TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
119
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VỚI KHOA HỌC TỰ NHIÊN
RELATIONS BETWEEN THE PHILOSOPHY OF DIALECTICAL
MATERIALISM AND NATURAL SCIENCES
Lâm Bá Hòa
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Lịch sử hình thành và phát triển hơn hai nghìn năm của triết học và khoa học
tự nhiên đã cho thấy hai lĩnh vực tri thức ấy luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau mà còn
chứng minh rằng, triết học duy vật biện chứng tìm thấy ở khoa học tự nhiên những cơ sở khoa
học vững chắc để khái quát nên những nguyên lý, quy luật chung nhất của mình, còn khoa học
tự nhiên lại tìm thấ
y trong triết học duy vật biện chứng thế giới quan, phương pháp luận đúng
đắn, sắc bén để đi sâu nghiên cứu giới tự nhiên. Việc nghiên cứu và nắm vững mối quan
hệ này có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, đặc biệt trong
công tác giảng dạy và nghiên cứu các môn lý luận chính trị nói chung, triết học nói riêng.
ABSTRACT
The history and development of philosophy and natural sciences over two thousand
years have shown that these two areas always have close relationships with each other. In fact,
dialectical materialism philosophy found its firm scientific bases in the natural sciences to
generalize its most common principles and rules; whereas, natural sciences also found their
world outlook and good methodology in dialectical materialism philosophy to study and
understand the natural world. Therefore, understanding this relationship plays a very important
role in awareness as well as in practice, especially in the teaching and researching of political
theories in general and subjects of philosophy in particular.
tích luỹ với những phát triển của khoa học triết học nói chung và khoa học cụ thể nói
riêng. Thực tế đã cho thấy, càng đi sâu vào nghiên cứu các hiện tượng khác nhau của tự
nhiên, khoa học tự nhiên càng vấp phải nhiều vấn đề mà tự nó không giải quyết được vì
những vấn đề đó tuy gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên nhưng lại là những vấn đề
triết học. Điều này đã được A. Einstein khẳng định: “Những khó khăn mà vật lý hiện
nay đang vấp phải trong lĩnh vực của mình đã buộc ông ta phải đề cập đến những vấn đề
triết học nhiều hơn so với các nhà vật lý của các thế hệ trước”.
Quan hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên, với các khoa học chuyên biệt nói
chung trải qua quá trình lịch sử lâu dài. Vào thời cổ đại, do trình độ nhận thức còn
đang ở điểm xuất phát, tri thức khoa học còn ở tình trạng tản mạn, sơ khai, nên triết
học hầu như là dạng thức lý luận duy nhất, bao trùm, giải quyết tất cả các vấn đề về tự
nhiên, xã hội và tư duy, mà lúc ấy thực ra cũng chỉ là những phác thảo sơ lược, chưa
thấy cụ thể, chưa hoàn thiện. Tính bao trùm ấy của tri thức triết học khiến nó được
xem như “môn khoa học đặc biệt đứng trên tất cả các môn khoa học khác”. Quan
niệm này tồn tại khá lâu trong lịch sử và Ph. Ăngghen đã gọi hệ thống Hegel là “cái
thai đẻ non cuối cùng” theo nghĩa này. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, cùng với quá
trình chuyên biệt hoá tri thức, triết học, xét về tính chất của nó không còn đóng vai trò
là “khoa học của các khoa học” nữa (nghĩa trực tiếp). Trong thời đại của chúng ta các
nhà khoa học có thể trở thành những triết gia, chứ không phải ngược lại. Ý tưởng
“triết học – khoa học của các khoa học” biểu thị một truyền thống, hơn là thực chất
của vấn đề.
Ngày nay, đứng trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, thì những khái niệm, những phạm trù, những tư tưởng, những phương pháp
nghiên cứu mới không ngừng ra đời. Mặt khác, cuộc cách mạng ấy cũng đang đặt ra
hàng loạt vấn đề về phong thái tư duy khoa khọc, về những bước phát triển mới của
nhận thức, của khoa học trong tương lai. Và đứng trước những đổi thay lớn lao của cách
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
121
mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là khoa học tự nhiên hiện đại, thì nhà khoa học
buộc các nhà khoa học tự nhiên phải tìm đến với một thế giới quan triết học đúng đắn
để từ đó lý giải những vấn đề cụ thể trong lý thuyết khoa học của mình. Như Albert
Einstein đã viết: “Các kết quả nghiên cứu khoa học thường gây nên những sự thay đổi
trong các quan điểm triết học đối với những vấn đề
vượt ra ngoài phạm vi của những
lĩnh vực rất hạn chế của bản thân khoa học”.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học duy vật biện chứng và khoa học tự nhiên
chẳng những giúp cho các nhà triết học hiểu biết thêm những tri thức về khoa học tự
nhiên mà còn làm cho họ thấy rõ được cơ sở khoa học chính xác, khách quan để triết
học dựa vào đó khái quát thành những nguyên lý, những quy luật và những phạm trù
triết học. Đồng thời, nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên đã
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
122
giúp cho các nhà khoa học tự nhiên nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo
thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học vào quá trình nghiên
cứu khoa học tự nhiên, làm cho họ luôn luôn ý thức được rằng, chỉ có cho mình một
phương pháp biện chứng duy vật thì họ mới có thể tiến xa hơn, đi sâu hơn vào các lĩnh
vực mà họ đang và sẽ nghiên cứu. Khi đưa ra nhận định về con đường phát triển phức
tạp của vật lý học V.I.Lênin đã viết: “Vật lý học hiện đại đang và sẽ đi, nhưng nó đi tới
phương pháp duy nhất đúng, đi tới triết học duy nhất đúng của khoa học tự nhiên,
không phải bằng con đường thẳng, mà bằng con đường khúc khuỷu, không phải tự giác
mà tự phát, không nhìn thấy rõ “mục đích cuối cùng” của mình, mà đi đến mục đích đó
một cách mò mẫm, ngập ngừng và thậm chí đôi khi giật lùi nữa. Vật lý học hiện đại
đang nằm trên giường đẻ. Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Một cuộc sinh
đẻ đau đớn. Kèm theo sinh vật sống và có sức sống, không tránh khỏi một vài sản phẩm
chết, một vài thứ cặn bả nào đó phải vứt vào sọt rác. Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật
lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như thuyết kinh nghiệm tượng
trưng, v.v… đều thuộc những thứ cặn bả phải vứt bỏ đi ấy”.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên còn góp cho con
đời của hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật biện chứng,
thay cho hình thức cũ đã tỏ ra lỗi thời.
Bên cạnh các khám phá thời đại ấy trong khoa học tự nhiên, được cổ vũ bởi sự
phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của kinh tế, kỹ thuật, mỗi ngành đều để lại dấu ấn của
mình lên các trang vàng của lịch sử, nhất là từ nửa sau thế kỷ XIX. Trong vật lý học, R.
Kirchhoff (1824-1887) xác lập phương pháp phân tích quang phổ, Emanuel Clausius
(1822-1888) phổ biến thuyết cơ học về nhiệt và đưa khái niệm entropy vào môn vật lý,
Michael Faraday (1791 - 1867) đưa ra thuyết trường điện từ, sau đó J. Maxwell (1831-
1879) xây dựng thuyết điện từ và ánh sáng. Trong hoá học, D. Mendeleev (1834-1907)
tìm ra quy luật tuần hoàn của các nguyên tố hoá học, Alecxandro Mikhailovich
Butlerop (1828-1886) xây dựng học thuyết cấu trúc hoá học các tổ hợp hữu cơ. Trong
sinh vật học, E. Haeckel (1834-1919) hoàn thiện thuyết phát triển và tiến hoá, Luis
Pasteur (1822-1895) đạt được những thành quả bước đầu ở lĩnh vực vi sinh.
Những thành tựu của khoa học tự nhiên nêu trên đã chứng minh được tính chất
biện chứng của các quá trình diễn ra trong tự nhiên. Chính sự phát triển của khoa học tự
nhiên, những thành tựu mới nhất của nó đã khiến cho phương pháp tư duy siêu hình cần
phải được thay thế. Theo Ph. Ăngghen, sự phát triển của khoa học tự nhiên, những
thành tựu mới nhất của nó từ thế kỷ XVI trở đi cho thấy tính tất yếu của tư duy biện
chứng, và chứng tỏ rằng, trong tự nhiên không có những phạm trù và những quan hệ bất
biến. Cũng chính từ việc khẳng định về tính tất yếu của tư duy biện chứng như đã nêu
trên nó giúp chúng ta đi tới khẳng định: phép biện chứng chính là cơ sở phương pháp
luận đối với khoa học tự nhiên, giúp các nhà khoa học khắc phục những hạn chế trong
khi tiếp cận với các vấn đề lý luận chung. Điều này đã được Ph.Ăngghen luận giải:
“Phép biện chứng là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên
hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự tương đồng và do đó đem lại phương
pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong giớ
i tự nhiên, giải thích những
mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên cứu này sang một lĩnh
vực nghiên cứu khác”.
Rõ ràng các nhà khoa học trước hết là những người đang phải giải quyết những
khoa học nào và ngược lại, trong bất kỳ lĩnh vực khoa học nào, người nghiên cứu muốn
đạt được chân lý thì cũng phải áp dụng phương pháp biện chứng. Nhà nghiên cứu cần
phải tuân theo phương pháp đó, không phải vì bị ai đó bắt buộc mà vì bản thân khách
thể nghiên cứu đòi hỏi phải như thế: Khách thể đó chỉ bộc lộ bản chất của mình cho
người nào trong quá trình nghiên cứu, sử dụng phương pháp được xây dựng trên cơ sở
quy luật khách quan.
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ cần nắm vững và vận dụng phương pháp biện
chứng là đã đủ để đạt tới chân lý trong từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Phương pháp
biện chứng là phương pháp chung nhất, phổ biến nhất, nhưng cái chung chỉ tồn tại trong
cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của mình, bất cứ cái riêng nào cũng
không được bao quát hoàn toàn trong cái chung. Vì vậy, phương pháp biện chứng cần
phải được cụ thể hóa, cá biệt hóa cho từng khoa học cụ thể.
Việc áp dụng phép biện chứng duy vật có thể diễn ra một cách tự giác, cũng có
thể diễn ra một cách tự phát. Lịch sử của khoa học đã chứng minh nhiều trường hợp như
vậy. Ví như: Từ hiện tượng năng lượng tách ra từ Ra, những người theo chủ nghĩa
Makhơ và thuyết duy năng ở cuối thế kỷ XIX đã rút ra kết luận: chủ nghĩa duy vật đã bị
phá sản. Do đó, họ cho rằng không cần tìm đại biểu vật chất của các thuộc tính phóng
xạ. Nhưng M. Curie – nhà khoa học thiên tài người Pháp lại đặt vấn đề ngược lại: Khả
năng phát ra các tia phóng xạ gắn liền với cái gì? Với trạng thái vật lý tạm thời của vật
thể như sự điện phân hay đó là một thuộc tính cơ bản của các nguyên tử thuộc loại vật
chất đặc biệt? Nếu nó gắn liền với trạng thái vật lý tạm thời của vật thể thì trong trường
hợp đó việc tìm kiếm các nguyên tố phóng xạ sẽ là vô nghĩa. Nhưng nếu đó là một
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
125
thuộc tính cơ bản của các nguyên tử thuộc loại vật chất đặc biệt thì trong khi đo các
phóng xạ (vận động), cần tìm đại biểu vật chất của nó. Qua đây chúng ra thấy, với
những người theo chủ nghĩa Makhơ và thuyết duy năng, những kết luận của họ chỉ đi
tới sự kìm hãm của phát minh khoa học, phản khoa học. Còn với M. Curie, việc áp dụng
phép biện chứng một cách tự phát nhưng lại đi tới phát minh khoa học. Hay như việc
do không nắm vững phép biện chứng, còn chịu ảnh hưởng của các trào lưu triết học sai
lầm, nên thường giải thích những thành tựu mới nhất của khoa học trên lập trường của
chủ nghĩa duy tâm và đưa khoa học tự nhiên đi lệch sang phía chủ nghĩa duy tâm. Đây
chính là lực cản của sự phát triển khoa học. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
126
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994.
[2] C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995.
[3] V.I. Lênin, Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980.
[4] Phạm Như Cương – Xa-trơ-cốp I.U.V, (Đồng chủ biên), Triết học – khoa học tự nhiên
– cách mạng khoa học-kỹ thuật, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1987.
[5.] I Rudavin, Một số quan điểm triết học trong Toán học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1979.
[6] N.A. Budrâykô, Những vấn đề triết học của Hóa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội,1979.
[7] Bùi Huy Đáp, Triết học Sinh vật học, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962.
[8] Werner Heisenberg, Vật lý và Triết học, Nxb Tri thức, 2009.
[9] Thomas Kuhn, Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học, Nxb Tri thức, 2008.