CẤP CỨU NHỒI MÁU CƠ TIM NHỮNG ĐIỂM MỐC
MÁU. Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde), gây thương tổn cơ tim,
không phải là nhồi máu duy nhất có thể có trong cơ thể. Thí dụ nhồi máu
cũng có thể liên quan đến não bộ hay phổi. Chữ nhồi máu (infarctus) phát
xuất từ động từ latin infarcire, “nhồi nhét, làm đầy”. Một trong những lần
đầu tiên chữ nhồi máu xuất hiện là trong một sách chuyên luận y khoa nằm
1770, được soạn thảo bởi M.Lieutaud, thầy thuốc chuyên về trẻ em đầu tiên
của Pháp, và chữ này lại liên hệ đến…các hạch hạnh nhân (amygdales).
Người ta đoán rằng Jean-Sébastien Bach chết vì nhồi máu. Và Louis de
Funès, sau hai lần nhồi máu chỉ có thể chơi nếu thầy thuốc và xe cứu thương
túc trực bên cạnh.
CÁC ĐỘNG MẠCH VÀNH. Sự làm việc không ngừng của tim cần phải,
như mọi loại cơ khác, được cung cấp “chất đốt” (carburant) nghĩa là thức ăn
và oxy. Để được như vậy tim phải có rất nhiều mạch (vascularisé). Quả tim,
mặc dầu trung bình chỉ chiếm 0,5% khối lượng cơ thể, nhưng lại tiêu thụ
khoảng 5% máu được oxy hóa khi đi ra khỏi tim. Để được như vậy, tim có
riêng cho mình một hệ phân bố máu nhỏ, được gọi là tuần hoàn mạch vành.
Các động mạch vành phải và trái, phát xuất từ động mạch chủ, phân chia
thành các nhánh càng ngày càng nhỏ, thường nối kết với nhau để tưới toàn
bộ cơ tim.
HOẠI TỬ. Sự lưu thông động mạch vành này rất dễ đưa đến sự tạo thành
những mảng xơ mỡ (plaque d'athérome) (cholestérol xấu), có thể gây nên
những cục máu đông và do đó làm bít các huyết quản. Và dẫn đến sự hoại tử
của cơ tim, những tế bào bị ngạt phải ngừng hoạt động.
NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ. Cũng như những bệnh tim mạch khác,
những yếu tố nguy cơ là thuốc lá, cholestérol, cao huyết áp, đái đường,
không hoạt động vật lý, chế độ ăn uống mất quân bình Trong vài trường
hợp, mặc dầu được điều trị tốt, một nhồi máu cơ tim có thể gây nên suy tim
phút, gây nên hoại tử một phần của cơ tim. Bị mất một phần khả năng co
bóp, khi đó tim không còn có thể hoạt động một cách bình thường và ngay
cả có thể ngừng đập nếu nhồi máu lan rộng hơn 40% bề mặt của nó. Vậy
mục tiêu của điều trị nội khoa là khai thông động mạch bị tắc càng nhanh
càng tốt để tái lập sự cung cấp oxy và giới hạn sự lan rộng của vùng đang
hoại tử.
MỘT CAN THIỆP TỐI ƯU
Thường nhất, nhồi máu gây nên một cơn đau mạnh “siết chặt” ngực và có
thể lan lên hàm và/hoặc trong các cánh tay. Cơn đau có thể kèm theo nôn
mửa, khó thở, một cảm giác lo âu. Phản xạ tốt nhất khi đứng trước những
dấu hiệu gợi ý này, là gọi 15, trong tất cả các trường hợp, và nếu cần, xoa
bóp tim trong khi chờ đợi xe cứu thương. “Để đào tạo động tác này, và từ
nay ta thực hiện ngay cả không cần hà hơi thổi ngạt (bouche-à-bouche), GS
Claude Le Feuvre, phó chủ tịch Liên đoàn tim học Pháp đã xác nhận như
vậy. Mặt khác, L’observatoire Stent for life ngày mai sẽ trình bày một công
trình nghiên cứu trên 200 bệnh nhân trong 5 vùng của nước Pháp, cho thấy
rằng tỷ lệ tử vong giảm với số người can thiệp sau lần gọi đầu tiên và dưới
một nửa các appel trước hết được hướng về Samu, mà sự xử trí lại hiệu quả
nhất và nhanh nhất. Thật vậy từ nay có một circuit trực tiếp, hoàn toàn được
tối ưu hóa để can thiệp rất nhanh và làm giảm thời hạn giữa những dấu hiệu
đầu tiên của nhồi máu cơ tim và sự khai thông của các động mạch vành, mà
không cần phải quá nhiều người can thiệp. Mục tiêu là khai thông động
mạch trong 90 phút sau những dấu hiệu đầu tiên nhằm giảm thiểu những hậu
quả của nhồi máu.
Kíp y tế được gởi bởi Samu thực hiện ngay một điện tâm đồ để biết những
động mạch có hoàn toàn bị bít hay không. Trong trường hợp này, kíp y tế có
thể tiêm ngay những thuốc làm tan huyết khối (médicaments
thrombolytiques) nhằm làm tan hoàn toàn hay một phần cục máu đông. Nếu
phương pháp này không đủ hoặc nếu có thể chuyển rất nhanh bệnh nhân đến
một trung tâm can thiệp chuyên khoa, một angioplastie được thực hiện để