1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hà Tĩnh mảnh đất giàu truyền thống văn hoá - nơi sinh tụ của không
nhiều các dân tộc anh em nói ngữ hệ Việt - Mường. Mặc dù, đã được biết đến
từ lâu nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về dân tộc thiểu số ở
Hà Tĩnh.
Hiện tại, đời sống của đồng bào đang gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ
nghèo đói cao, khoảng cách giàu nghèo giữa đồng bào các dân tộc thiểu số và
đồng bào dân tộc Kinh khá lớn và đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Để
giúp đồng bào vươn lên đuổi kịp các dân tộc khác trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam đòi hỏi phải có các chính sách đồng bộ hợp lý từ Trung ương
đến địa phương.
Thời gian qua Nhà nước và địa phương đã có nhiều chương trình, dự án
đầu tư giúp đỡ đồng bào nhưng hiệu quả mang lại chưa được như mong
muốn. Thu nhập và mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn thấp,
các dạng hình kinh tế lạc hậu, đời sống văn hoá nghèo nàn, quan hệ xã hội
biệt lập, Nguyên nhân cơ bản của tình hình trên là do hiểu biết về phong tục
tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số còn quá ít ỏi nên các chương trình,
dự án mang nặng tính chủ quan, áp đặt từ phía các cấp quản lý, chưa xuất phát
từ đời sống và mong muốn của đồng bào.
Để có cơ sở giúp các ban, ngành của tỉnh trong việc hoạch định chính
sách phát triển kinh tế - xã hội từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dân
tộc thiểu số vốn đang rất khó khăn hiện nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đồng bào các dân tộc thiểu số
vùng núi tỉnh Hà Tĩnh”.
1
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Thông qua việc đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội của đồng bào các
dân tộc thiểu số vùng núi Hà Tĩnh thời gian qua, đề xuất các giải pháp phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống cho đồng bào các dân tộc
3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về dân tộc
Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch
sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã
hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn
bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ
và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển
thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như
ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương
thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý
thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến
tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và
những dân tộc khác nhau như chúng ta thấy hiện nay. Có thể quan niệm dân
tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và
phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh
thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng
hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho
trình độ văn minh đã đạt được [5].Văn hoá của các dân tộc có những nét
chung giống nhau (thí dụ như đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên
nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách
dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các
nếp tâm lý và tư duy, các ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra
tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại.
Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp
với khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội được
4
quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có,
số trong một quốc gia đa dân tộc và không mang ý nghĩa phân biệt địa vị,
trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc
không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều
kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số
dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong
một quốc gia đa dân tộc và cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so
sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới.
Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng
thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác [16]. Chẳng hạn người Việt (Kinh)
được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu
số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc),
…
2.1.3 Quan điểm của Đảng về chính sách dân tộc
2.2.3.1 Đoàn kết - Bình đẳng - Tương trợ
Đó là ba nguyên tắc đồng thời là ba nội dung của chính sách dân tộc, có
mối quan hệ hữu cơ với nhau và được thể hiện như sau [19]:
- Đoàn kết dân tộc là nguyên tắc, là điểm xuất phát và là mục tiêu cần
đạt được của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
- Bình đẳng dân tộc vừa là nguyên tắc vừa là điều kiện, là cơ sở để đạt
được đoàn kết lâu dài bền vững.
- Tương trợ cũng là điều kiện để đoàn kết thiết thực, đồng thời thúc đẩy
bình đẳng dân tộc về mọi mặt. Tương trợ giữa các dân tộc mang nghĩa vụ hai
6
chiều giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, chứ không phải là một sự ban ơn.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem vấn đề dân tộc và đoàn kết
dân tộc có tầm quan trọng chiến lược trong chỉ đạo cách mạng nước ta. Các
thế lực thù địch luôn tìm cách chia rẽ các dân tộc, song chúng luôn thất bại vì
đoàn kết dân tộc đã trở thành truyền thống hết sức quý báu của các dân tộc.
Truyền thống đó được phát huy mạnh mẽ trong điều kiện lịch sử mới và thể
động, để có những thành quả lao động cao hơn cũng như giúp nhau trong
sinh hoạt bằng những hành động cao cả. Những điều đó là sự thể hiện tinh
thần và kết quả của việc thực hiện bình đẳng, đoàn kết với đồng bào thiểu số.
2.2.3.2 Cơ sở phát triển của đồng bào các dân tộc thiểu số
Sự phát triển của đồng bào các dân tộc thiểu số phải dựa trên cơ sở sự
giúp đỡ của Nhà nước và sự tự vươn lên của chính bản thân tộc người.
Sự giúp đỡ của Nhà nước chính là việc xây dựng và thực hiện các
chương trình, dự án cụ thể và tạo ra những khả năng, điều kiện thực hiện có
hiệu quả. Sự phát triển chậm về kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số
có thể là do kế hoạch phát triển còn thiếu điều tra nghiên cứu cụ thể, có nội
dung còn xa với thực tế và yêu cầu của đồng bào, đôi khi còn là sự áp đặt nên
không được đồng bào ủng hộ. Để phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào, sự
đòi hỏi hiện nay là tăng thêm các chương trình, dự án, trong đó chú trọng đến
các dự án tạo ra các điều kiện sản xuất.
Sự tự vươn lên của bản thân tộc người là hết sức quan trọng. Chính vì
vậy, lúc còn sống Bác Hồ thường động viên các dân tộc thiểu số: “Cố gắng
vươn lên phấn đấu để tự cải thiện và phát triển kinh tế của dân tộc mình Cán
bộ nơi khác đến chỉ có thể hỗ trợ chứ không nên làm thay đồng bào dân tộc
thiểu số”. Trên thực tế, tinh thần tự lực tự cường của mỗi dân tộc, nhóm
8
người luôn luôn là yếu tố quyết định. Nhiều khi trong những điều kiện tự
nhiên, môi trường như nhau lại có những chênh lệch về trình độ phát triển
giữa các nhóm tộc người. Trong mỗi nhóm tộc người có những mô hình làm
ăn tốt là do những cố gắng tự vươn lên của đồng bào.
Đối với các nhóm người thiểu số hiện nay ở Hà Tĩnh vẫn còn tư tưởng
tự coi mình là dân tộc bé nhỏ, tự ty, cái gì cũng cho là không làm được, rồi
không cố gắng. Vì vậy, để có sự phát triển bền vững lâu dài không có gì khác
hơn là động viên tinh thần tự vươn lên của đồng bào.
2.2.3.3 Tăng trưởng kinh tế không thể tách khỏi nhân tố xã hội - văn hoá
Kinh nghiệm phổ biến cũng như thực tiễn đã chỉ ra là các giải pháp
được tiếp nhận từ thời thơ ấu mới có thể giúp họ hiểu biết được những sắc
thái tinh vi nhất của đời sống tinh thần, mới cho phép họ hiểu nhau thấu đáo.
Ngôn ngữ liên quan mật thiết đến bản tính tộc người, không phải ngẫu nhiên
mà phần lớn các tên gọi dân tộc lại trùng lặp với ngôn ngữ của họ. Vì vậy
trong tất cả các đặc trưng tộc người thì ngôn ngữ là quan trọng nhất.
Dẫu ngôn ngữ là tiêu chí rất quan trọng để phân định tộc người, song
nó không phải là duy nhất, bởi vì hiện nay trên thế giới cũng có những dân tộc
nói hai, ba ngôn ngữ khác nhau, ngược lại cũng có nhiều dân tộc cùng nói một
thứ tiếng như tiếng Anh, tiếng Pháp
2.1.4.2 Đặc điểm văn hoá
Một trong những dấu hiệu cực kỳ quan trọng để phân định giữa các tộc
người là đặc điểm văn hoá. Văn hoá là cái mà mỗi dân tộc xây dựng nên trong
quá trình phát triển lịch sử của mình được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
10
khác. Vì thế mà cho đến nay mỗi dân tộc đều có những đặc điểm văn hoá
riêng, các yếu tố văn hoá đặc thù thường trở thành biểu tượng của bản tính tộc
người. Khi nói đặc điểm văn hoá có nghĩa là những thành tựu văn hoá dân tộc
đó đã đạt được, những tri thức mà họ đã tích luỹ được, những đóng góp của
họ vào kho tàng văn hoá nhân loại. Vấn đề là, phải xét xem họ có phải là chủ
nhân kế thừa nền văn hoá của dân tộc đó hay không, có phải là những người
tiếp tục phát triển nó một cách sáng tạo và tiến bộ hay không chứ không phải
chỉ xem họ có ở cùng một kiểu nhà hay ăn mặc cùng một kiểu quần áo, cùng
đội một loại khăn
Vấn đề là khi xác định một tộc người, không phải chỉ dựa vào cộng
đồng văn hoá mà là dựa trên những yếu tố văn hoá có tính chất đặc trưng.
Những đặc trưng ấy cùng với ngôn ngữ tạo ra một sắc thái riêng [23]. Trong
thực tế cũng có thể có những dân tộc có cùng một tiếng nói nhưng không thể
có hai dân tộc với cùng một nền văn hoá.
2.1.4.3 Ý thức dân tộc
Ý thức dân tộc hay tự giác dân tộc, suy cho cùng lại là cái quyết định
liệu viết về các tộc người ở tỉnh Hà Tĩnh thì hầu như không có. Những số liệu
của các bản niên giám thống kê hàng năm, các tiêu chí về dân tộc không được
đề cập đến, còn số liệu của các cuộc điều tra dân số về lĩnh vực này cũng rất
hiếm hoi.
Thời kỳ chiến tranh (trước năm 1975), chưa tìm thấy tài liệu nào nói về
các dân tộc đang sinh sống ở Hà Tĩnh. Bởi vì lúc bấy giờ cả nước phải lo toan
vào một công việc lớn nhất là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Thời gian nhập tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An (1976 - 1991) do chỗ coi các dân
12
tộc thiểu số ở Hà Tĩnh chỉ là một phần rất nhỏ trong nhiều dân tộc thiểu số ở
Nghệ Tĩnh nên chưa được quan tâm giúp đỡ cũng như quan tâm nghiên cứu
nhiều. Trong danh mục các dân tộc ở Việt Nam khi nói về địa bàn cư trú chủ
yếu của từng dân tộc thiểu số không hề nhắc đến Hà Tĩnh. Theo Khổng Diễn
“Hà Tĩnh là một tỉnh trước đây không có dân tộc thiểu số” [7]. Điều đó chứng
tỏ rằng: Nếu có thì tỉnh Hà Tĩnh cũng có không nhiều các dân tộc.
Trong cuốn lịch sử Nghệ Tĩnh [11] khi đề cập đến các dân tộc anh em
cùng chung sống trong tỉnh, ở Hà Tĩnh chỉ nói đến mỗi dân tộc Chứt với hai
ngành Mã Liềng và Cọi cư trú ở huyện Hương Khê.
Nhưng số liệu tổng điều tra dân số năm 2009 của huyện thì không có
dân tộc Chứt [17]. Tuy nhiên theo nguồn tài liệu này thì tỉnh Hà Tĩnh có rất
nhiều dân tộc (Bảng 2.1). Do quá trình làm ăn, sinh sống hoặc do hôn nhân
ngoại tộc mà một số bà con dân tộc các tỉnh bạn về định cư ở Hà Tĩnh.
Họ không sống tập trung thành bản, thành thôn mà sống rải rác khắp
nơi, mỗi xã vài ba người, đông hơn ở các vùng trung tâm thị trấn, thị tứ. Đây
thực chất là những nhóm tộc người bị cách biệt về mặt lãnh thổ.
13
Bảng 2.1 Kết quả tổng điều tra dân số năm 2009
TT Dân tộc
Tổng số Trong đó
Hương Khê
hợp với Cục thống kê Hà Tĩnh tiến hành điều tra đối tượng dân tộc đặc biệt
khó khăn thì thống kê được 227 hộ với 1.127 nhân khẩu bao gồm 5 tộc người
là Mã Liềng, Cọi, Lào, Mường, Mán (Bảng 2.2).
Bảng 2.2 Kết quả điều tra đối tượng dân tộc đặc biệt khó khăn
14
T
T
Tên Tên Số lượng
Số
hộ
Khẩu
(người)
1 Mã
Liềng
23 94 Hương Liên (Hương Khê)
2 Cọi Khạ Phoọng 9 30 Hương Vĩnh (Hương Khê)
3 Lào Lào Thưng 93 508 Hương Lâm, Phú Gia (Hương
Khê) và Vũ Quang (Vũ Quang)
4 Mường 56 292 Hương Trạch - Hương Khê
5 Mán Mán Thanh 46 203 Sơn Kim - Hương Sơn
Cộng 227 1.127
(Nguồn: [3])
Vì là điều tra dân tộc đặc biệt khó khăn nên tên gọi tộc người cũng chỉ
dựa vào sự tự khai báo nhưng khi kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân
thì có sự không trùng hợp (Bảng 2.3).
15
Bảng 2.3 Kết quả kiểm tra sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân
TT Tên
tộc
người
nhất [21]. Mỗi đợt điều tra đều đưa ra những số liệu khác nhau; bởi vì mục
tiêu của các đợt điều tra là không giống nhau. Những năm gần đây, được sự
quan tâm của Đảng, Chính phủ có nhiều chương trình, dự án đầu tư lên vùng
miền núi, đặc biệt ưu tiên cho vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú. Các
16
chương trình như: Định canh - định cư, hỗ trợ đồng bào đặc biệt khó khăn chỉ
đầu tư cho vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Vì vậy, chính quyền
địa phương cũng như người dân muốn tự nhận mình là người dân tộc thiểu số
để được hưởng chính sách. Trong khi công tác điều tra, nghiên cứu cũng chỉ
mới dừng lại ở mức độ tập hợp thống kê theo sự khai báo của người dân, của
chính quyền địa phương. Còn các dấu hiệu về dân tộc chưa được xem xét đầy
đủ thậm chí chưa được đề cập đến. Thêm vào đó là công tác quản lý hộ tịch,
hộ khẩu của chính quyền địa phương còn lỏng lẻo.
Thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên
diện rộng, xem xét tất cả các dấu hiệu (tiêu chí) xác minh thành phần dân tộc.
Với phương pháp loại trừ dần chúng tôi chỉ tập trung điều tra, khảo sát tại 8
thôn (bản) thuộc 7 xã của 3 huyện miền núi Hương Khê, Hương Sơn và Vũ
Quang. Trên cơ sở tôn trọng “Ý thức tự giác tộc người”, theo sự tự nhận của
đồng bào thì tập hợp được 308 hộ với 1.529 khẩu bao gồm 5 tộc người là Mã
Liềng, Cọi (Khạ Phoọng), Lào, Mường, Mán (Bảng 2.4).
17
Bảng 2.4 Số lượng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh
theo sự tự nhận
T
T
Tên
tộc
người
Tên
gọi khác
(%)
1 Mã Liềng 118 118 100
2 Cọi 31 31 100
3 Lào 594
4 Mường 403
5 Mán 384
(Nguồn: Số liệu điều tra, 2009)
Nghiên cứu kỷ hơn về các đặc trưng văn hoá, đặc điểm cư trú, hôn
nhân, nguồn gốc tộc người, sinh hoạt kinh tế chúng tôi thấy rằng ngoài
người Mã Liềng và người Cọi, bộ phận khác không phải là dân tộc thiểu số
18
hoặc không còn giữ được nét đặc trưng riêng của mình.
* Nhóm người Mường: Mường là tên tự gọi của một nhóm người sống
ở bản Lòi Sim xã Hương Trạch huyện Hương Khê. Nhóm người này từ xã
Hoá Hợp huyện Minh Hoá tỉnh Quảng Bình di cư ra Hương Trạch - Hương
Khê từ năm 1952. Lúc đầu chỉ có 7 hộ, 35 khẩu về định cư với người dân địa
phương ở xóm Chuối - Một vùng ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình cách
bản ngày nay chừng 3 km. Do điều kiện làm ăn, sinh sống ở đây thuận lợi hơn
ở Hoá Hợp nên những năm sau bà con tiếp tục di cư ra. Tổng số các đợt di cư
đến năm 1958 có 14 hộ với 78 khẩu. Từ đó đến nay không có chuyện di cư
nữa và dân số hiện nay là các thế hệ con cháu của họ.
Thời kỳ chiến tranh ác liệt, nằm cạnh cầu La Khê nên xóm Chuối trở
thành “túi bom, chảo lửa”, đồng bào phải tản cư vào Đồng Cố, Đồng Để làm
nhà tạm trong rừng, trong núi. Sau ngày hoà bình lập lại, đất nước được thống
nhất, thực hiện chính sách định canh - định cư của Đảng đồng bào mới về
định cư xen ghép với dân địa phương ở bản Lòi Sim ngày nay.
Theo tài liệu của Ban Dân tộc và Miền núi Quảng Bình thì tỉnh Quảng
Bình có 15 nhóm tộc người thiểu số, trong đó người Mường chỉ có 6 người cư
trú ở huyện Bố Trạch, còn ở huyện Minh Hoá có các nhóm Khùa, Sách, Mày,
Rục, Arem, Thổ, Thái và Pa cô không có dân tộc Mường. Các nhóm: Khùa,
ngoài tiếng Việt.
* Nhóm người Mán Thanh
Thượng Kim và Đại Kim là tên gọi của 2 bản người thuộc xã Sơn Kim
huyện Hương Sơn. Trước đây bà con không nhận mình là dân tộc thiểu số
(Biểu kết quả tổng điều tra dân số năm 2009). Thời gian gần đây bà con tự
nhận là dân tộc Mán Thanh (Kết quả điều tra đối tượng dân tộc đặc biệt
20
khó khăn), tuy nhiên hoàn cảnh mà họ về định cư ở hai bản này là không
giống nhau.
- Đối với người dân ở bản Đại Kim: Khoảng đầu những năm hai mươi
của thế kỷ trước, một nhóm người chạy loạn do giặc dã, gồm 9 hộ với 39
khẩu đều là anh em, họ hàng với nhau ở bản Napê huyện Kăm Kớt tỉnh Pô Ly
Khăm Xay của nước bạn Lào về định cư ở nước Sốt (Nậm Sốt ngày nay)
thuộc xã Sơn Kim huyện Hương Sơn. Sống ở đây được một thời gian thì bị
thực dân Pháp đốt nhà, phá làng bà con phải sống chui lủi trong rừng. Sau
năm 1945 được chính quyền địa phương đưa về vùng Hói Trươi xã Sơn Thọ
tuy nhiên 2 năm sau thì chính quyền huy động lực lượng này đi đốt than ở Đại
Kim, những người có sức khoẻ trong bộ phận này đã tham gia và dần dần họ
đưa cả gia đình lên Đại Kim sinh sống. Do ảnh hưởng của dòng họ Lê là dòng
họ chiếm số đông ở Đại Kim hồi đó nên bà con lấy họ Lê làm họ cho mình và
sinh hoạt kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ngươì Kinh. Các thế hệ con
cháu của bộ phận này kết hôn với người Kinh và đến nay đã có 37 hộ với 171
khẩu mà không ai nói được tiếng mẹ đẻ.
- Đối với người dân ở bản Thượng Kim: Thượng Kim là vùng đất rộng
và bằng phẳng. Người dân Sơn Giang đã lên khai phá vùng đất này từ đầu
những năm 1930. Năm 1935 một nhóm người gồm 6 hộ với 18 khẩu từ Phủ
Quỳ - Nghệ An di cư về đây [1]. Họ phát nương làm rẫy, làm nhà dựng cửa
và sống xen ghép với người Kinh. Đến nay đã có 35 hộ với 213 khẩu và ngôn
ngữ chỉ có tiếng Kinh.
Trong quá trình cộng cư với người Kinh, sự giao lưu về kinh tế đã ảnh
những cây trồng cổ thụ có hàng trăm năm tuổi.
Chúng tôi đề nghị coi người ở Giàng II cũng là người Mã Liềng vì
22
những lý do chính sau đây.
- “Khạ Phoọng” là tên người Lào đặt cho người ở Giàng với nghĩa xem
họ là một tộc người ngoài người Lào. Còn tên gọi là “Cọi” do người Việt ở
Hương Khê gọi nhóm người này với nghĩa họ là cư dân sống dọc bờ cõi.
Ngay một điểm ở Giàng mà cũng có tới hai tên gọi “Khạ Phoọng” hay “Cọi”
khác nhau, thì làm sao chúng ta cho rằng giữa người ở Giàng và người Rào
Tre có thể cùng một tên gọi được.
- Sau khi phát hiện được người Mã Liềng, người ta đã đưa người Mã
Liềng lên sống gần với người ở Giàng. Thời gian hai nhóm này sống chung có
đến gần mười năm nhưng rồi họ không “hợp” được với nhau mà phải trở lại
nơi cư trú mới như hiện nay. Tuy nhiên, việc họ ít có quan hệ với nhau hay
không “hợp” nhau không nói lên một điều gì để chứng minh họ không cùng là
một dân tộc cả. Sở dĩ người ở Giàng hay liên hệ với người Ma Ca, bản Pụng
bên Lào vì các bản này vừa là đồng tộc, vừa có trình độ văn hoá và văn minh
tương tự nhau. Còn những người ở Giàng và những người ở Rào Tre thì vấn
đề không như vậy. Về cơ bản các tập tục như để tang người chết bố trí trong
một ngôi nhà, việc kiêng kỵ của người phụ nữ khi đẻ giữa hai nhóm người
này là như nhau, nhưng họ không cùng một trình độ văn minh. Trong cuộc
sống người ở Giàng hướng tới sự ổn định của việc định cư hơn. Sự chênh lệch
này khiến cho người ở Giàng không muốn nhập người Rào Tre là "cùng cấp"
với mình, còn người Rào Tre thì có ý thức coi mình cũng chẳng khác gì người
ở Giàng. Sự khác biệt giữa hai nhóm này âu cũng là sự khác nhau như kiểu
người Việt Hà nội và người Việt ở một làng hẻo lánh nào đó. Vì thế nếu
người ở Giàng có tâm lý không muốn “ở cùng hàng” với người Rào Tre cũng
là một tâm lý bình thường. Nhưng điều đó hoàn toàn không thể là cơ sở để
chúng ta coi giữa người ở Giàng và ở Rào Tre không cùng một dân tộc nếu
những điều khác thể hiện khả năng đó.
24
như trên, với những ghi nhận bước đầu chúng tôi đề nghị coi dân tộc thiểu số
ở vùng núi Hà Tĩnh chỉ có nhóm Mã Liềng thuộc dân tộc Chứt đang cư trú
mang tính tộc người. Bộ phận khác sống xen ghép với người Kinh, hầu như
không còn tiếng nói, không còn giữ được bản sắc văn hoá riêng, thậm chí
không còn nhớ tên gọi của tộc người mình nữa; về cơ bản họ đã hoà đồng vào
dân tộc Kinh cùng chung sống. Và từ phần này trở đi khi đề cập đến dân tộc
thiểu số ở vùng núi Hà Tĩnh chúng tôi chỉ nói đến nhóm tộc người này ở hai
bản Rào Tre - Hương Liên và Giàng II - Hương Vĩnh huyện Hương khê.
2.2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu
số trong nước và quốc tế
* Một số kinh nghiệm quốc tế
Ở phần lớn các nước công nghiệp hoá và đang phát triển, các nhóm dân
tộc thiểu số nghèo hơn dân tộc đa số, tuy mức độ có khác nhau. Hai nhóm
chính sách được sử dụng rộng rãi để giúp nhóm dân tộc thiểu số thu hẹp
chênh lệch về hiệu quả thu nhập từ các nhóm nguồn lực là:
+ Luật tạo cơ hội ngang bằng, nhằm tránh trường hợp người có khả
năng chuyên môn và kinh nghiệm tương đương lại phải nhận mức lương thấp
hơn, có cơ hội tiếp cận làm việc và các dịch vụ của Chính phủ ít hơn xuất phát
từ dân tộc, giới tính, tôn giáo hoặc xu hướng tình dục của họ. Ví dụ như sau
cách mạng năm 1959 ở Cuba, luật tạo cơ hội ngang bằng đã được thực hiện
song song với các chính sách kinh tế và xã hội toàn diện, kết quả là đến thập
niên 80 đã gần như xoá bỏ chênh lệch mức sống giữa người da trắng và da
đen. Gần đây hơn, Hiến pháp 1998 của E-cu-a-đo đã đảm bảo quyền đất đai
công của người dân bản địa, quyền có giáo dục bằng ngôn ngữ người bản địa
và quyền được tham gia quyết định việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Dù
Luật tạo cơ hội ngang bằng được áp dụng rộng rãi ở các nước đã nêu, các
nước đang phát triển và công nghiệp hoá, nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy
25