệ đông rời IQF… Tập trung chế biến các mặt hàng giá trị gia tăng như mặt
hàng phi lê đông lạnh, mặt hàng surimi, sản phẩm sẵn sàng để nấu hoặc sản phẩm ăn
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 15
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
liền, nhờ đó tỷ trọng các mặt hàng này trong tổng sản phẩm chế biến xuất khẩu đã tăng
lên.

động khai thác nên được đưa trực tiếp ra thị trường hoặc vào thẳng các nhà máy chế
biến, hầu như không qua xử lý bảo quản, chúng thường đảm bảo độ tươi, chất lượng
tốt.
Các mặt hàng chế biến thủy sản chính
a. Mặt hàng đông lạnh
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 16
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
Đến năm 2000, lượng hàng thuỷ sản đông lạnh vẫn tiếp tục tăng mạnh (chiếm
86% về giá trị các mặt hàng thuỷ sản chế biến của Việt Nam). Trong các sản phẩm
thuỷ sản đông lạnh thì tôm đông lạnh chiếm khoảng 23% về khối lượng chế biến. Mực
và bạch tuộc đông lạnh có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, trung bình là 38,57%/năm.
Năm 2000, lượng mực chế biến đông lạnh xuất khẩu lên tới 38.104 tấn, chiếm 18%
khối lượng hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Mực thường được sản xuất dưới
dạng đông lạnh nguyên con, đông rời hoặc gần đây là Sashimi, Seafood mix, mực trái
thông v.v
Mặt hàng cá đông lạnh những năm gần đây cũng có tốc độ tăng rất mạnh. Năm
2000 đã đạt 56.052 tấn, chiếm 19% tổng sản lượng thuỷ sản xuất khẩu. Mặt hàng filet
đông lạnh phần lớn được chế biến cho xuất khẩu. Đông lạnh nguyên con tăng nhanh
do được tiêu thụ cho cả thị trường nội địa, thị trường Trung quốc và một phần xuất
khẩu cãc thị trường khác.
Các loại đông lạnh khác: chủ yếu là các loại ghẹ, ốc, cua, sò, điệp, các mặt hàng
phối chế (như ghẹ nhồi Kany boy, Kany girl, gạch ghẹ đóng bánh đông lạnh). Các sản
phẩm này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh cùng với sự tăng trưởng của các mặt hàng
có giá trị gia tăng. Năm 2000, sản lượng của các mặt hàng này tăng lên tới 77.212 tấn,
đạt 26% tổng sản lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
b. Mặt hàng tươi sống
Gần đây cũng đã phát triển, chủ yếu dùng cho xuất khẩu, bao gồm các loại cua,
cá, tôm còn sống hoặc loại còn tươi như thịt cá ngừ đại dương.
c. Mặt hàng khô
Dạng sản phẩm này được sản xuất khá phổ biến vì đơn giản về thiết bị, công

Theo thống kê, hiện nay xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam phải đối mặt với
hàng loạt những khó khăn do các hàng rào kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng
kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vẫn tăng mạnh tại hầu hết các thị trường lớn như
EU, Mỹ, ASEAN, Ucraina….
Mục tiêu xuất khẩu của cả nước năm 2007 là: 3,6 tỷ USD
Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2008 khoảng 4,25 tỷ USD
( Nguồn: http://www.baocantho.com.vn/vietnam/dbscl/58891/)
Bảng 1: Tình hình xuất khẩu trong những năm qua của Việt Nam
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
SL (tấn) GT (triệu
US$)
SL (tấn) GT (triệu
US$)
SL (tấn) GT (triệu
US$)
SL
(tấn)
GT (triệu
US$)
458.496 2216,694 518.747 2400,781 626.991 2739,000 811.510 3348,291
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 18
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
(Nguồn: tổng hợp theo báo cáo của Bộ thủy sản, lấy từ các sở Thủy Sản
[email protected])
1.3.2. Thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu đã được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, bao
gồm cả năm châu lục, trong đó Nhật Bản và Mỹ là hai thị trường lớn đầy tiềm năng.
Tuy thị trường Nhật vẫn là một thị trường lớn nhưng cũng giảm dần về tỷ trọng, từ
50% thị phần (năm 1997) xuống còn 32,2% (năm 2004). Thị trường Mỹ có tốc độ phát
triển khá nhanh, từ chỗ chỉ đạt 5% vào năm 1997, đến năm 2000 đã 20% thị phần và

ASEAN 39487.8 108108489
Châu Mỹ (không kể Hoa Kỳ) 20809.2 86043658
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 20
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
Châu Đại dương 13416.8 68820191
Thị trường khác 8030.9 30898126
Châu Phi 4993.2 13735902
Total 527510.7 2104404660
(Nguồn: Trung tâm Tin học Thuỷ sản)
• Thị trường EU:
Trong các năm qua EU là một thị trường thương mại quốc tế quan trọng. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự có chỗ đứng đáng kể trên thị trường này và
EU vẫn còn là thị trường giàu tiềm năng cần khai phá. Do đó, để thâm nhập tốt thị
trường này doanh nghiệp cần chú ý đến các khía cạnh về an toàn, sức khỏe, chất lượng
và các vấn đề môi trường và xã hội. Hiện nay và cả trong tương lai, quyền lợi của
người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu. Do vậy, chất lượng sản phẩm là yếu tố thành
công quan trọng nhất khi nhắm vào thị trường EU.
EU là thị trường đòi hỏi yêu cầu chất lượng rất cao, điều kiện thương mại
nghiêm ngặt và được bảo hộ đặc biệt. Các khách hàng EU là nổi tiếng về mẫu mốt, thị
hiếu, khác với khách hàng Việt Nam thì giá cả có vai trò quyết định trong việc mua
hàng. Do đó, khi các sản phẩm đạt các yếu tố về chất lượng, thời trang và giá cả hấp
dẫn thì sản phẩm mới có cơ hội hấp dẫn được người tiêu dùng ở Châu Âu. Đây là các
vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải chú ý để thâm nhập và thành công ở thị trường
này.
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU đạt 116,7 triệu
đôla, năm 2004 - 231,5 triệu đôla, năm 2005 - 367,3 triệu đôla. Hàng thủy sản hiện là
mặt hàng có kim ngạch đứng thứ tư trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường EU. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ trọng nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam hàng
năm chỉ bằng 0,3-0,4% trị giá nhập khẩu thủy sản của toàn EU. Khối lượng thuỷ sản
xuất khẩu của Việt Nam vào EU năm 2005 mới đạt gần 120 nghìn tấn, trị giá 367,3

Eu-15
Ai Xơ Len 63.4 314.7 9.1 35.4 53.8 234.5
Bỉ 4 064.2 18 516.6 5 902.9 18 573.6 8 738.8 31 934.6
Bồ Đào Nha 173.3 324.8 115 244.3 384.5 675.6
Italy 6 841.9 13 074.7 10 048.9 17 490.8 11 589.4 23 043.2
Đức 4 896.5 20 707.6 3 834.0 11 750.0 5 383.5 18 244.8
Anh 3 028.3 14 796.2 2 519.2 6 288.1 2 653.1 14 975.9
Pháp 5 273.0 15 372.1 3 445.9 12 281.8 4 308.2 14 599.3
Tây Ban Nha 1 858.2 4 802.5 2 042.0 5 122.0 3 739.5 8 261.6
Đan Mạch 284.7 1 254.6 465 1 258.3 569.1 1 880.4
Thuỵ Điển 146.1 1 534.6 86.5 299.4 255.7 1 346.2
Các thành viên mới
của EU
Séc - Czech 963.2 973 1 147.3 1 345.7 1 337.4 1 217.1
Ba Lan - Poland 50.6 130.5 157.7 335.9 568.2 1 101.5
EU-25
(Nguồn: Trung tâm Tin học)
Bỉ và Italy vẫn là hai thị trường nhập khẩu tôm chính của Việt Nam tại EU,
chiếm 53% tổng lượng hàng xuất sang EU năm. Việt Nam nằm trong tốp 10 nhà cung
cấp tôm hàng đầu của Bỉ với 4% thị phần nhập khẩu. Mặt hàng chính là tôm nước ấm
đông lạnh. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 9 trong số các nhà xuất khẩu thủy sản sang Anh.
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Đức giai đoạn 1999-2003
tăng 149% về khối lượng, từ 2.146 tấn lên 5.383 tấn và 68% về giá trị, từ 10,744 triệu
USD lên 18,244 triệu USD. Các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính sang Đức là cá
philê đông lạnh, nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn thể và thủy sản có vỏ. Sản phẩm tiềm
năng là cá basa philê đông lạnh.
• Thị trường Hoa Kỳ
Là một trong những nhà nhập khẩu hàng đầu thế giới, thu hút sự quan tâm của
cả thế giới nên cạnh tranh giữa các nhà xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng vô cùng gay gắt và
quyết liệt. Việt Nam mới chỉ thực sự thâm nhập thị trường Hoa Kỳ kể từ năm 2002 sau

Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hải sản (kể cả chế biến) đạt
777.66 triệu USD, tiếp tục xếp vị trí thứ hai sau hàng dệt may trong bảng xuất khẩu
của Việt Nam vào Hoa Kỳ, chiếm 35,3% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Trong nhóm hàng thuỷ sản, tôm đông lạnh đạt kim ngạch 469 triệu, chiếm 64% tổng
kim ngạch nhóm hàng thuỷ sản. Tôm và cua chế biến đạt 162 triệu USD. Kim ngạch
xuất khẩu cá phi lê giảm khoảng 19% so với trước do tác động của thuế chống bán phá
giá.
Năm 2004, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào Hoa Kỳ các mặt hàng như mực
đông lạnh, bạch tuộc đông lạnh, tôm đông lạnh, cá ngừ, cá đông lạnh, mực khô, các
khô và các mặt hàng khác với tổng số lượng đạt 91.380.6 tấn, trị giá là 602.9 triệu
USD. Hoa Kỳ chiếm 25,1% thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong đó, tôm
đông lạnh đạt 37.060 tấn, trị giá 397 triệu USD, cá đông lạnh đạt 33.680 tấn, trị giá
119 triệu USD.
Năm 2005, do tác động đồng thời của việc áp thuế chống bán phá giá cá tra, cá
ba sa philê đông lạnh và tôm đông lạnh, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa
SV:NGUYỄN HUY LONG TRANG 23
GVHD:ĐINH VĂN MẬU KẾ TOÁN THƯƠNG MẠI
Kỳ có phần giảm sút, thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm 23% thị phần xuất khẩu của Việt
Nam.
Nhìn chung, thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là khá rộng lớn và
đầy tiềm năng. Hiện nay, thị trường còn được mở rộng ra thêm. Tuy nhiên, vẫn còn
gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thủy sản như: bị kiện là bán phá giá, kiểm
dịch vệ sinh thực phẩm…
2. Đánh giá khả năng cạnh tranh đối với ngành thủy sản ở Việt
Nam sau khi gia nhập WTO:
2.1. Thách thức:
Sau khi gia nhập WTO, ngành thủy sản Việt Nam nói chung và các doanh
nghiệp nói riêng đã gặp phải một vài trở ngại:
Xuất khẩu thuỷ sản cũng còn nhiều thách thức, trong đó chủ yếu là các hàng rào
kỹ thuật mới từ các thị trường nhập khẩu đòi hỏi ngày càng cao. Bởi vậy, các doanh

toàn vệ sinh thực phẩm khép kín từ khâu sản xuất ban đầu (từ khâu sản xuất giống và
thức ăn cho thuỷ sản) đến các công đoạn nuôi, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch theo
nguyên tắc “ từ ao nuôi tới bàn ăn” còn nhiều bất cập chưa đáp ứng tốt các yêu cầu
khắt khe của các thị trường và của người tiêu dùng hiện đại.
Tuy đã có một số tiến bộ trong việc đa dạng hóa mặt hàng, song hàng thô vẫn
chiếm 60%, còn mặt hàng có giá trị gia tăng mới có 40%.
Vấn đề đăng ký nhãn hiệu và thương hiệu hàng hoá thuỷ sản cũng chưa được
quan tâm đúng mức. Ngoài nước mắm Phú Quốc, chưa có nhãn hiệu hàng hoá nào
được đăng ký chính thức trên thị trường thế giới. Nếu có nhãn hiệu và thương hiệu
chắc chắn sẽ tránh được nhiều rắc rối và nâng cao được uy tín của hàng thuỷ sản Việt
Nam trên thương trường.
Do chủng loại mặt hàng chế biến còn nghèo nàn chưa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
của người dân, hơn nữa việc tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị hầu như không có, vì vậy
lượng hàng thuỷ sản thông qua chế biến được tiêu thụ rất hạn chế, chủ yếu cho người
dân thành phố. Sản phẩm thuỷ sản phục vụ nhu cầu của thị trường vùng trung du miền
núi chưa đáp ứng được do giá cả và chi phí vận chuyển còn cao.
2.2. Cơ hội:
Năm 2007, sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 3,9 triệu tấn, trong đó, khai thác
đạt 1,95 triệu tấn, nuôi trồng 1,95 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD.
Công nghệ chế biến thủy sản của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ngang với trình
độ của các nước trong khu vực và bước đầu tiếp cận với công nghệ của thế giới. Việt
Nam có 470 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đông lạnh thì 346 cơ sở đạt tiêu chuẩn
ngành về An toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó 245 doanh nghiệp được phép xuất khẩu
sang EU, 34 doanh nghiệp được xuất vào Mỹ và Canada. Thuỷ sản là một trong ngành
kinh tế sớm lấy xuất khẩu làm hướng ưu tiên phát triển. Năm 2007, kim ngạch xuất
khẩu thủy sản Việt Nam đạt 3,75 tỷ USD (tăng gần 12% so với năm 2006), đưa nước
ta nằm trong top 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Con số này giúp thủy
sản tiếp tục duy trì ngôi vị thứ 4 trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu Việt Nam,
đồng thời khẳng định, thủy sản là ngành kinh tế hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích xã
hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status