Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
lời nói đầu
Khi có pháp lệnh Ngân hàng, hệ thống Ngân hàng Việt nam được hình
thành và thực hiện theo hai cấp đã cho phép Ngân hàng Nhà nước đóng vai
trò Ngân hàng Trung ương và từ đây ra đời một hệ thống chính sách tiền tệ
được đúc rút từ kinh nghiệm của nhiều nước trên Thế giới. Ngân hàng Nhà
nước với chức năng quản lý Nhà nước đối với Ngân hàng thương mại, tổ chức
tín dụng đã từng bước tiếp cận với cơ chế mới trong việc xây dựng và điều
hành chính sách tiền tệ Quốc gia thông qua các công cụ trực tiếp hoặc gián
tiếp như hạn mức tín dụng, nghiệp vụ tiêu thụ mở hoặc cạnh tranh dự trữ bắt
buộc.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương thời gian qua đã góp phần
nhất định vào sự phát triển kinh tế, ổn định tiền tệ đất nước. Tuy nhiên trong
việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp nhiều trở
ngại. Trước hết là sự am hiểu về một phương pháp điều hành mới còn nhiều
hạn chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn thiếu những điều kiện để điều
hành chính sách tiền tệ theo nghĩa gốc của mỗi công cụ. Vì vậy đối với Ngân
hàng Trung ương việc lùa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính
sách tiền tệ Quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là Èn số và chắc chắn có
những bắt cập là điều khó tránh khỏi.
Chính vì thế, chuyên đề này tập trung phân tích nội dung các công cụ,
thực hiện điều hành chính sách tiền tệ ở Việt nam, kinh nghiệm trên Thế giới
và một số điều kiện để chuyển đổi công cụ chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang
gián tiếp, góp phần nâng cao tính hiệu quả và sự linh hoạt của chính sách tiền
tệ.
1
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
CHƯƠNG I: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CÁC CÔNG CỤ
vậy chính sách tiền tệ phải tập trung vào tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn
nhằm giảm thất nghiệp. Bằng các biện pháp tác động để tăng cường vốn đầu
tư, mở rộng các hoạt động cho nền kinh tế.
- Cân bằng cán cân thanh toán.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh và điều kiện kinh tế ở từng nước, trình độ
quản lý và các vấn đề kinh tế xã hội của nước mà chính sách tiền tệ hướng ưu
tiên vào các mục tiêu khác nhau. Mặt khác cùng một lúc chính sách tiền tệ
không thể đạt được tất cả các mục tiêu vì có khi các mục tiêu mâu thuẫn với
nhau. Chẳng hạn: Về mặt dài hạn không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của
chính sách tiền tệ nhưng trong ngắn hạn có những mục tiêu phù hợp nhưng
cũng có mục tiêu mâu thuẫn, thậm chí đối nghịch.
Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giảm lạm
phát để đảm bảo giá trị đồng tiền, điều đó dẫn đến lãi suất tăng lên, không
khuyến khích đầu tư và thất nghiệp có xu hướng tăng trong khi muốn duy trì
một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải khuyến khích đầu tư, dẫn đến thực thi
chính sách tiền tệ mở rộng làm tăng giá.
Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu công ăn việc làm và mục tiêu ổn định giá
còn được thể hiện do mức cung tiền tệ nhằm thoả mãn mức cầu tiền thực tế
dẫn đến giá cả hàng hoá tăng theo
Để đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Ngân hàng Trung
ương phải xác định mục tiêu trung gian để có thể xét đoán nhanh chóng được
tình hình thực hiện các hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối
cùng, hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy được kết quả cuối cùng của các mục
3
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
tiêu đó. Mục tiêu trung gian là điều tiết cung tiền thông qua chi phối dòng tiền
chu chuyển và khối lượng tiền.
Xét cho cùng Ngân hàng Trung ương có thể thực thi hai loại chính sách
tiền tệ phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế:
tiêu trung gian đã tác động đến tổng cầu.
1.1. Hạn mức tín dụng:
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc
các tổ chức tín dụng phải tôn trọng trong khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng kể. Thực chất biện pháp
này cho phép Ngân hàng Trung ương Ên định trước khối lượng tín dụng phải
cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm con
đường để đưa nó vào nền kinh tế.
Việc quy định hạn mức tín dụng thường được Ngân hàng Trung ương sử
dụng khi nền kinh tế có nhiều biến động để kiểm soát khối lượng tiền trong
lưu thông đảm bảo cho sự bình ổn của tiền tệ, giá cả. Hạn mức tín dụng sé
phát huy được tác dụng trong điều kiện có lạm phát. Song trong nền kinh tế
thị trường, cung - cầu tín dụng biến động không ngừng, biện pháp này chỉ
được áp dụng một cách hạn chế khi tình huống yêu cầu.
Khi sử dụng hạn mức tín dụng là khống chế dư nợ của các Ngân hàng
thương mại, từ đó quyết định đến lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế vì
mỗi khoản cho vay cấu thành dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại
thì tương ứng với nó là một lượng nguồn vốn tiền gửi huy động, từ đó ảnh
hưởng đến tỷ trọng vốn tín dụng so với lượng tiền cung ứng. Khi Ngân hàng
Trung ương tăng hạn mức tín dụng dẫn đến tăng khả năng tạo tiền qua hệ
thống Ngân hàng, do đó làm tăng lượng tiền cung ứng và ngược lại. Hạn mức
tín dụng tác động vào hệ số mở rộng tiền tệ nên tác động vào lượng tiền cung
ứng.
5
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
1.2. Lãi suất tiền gửi và cho vay.
Ngân hàng Trung ương có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và cho
vay buộc các Ngân hàng kinh doanh phải thi hành.
Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hót được nhiều tiền gửi làm gia tăng
2.2. Lãi suất tài chiết khấu.
Chính sách tài chiết khấu thể hiện qua việc Ngân hàng Trung ương cung
ứng vốn tín dụng cho Ngân hàng thương mại. Chính sách tài chiết khấu được
thực hiện thông qua các cửa sổ chiết khấu. Ngân hàng Trung ương áp dụng lãi
suất chiêt khấu và qui định các điều kiện để tài chiết khấu cho các tổ chức tín
dụng.
Ngân hàng Trung ương áp dụng chính sách tài chiết khấu: Là lãi suất mà
Ngân hàng Trung ương áp dụng để chiết khấu lại các giấy tờ có giá của Ngân
hàng thương mại. Đây là loại cho vay có đảm bảo.
Lãi suất tài chiết khấu tác động vào giá tín dụng nên khi lãi suất tài chiết
khấu tăng sẽ tác động vào mặt bằng giá vốn đầu tư của Ngân hàng thương
mại, gây áp lực và lãi suất nền kinh tế sẽ tăng theo, thu hẹp khả năng cho vay
của Ngân hàng thương mại dẫn đến hệ số tạo tiền giảm và ngược lại. Việc
tăng lãi suất tài chiết khấu cũng gây hiệu ứng thông báo, nhà kinh doanh sẽ
biết tác động của Ngân hàng Trung ương thông qua chính sách chiết khấu tối
thị trường. Người đầu tư giám sát sự thông báo lãi suất của Ngân hàng Trung
ương để dự tính được xu hướng thay đổi lãi suất để tìm biện pháp phòng
ngõa, ngăn chặn làm thay đổi tiền gửi và lãi xuất cho vay đồng thời tác động
giá chứng khoán.
Đi kèm với lãi suất tài chiết khấu Ngân hàng Trung ương còn qui định
hạn mức tài chiết khấu tức là qui định cho vay tối đa trên cơ sở lãi suất đã qui
định để gây ảnh hưởng về lượng vốn mà các tổ chức tín dụng vay của Ngân
hàng Trung ương. Đồng thời Ngân hàng Trung ương còn qui định các tiêu
chuẩn thể hiện tài chiết khấu nh về thời hạn về thể loại giấy tờ có giá, chất
7
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
lượng giấy tờ có giá, và uy tín của tổ chức tín dụng khi vay vốn của Ngân
hàng Trung ương.
2.3. Nghiệp vụ thị trường mở.
I. BỐI CẢNH CHUNG.
Đảng Cộng Sản Việt nam lần thứ 6 đã đánh dấu sự chuyển đổi từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
Bước ngoặt này là tiền đề khách quan, là điều kiện mới cho cải cách tổ chức
hoạt động hệ thống Ngân hàng và định hướng chính sách tiền tệ ở Việt nam.
Từ năm 1990, sau khi 2 pháp lệnh Ngân hàng được ban hành (pháp lệch
về Ngân hàng Nhà nước và pháp lệch Ngân hàng - Hợp tác xã tín dông -
Công ty tài chính), hệ thống Ngân hàng Việt nam chuyển đổi từ một cấp sang
2 cấp, phân định ró chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh
tiền tệ của các tổ chức tín dụng, bước đầu thích ứng dần với hệ thống Ngân
hàng của nền kinh tế tiền tệ.
Chính sách tiền tệ được xác định thông qua xây dựng các chính sách cụ
thể: chính sách tín dụng tạo ra nhiều công cụ huy động vốn và đồng thời mở
rộng cho vay đến mọi thành phần kinh tế; chính sách lãi suất (xoá bỏ bao cấp
qua lãi suất cho vay, thực hiện chính sách lãi suất thực dương, điều chỉnh lãi
suất huy động và cho vay phù hợp với sự biến động của chỉ số lạm phát );
chính sách quản lý ngoại hối và một số các công cụ hỡ trợ khác.
Đến tháng 10 năm 1998, luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức
tín dụng bắt đầu được thực thi, thay thế hai pháp lệnh năm 1990 nhằm giúp
9
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
hoạt động của hệ thống Ngân hàng tự do hơn, thông thoáng hơn phù hợp với
thay đổi lớn lao trong hệ thống Ngân hàng.
II. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương là tổng hoà các giải pháp
đảm bảo ổn định đồng tiền và thị trường tiền tệ , góp phần giải quyết các mục
tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Đứng trên phương diện này, thời kỳ 1986 đến nay
có thể chia làm 4 giai đoạn.
1. Giai đoạn 1986 - 1988.
1
: Tiền mặt lưu thông ngoài hệ thông Ngân hàng và tiền gửi không kỳ
hạn tại Ngân Hàng.
M
2
: Gồn M
1
và tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn.
M
3
: Gồn M
2
và các loại tiền gửi các định chế tổ chức khác.
L: Gồm M
3
và các giấy tờ có giá
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do đó
trong quá trình xác định chi tiêu này Ngân hàng Nhà nước quán triệt các
nguyên tắc:
- Căn cứ vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khối lượng tiền tệ tương ứng
với mức tăng trưởng kinh tế.
- Khối lượng tiền cung ứng có tính đến phạm vi tỷ lệ lạm phát.
- Khối lượng tiền cung ứng dùa vào ngoại hối trong tay người cư trú.
- Tiền cung ứng chịu ảnh hưởng bởi tốc đọ lưu thông tiền tệ theo công
thức:
Khối lượng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm bao gồm tiền mặt, các
loại tiền gửi ở Ngân hàng nhằm dành cho nhu cầu đầu tư tín dụng cho nền
11
P x Q
V=
đa hoặc chỉ khống chế trần lãi suất cho vay. Tất cả các loại lãi suất trên đều có
ảnh hưởng đến lãi suất thị trường.
12
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
+ Dù trữ bắt buộc: để kiểm soát việc tạo tiền của các Ngân hàng thương
mại và điều tiết khối lượng tind dông cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước
Việt nam áp dụng công cụ dự trữ bắt buộc.
Tiền DTBB = Tỷ lệ DTBB x Số dư tiền gửi huy động
Theo pháp lệnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10 - 30% nhưng Ngân hàng Nhà
nước thường xuyên áp dụng ở mức 10% cho tất cả tiền gửi huy động. Sau đó
có thể quy định riêng cho tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Thời
kỳ này còn áp dụng cơ cấu dự trữ bắt buộc bao gồm: Tiền gửi trên tài khoản
tại Ngân hàng Nhà nước và tiền mặt ngân phiếu tại quỹ của Ngân hàng
thương mại, cũng có khi cho phép cả khoản mua tín phiếu kho bạc cũng được
coi là dự trữ bắt buộc và để giảm bớt gánh nặng dự trữ bắt buộc cho các Ngân
hàng.
+ Hạn mức tín dụng: Là công cụ để Ngân hàng Nhà nước khống chế
mức tăng lượng tiền cung ứng. Trong thời kỳ này công cu hạn mức tín dụng
được hiểu là mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước sử dụng để cấp cho nền
kinh tế thông qua hệ thông hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng kết hợp với
sử dụng nghiệp vụ tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu để khống chế mức tăng
khối lượng tiền cung ứng phù hợp với yêu cầu của kiểm soát lạm phát.
Tóm lại, trong giai đoạn này, nền kinh tế đã đi dần vào trạng thái ổn định
và tăng trưởng cao: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1994 đạt 8,8%, năm 1995
đạt 9,5%. Nhân tố quyết định trạng thái ổn định này là do Nhà nước qua kinh
nghiệm điều hành đã nhận thức được rõ tác dụng của cung ứng tiền tệ lên lạm
phát nên đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ hoạt động ngân hàng và thực hiện
thành công chính sách tiền tệ.
Giai đoạn này đã tạo ra nhiều yếu tố quyết định cho chiều hướng thuận
14
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
+ Công cụ tài cấp vốn: Ngân hàng Nhà nước thực hiện tài cấp vốn ngắn
hạn nhằm bù đắp khó khăn tạm thời về thanh toán cho các Ngân hàng thương
mại theo các hình thức:
\ Cho vay theo hồ sơ tín dụng.
\ Chiết khấu, tài chiết khấuthương phiếu và các chứng từ có giá ngằn
hạnkhác.
\ Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các chứng từ có giá
ngắn hạn khác.
+ Công cụ lãi suất: Chính sách lãi suất được Ngân hàng Nhà nước sử
dụng trong mối quan hệ điều hoà với tỷ giá. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục
thực hiện việc kiểm soát lãi suất trên thị trường tiền tệ bằng chính sách quy
định trần lãi suất cho vay đối với VNĐ và ngoại tệ, trên cơ sở đó các tổ chức
tín dụng Ên định các mức lãi suất huy động phù hợp với cung - cầu tín dụng.
Hiện nay đang tiến hành tới quy định lãi suất cơ bản.
+ Công cụ tỷ giá: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa 2 đồng tiền hay
giá cả một đơn vị tiền nước này bằng bao nhiêu đơn vị tiền nước khác.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện biện pháp điều hành tỷ giá linh hoạt, phù
hợp với diễn biến trên thị trường ngoại hối trong khu vực.
+ Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Hiện nay Việt nam đang chuẩn bị
các điều kiện cần thiết để đưa công cụ nào về vận hành. Vừa qua mới ban
hành quy chế và đang thí điểm, thể hiện Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua
bán tín phiếu ngăng hạn, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước để tác động vào
lượng tiền cung ứng, việc thực hiện ban đầy gặp lhó khăn, song do hàng hoá ở
thị trường chưa có nhiều, vì vậy công cụ này chưa phát huy được hiệu quả.
Từ năm 1996, hàng năm Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền
tệ bằng cách xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ. Mục tiêu cuảu chính
sách tiền tệ phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, diễn
16
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
Thị trường liên Ngân hàng nội ngoại tệ được thành lập và đi vào hoạt
động từ những năm 1993 - 1994 nhưng chưa phát triển sôi động, chưa trở
thành giao điểm hội tụ và định hướng chuyển dịch các dòng vốn nhàn rỗi giữa
các Ngân hàng thương mại. Các giao dịch ngoại tệ chinhd thức bị gò bó, chi
phối chưa mạnh và kịp thời với biến đọng tỷ giá hối đoái thị trường. Thị
trường vốn mới ở dạng “manh nha” nên khả năng cung ứng vốn đầu tư trung,
dài hạn cho nền kinh tế còn rất yếu. Việc tạo lập các công cụ và thể chế phát
triển thị trường tiền tệ ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn nói chung mới bắt
đầu và còn gặp không Ýt khó khăn: Đó là những trở ngại lớn cho Ngân hàng
Nhà nước trong việc tiến hành nghiệp vụ thị trường mở để kiểm soát, điều
chỉnh kịp thời tổng lượng tiền trong lưu thông.
- Sù thâm hụt lớn của cán cân vãng lai do nhập siêu triền miên và gánh
nặng của bội chi ngân sách tạo nên những áp lực từ nhiều phía đe doạ tính ổn
định, độc lập tương đối của chính sách tiền tệ mà bước đầu đã tạo dựng được
ở giai đoạn chống lạm phát trước đây, thâm hụt cán cân vãng lai chủ yếu phải
bù đắp bằng nhập khẩu vốn là nguyên nhân chính gây ra nạn “dollar hoá”
khiến VNĐ bị đánh giá quá cao kích thích tâm lý tích luỹ giá trị dưới dạng
ngoại tệ, không gian tiền tệ bị méo mó. Trong khi đó sự nôn nóng uốn nắn
một cách cứng nhắc hoạt động tiền tệ tín dụng và Ngân hàng sau một vụ đổ
vỡ tài chính làm tái phát xu hướng bao cấp tràn lan qua hạn mức tín dụng, qua
lãi suất ưu đãi, qua áp lực chỉ định cho vay của các cấp chính quyền Đó là
những trở ngại không dễ dỡ bỏ trong quá trình hoàn thiện chính sách tiền tệ
hiện nay.
17
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
CHƯƠNG III. HẠN CHẾ CỦA CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNHTRỰC
nhu cầu vốn chưa phát triển và chưa trở thành thãi quen của cộng đồng.
đương nhiên khi các điều kiện của cơ chế gián tiếp chưa hình thành thì việc
sử dụng cơ chế trực tiếp là tất yếu.
Trong thực tế, cơ chế điều chỉnh trực tiếp đã đem lại sự thành công đáng
kể cho chính sách tiền tệ trong thập kỷ 90 khi nhìn vào sự biến động của các
mục tiêu vĩ mô, lạm phát, sản lượng và công ăn việc làm. chính sách tiền tệ đã
đạt được hiệu quả tối đa của nó.
Nếu quan niệm rằng mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định
giá trị tiền tệ với ý nghĩa là ổn định tỷ lệ lạm phát ở mức thấp thì trong thời
gian vưa qua mục tiêu này chưa được thực hiện một cách hoàn hảo tỷ lệ lạm
phát biến động tương đối mạnh và khó dự đoán từ năm này qua năm khác.
Những biến động về hiệu quả và phân phối lại các lạm phát do ảnh hưởng đến
giá trị thực của các chỉ tiêu giá trị không chỉ nảy sinh từ mức lạm phát cao mà
chủ yếu từ sự bất ổn định của tỷ lệ lạm phát. Vì điều quan trọng bắt đầu từ
năm 1996, mặc dù tổng phương tiện thanh toán tăng liên tục nhưng giấ cả có
xu hướng giảm ở các tháng đầu năm 1996, 1997, 1998 và sự giảm giá này
diễn ra ở hầu hết các tháng trong năm 1999. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng
giảm mạnh từ năm 1998. Điều này chứng tỏ chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước tỏ ra lúng túng và thiếu chủ động trong việc điều tiết lượng tiền
cung ứng để đảm bảo cho phù hợp vỡi nhu cầu về tiền tệ của nền kinh tế.
Lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trên có lẽ xuất phát từ hạn chế vốn có
của cơ chế điều chỉnh trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ mà ngày
càng bộc lé rõ nét:
Một là: Các công cu trực tiếp không cho phép Ngân hàng Nhà nước có
thể điều chỉnh linh hoạt lượng vốn khả dụng trong điều kiện ứ thừa.
Tình trạng dự trữ không mong muốn ở các Ngân hàng thương mại bắt
đầu từ năm 1994 và kéo dài đến nau. Lý do ban đầu có lẽ bởi việc duy trì lãi
19
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
Cng_CH13A
Kờnh dn truyn trc tip:
Kờnh dn truyn giỏn tip ch yu li dng c ch tỏc ng ca th
trng ti chớnh thụng qua sự thay i ca gia ti sn v s c cu li danh
mc u t ca ngi u t. Vi cỏc cụng c giỏn tip, c bit l nghip v
th trng m, Ngõn hng Trung ng cú th a phng truyn tỏc ng ca
nú n mc tiờu cui cựng ca chớnh sỏch tin t, bao bm cỏc kờnh dn
truyn trc tip v giỏn tip.
21
GNP thực tế tăng
Lạm phát tăng
MS Chỉ tiêu tăng GNP danh nghĩa tăng
Chính sách tín dụng
Chính sách quản lý ngoại hối
Nhập khẩu tăng
Xuất khẩu giảm
Tài khoản
vãng lai bội
chi
VNĐ giảm giá
Tiu Lun Kinh T V Vụ Lờ Mnh
Cng_CH13A
Kờnh dn truyn giỏn tip.
Vic phõn tớch nhng hn ch cụng c trc tip cũng nh ch ra li
th ca cụng cgiỏn tip trong iu hnh chớnh sỏch tin t khụng ph nhn
22
MS tăng
Lãi suất ngănd hạn giảm
Cơ cấu lại danh mục đầu t
gián tiếp đang dần hình thành hứa hẹn một khả năng chắc chắn cho sự chuyển
đổi cơ chế điều tiết lượng tiền cung ứng. Công việc cần phải làm tiếp theo là
đánh giá và dự tính hiệu quả tác động của công cụ gián tiếp trong điều kiện cụ
thể của Việt nam.
II. CÁC ĐIỀU KIỆN NHẰM CHUYỂN ĐỔI CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ TỪ TRỰC TIẾP SANG GIÁN TIẾP.
Chuyển đổi việc diều hành chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang gián tiếp
là một quá trình phức tạp, thường đòi hỏi một thời gian khá dài để hoàn thành.
Kinh nghệm một số nước đã cho thấy quá trình chuyển đổi có thể gặp phải
những khó khăn, chi phí nặng nề và có thể kéo dài nếu không có một phương
pháp tiếp cận toàn diệnvới các công cụ gián tiếp. Đặc biệt ở những nước
không thực hiện những biện pháp hỗ trợ đầy đủ. Hiệu quả kiểm soát tiền tệ đã
giảm xuống và một số nước đã đình chỉ (hoặc đi ngược lại) những lỗ lực
chuyển đổi của họ. Để khắc phục những khó khăn ở mức thấp nhất và tạo
23
Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Vô Lê Mạnh
Cường_CH13A
điều kiện thực hiện chuyển đổi trôi chảy chung ta cần phải giải quyết các vấn
đề cơ bản sau:
1. Phát triển thị trường tài chính.
Việc sử dụng các công cụ gián tiếp của Ngân hàng Trung ương sé có
hiệu lực hơn nếu được cạnh tranh thực hiện trong điều kiện thị trường tài
chính phát triển. Vì vậy, để Ngân hàng Nhà nước Việt nam có thể thực hiện
quá trình chuyển việc điều hành chính sách tiền tệ từ công cụ trực tiếp sang
công cụ gián tiếp một cách có hiệu quả thì cần phải phát triển thị trường tài
chính. Dười đây là một vài giải pháp phát triển thị trường tài chính Việt nam.
- Việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc phải tập trung vào một đầu
mối thông qua Ngân hàng Trung ương làm đại lý.
- Ngân hàng Trung ương cần nghiên cứu cơ chế phát hành tind phiếu
Ngân hàng Trung ương.
dựng những hành lang an toàn dưới hình thức các tiêu chuẩn về vốn tối thiểu
lập quỹ phòng ngõa rủ ro, các yếu tố về cần cố vốn, bảo lãnh, thế chấp và các
cơ chế khác nhằm khuyến khích các hành vi thận trọng trong kinh doanh tiền
tệ. Các báo cáo tài chính phải qua kiểm toán và đảm bảo tính công khai để
cho thị trường và các nhà chức trách có thể thực hiện hữu hiệu vai trò của họ
trong kỷ cương tài chính.
- Có mạng lưới thông tin hoàn chỉnh.
2. Cải cách hệ thống Ngân hàng.
2.1. Cải cách hệ thống Ngân hàng thương mại.
Hệ thống Ngân hàng thương mại cần được cơ cấu lại nhằm xây dựng
những Ngân hàng thương mại mại mạnh và thúc đẩy quá trình cạnh tranh.
Khu vực Ngân hàng hiện nay đang đứng trước một áp lực mạnh mẽ từ sự tăng
trưởng chậm lại cải nền kinh tế và điều kiện tài chính ngày càng xấu đi của
một bộ phận lớn doanh nghiệp Nhà nước. Hiện tỷ lệ xấu (Bao gồm nợ quá
hạn khó đòi, nợ đã được khoanh, nợ chờ xử lý) của các Ngân hàng thương
25