những rào cản trong hoạt động m& a tại việt nam - Pdf 20

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ
NHỮNG RÀO CẢN TRONG HOẠT ĐỘNG M&A TẠI VIỆT NAM
Giảng Viên
:
Phạm Thu Hà
Học viên
:
Cao Xuân Hoàn
Lớp
:
12AQTKD-HL
2
LỜI MỞ ĐẦU
Mua lại và sáp nhập doanh nghiệp M&A là nghiệp vụ không còn xa lạ ở các nước có
nền kinh tế phát triển, trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Trên thế giới, các hoạt động
M&A đã trải qua những thăng trầm, làn sóng M&A diễn ra mạnh mẽ và song hành cùng với
những giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng. Bước vào thế kỉ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp
tục chứng kiến một làn sóng M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và với quy mô lớn
chưa từng có. Làn sóng này không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nền kinh tế phát triển mà
còn lan tỏa sang các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Nga,
Ấn Độ, Trung Quốc, …
Trong những năm gần đây hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp đã khá quen
thuộc với các doanh nhân Việt Nam. Đặc biệt từ năm 2006, chứng kiến sự đột phá của thị
trường chứng khoán thì hoạt động này càng được quan tâm nhiều hơn. Với những bước đầu
phát triển như vậy thì khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động này còn đang được các cơ
quan nhà nước soạn thảo. Sự lớn mạnh của thị trường chứng khoán đang góp phần kiến
tạo một thị trường mua bán sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam. Sử dụng chiến lược M&A
để gia tăng giá trị doanh nghiệp là điều mà doanh nhân và nhà đầu tư nào cũng mong muốn.
Tuy nhiên, có không ít những rào cản trong việc thực thi chiến lược này. Đó cũng là những

lĩnh vực tài chính với mục tiêu kết dính lĩnh vực đầu tư ngân hàng và thương mại không ổn
định của JP Morgan với kinh doanh thẻ tín dụng và khách hàng dễ dự đoán của BankOne
• M&A theo chiều dọc (vertical mergers): Là sự sáp nhập hoặc mua lại
của hai hay nhiều công ty nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về
phía trước hoặc về phía sau hoặc về cả hai phía của công ty sáp nhập trên chuỗi giá
trị đó.
Sáp nhập theo chiều dọc có 2 loại là:
_ Backward: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất
4
_ Forward: Liên kết giữa công ty sản xuất và nhà phân phối
Ví dụ: Thương vụ công ty UCB SA của Bỉ hoạt động trong lĩnh vực hóa dược và sản
phẩm thực vật mua lại công ty Celltech Group nghiên cứu thương mại vật lí và sinh học với
giá 2,7 tỷ.
M&A theo kiểu tập đoàn (conglomerate mergers): xảy ra khi hai hay nhiều công ty
không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của
mình- mở rộng kinh doanh sang những lĩnh vực khác không liên quan-tiến hành sáp nhập
lại với nhau.
Ví dụ: Công ty General Electric của Mỹ hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, phân
phối và máy biến thế đã mua lại công ty Amersham Plc của Anh hoạt động trong lĩnh vực
các sản phẩm sinh học, sản phẩm chẩn đoán loại trừ với giá 9,6 tỷ.
Ngoài ra UNCTAD (2011) còn đưa ra cách phân loại theo động cơ gồm 2 loại thân
thiện (Friendly) thù nghịch (Hostile).
• M&A theo kiểu thân thiện:là trường hợp ban giám đốc công ty mục
tiêu (bị mua lại) đồng thuận và ủng hộ trong giao dịch mua lại đó (tức không dùng
các biện pháp chống lại thương vụ diễn ra)
• M&A theo kiểu thù nghịch:là trường hợp ban giám đốc công ty mục
tiêu không đồng ý và dùng các biện pháp chống thâu tóm.
Xét về phân vùng địa lý, M&A có thể chia làm 2 loại là:
• M&A nội địa:là những giao dịch của những công ty trong 1 quốc gia
nhất định (không có việc kết hợp tài sản xuyên biên giới)

về chi phí trên là việc cắt giảm các khâu tiếp xúc thị trường, tạo khách hàng quen thuộc,
thích nghi với luật pháp, quy định mới, tìm kiếm nguồn nguyên liệu …mà hình thức này
mang lại đã khiến nhiều đơn vị tiến hành M&A.
2) Bên cạnh việc gia tăng giá trị tài sản cho mình, các công ty khi mua lại hoặc sáp nhập còn
vì mục tiêu có thêm nguồn lao động chất lượng cao, sở hữu các tài sản trí tuệ mới thoả mãn
nhu cầu của thị trường, phân tán độ rủi ro trong công tác đầu tư nghiên cứu, …
3) Các xu hướng thay đổi trong ngành là một trong các động cơ thúc đẩy hoạt động M&A.
Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, không ít ngành đòi hỏi sự cải tiến liên tục về công
nghệ, sự cạnh tranh gay gắt như trong ngành tài chính ngân hàng chẳng hạn, hay các áp lực
về kiểm tra chi phí trong ngành công nghiệp tiêu dùng…Sự sáp nhập giữa các công ty, tổ
chức sẽ đáp ứng được yêu cầu của các xu thế tất yếu trên.
4) Các định chế tài chính lớn như các tổ chức tín dụng, ngân hàng…sử dụng M&A để đầu tư
vào lĩnh vực ngoài chuyên môn một cách hợp pháp nhằm tạo được tiếng nói riêng, từ đó đa
dạng hoá nguồn lợi nhuận thu được. Thông thường thì hình thức này chỉ áp dụng với các
ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, phạm vi ảnh hưởng rộng.
5) “Thương hiệu” cũng là một yếu tố được các bên đặc biệt quan tâm khi có ý định mua lại và
sáp nhập. Để tiến hành M&A, thông thường chi phí mà bên mua trả cho tài sản “Thương
hiệu” là không nhỏ, tuy nhiên họ hướng đến mục tiêu chiếm được một thị phần mới với
nhiều khách hàng, đối tác trung thành hay các mối quan hệ khác mà vốn dĩ trước đó thuộc
về bên bán. Từ đó, các công ty, tổ chức ngoài việc mở rộng thế lực còn có thể tăng cường
sức cạnh tranh với các đối thủ khác.
Lợi ích của M&A
Cải thiện tình
hình tài chính
Củng cố vị thế thị trường
Giảm thiểu chi phí
ngắn hạn
Tận dụng quy mô dài hạn
6
Cải thiện tình

doanh mới
Nâng cao năng lực cạnh
tranh
Ngoài ra, một số vụ mua lại và sáp nhập hiện nay còn nhằm mục đích loại bỏ đối thủ
cạnh tranh hoặc đôi khi vì một mục đích chính trị-kinh tế nhất định.
Trên thực tế, trong mỗi trường hợp cụ thể, hoạt động M&A lại bắt nguồn từ nhiều
động cơ khác nhau ảnh hưởng đến đặc trưng, cấu trúc, giá trị của các thương vụ đó.
1.4. Quy trình mua lại và sáp nhập
M&A là một quá trình bao gồm nhiều diễn biến phức tạp. Tính đến thời điểm hiện
tại, xét về cơ sở lý luận khoa học thì cũng đã có khá nhiều các quy trình được đưa ra như
quy trình 3 giai đoạn, 4 giai đoạn, 5 giai đoạn,…, mỗi quy trình được chia theo các tiêu chí
khác nhau. Còn dựa trên cơ sở thực tiễn, một số công ty tư vấn M&A cũng nêu các quy
trình riêng của mình, tiêu biểu là hãng tư vấn Arthur Young với quy trình gồm 8 bước; FPT
Securities với quy trình gồm 3 bước thực hiện,…và đặc biệt là quy trình của công ty chuyên
về tự động hoá và năng lượng ABB. Tuy nhiên, bằng cách hiểu đơn giản nhất thì chúng ta
có thể xem xét M&A với những giai đoạn chính được tóm tắt trong bảng sau:
Pha trước giao dịch Pha giao dịch Pha hợp nhất
Hoạch định chiến lược
Xác định kỳ vọng
Chuẩn bị nguồn lực
Kế hoạch lộ trình
Liên hệ và sàng lọc
Thẩm định mục tiêu
Giao dịch
Kết thúc giao dịch
Các khía cạnh hợp nhất
Tiến hành hợp nhất
Kiểm soát sau hợp nhất
7
Cụ thể hơn, tôi sẽ đi vào phân tích quy trình M&A trên hai phương diện người mua

1.4.2. Quy trình của người bán
1. Quyết định bán : Để đưa ra quyết định bán thì bên bán cần
• Tìm hiểu về động lực, mục tiêu của mình; xem xét các cơ hội, rủi ro,
cái được, cái mất khi tiến hành giao dịch
• Xây dựng nền tảng giá trị cho công ty mình trước khi rao bán. Với
những công ty thực hiện được bước này bằng một kế hoạch cụ thể thì sẽ thu được
nhiều lợi ích hơn so với những công ty không có quá trình xây dựng nền tảng giá trị
mà thay vào đó là sự khủng hoảng, bế tắc về tài chính, thị trường,…
• Cân nhắc kĩ các yếu tố về thời gian và thị trường
8
2. Tổ chức lại công việc:
• Kiểm toán pháp lí và quản lí công việc nội bộ, thực hiện dưới sự hướng
dẫn của các cố vấn.
• Thiết lập các giá trị sơ bộ cho bên bán
• Chuẩn bị đưa ra tài liệu chào bán
3. Thực hiện chiến lược marketing :
• Chiến lược này được hoạch định trên cơ sở hướng tới những người
mua đạt tiêu chuẩn. Điều này giúp các công ty giảm thiểu được các chi phí về
marketing, tiết kiệm thời gian, công sức đồng thời nâng cao tính khả thi của thương
vụ M&A.
• Tạo quy trình chọn lọc hợp lí để thu hẹp số lượng ứng cử viên, từ đó có
chiến lược marketing ưu việt nhất có thể.
• Tiến hành hoạt động marketing
4. Lựa chọn đối tác
• Chọn đối tác thích hợp nhất
• Đàm phán sơ bộ với các đối tác để các bên nắm được yêu cầu, nguyện
vọng của nhau.
• Lập hợp đồng bảo mật để ngăn chặn các rò rỉ về thông tin
• Tiến hành thẩm tra sơ bộ : đánh giá thẩm định khả năng tài chính cũng
như đáp ứng các điều kiện của bên mua

Thông qua M&A các công ty có thể tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô gộp thị
phần, giảm chi phí và bổ sung tích hợp các nguồn lực của nhau như thương hiệu, thông tin,
bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng.
Ví dụ: Trong giai đoạn khó khăn của ngành hàng không, Delta Air Lines (Mỹ) đã
mua lại Northwest Airlines với giá 2,9 tỷ USD, trở thành hãng hàng không lớn nhất thế giới
hiện nay với 75.000 nhân viên và lịch bay tới 375 thành phố. Hãng này có khả năng tăng
doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm do cắt giảm chi phí và mở rộng quy mô.
1.5.2. Tăng quy mô nhanh chóng và thống lĩnh thị trường :
Các công ty đang họat động hiệu quả thường muốn mau chóng tăng quy mô để chiếm
lĩnh thị trường không chỉ trong ngành kinh doanh của mình mà còn nhảy vào các ngành
đang có tiềm năng khác. Những tập đoàn như GE của Mỹ, Chungho Holdings của tỷ phủ Li
Ka Shing của Hong Kong, là những ví dụ điển hình.
Giảm chi phí gia nhập thị trường: ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của chính
phủ, việc gia nhập thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe,
hoặc chỉ thuận lợi trong một giai đoạn nhất định, thì những công ty đến sau chỉ có thể gia
nhập thị trường đó thông qua thâu tóm những công ty đã hoạt động trên thị trường. Những
ngành như sản xuất bia, ngành bảo hiểm, sản xuất ô tô của Việt Nam có sự bảo hộ rất mạnh,
do vậy các công ty nước ngoài muốn nhảy vào thường chọn hình thức M&A.
Thực hiện chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị: Nhiều công ty
chủ động thực hiện M&A để hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa sản phẩm hoặc mở rộng
thị trường của mình. Khi thực hiện chiến lược này, công ty sẽ xây dựng được cho mình một
danh mục đầu tư cân bằng hơn nhằm tránh rủi ro phi hệ thống. Các Tập đoàn Thép Trung
Quốc đang tìm các mua các công ty khai thác Mỏ của Úc và Nam Phi là ví dụ về động lực
này.
1.5.3. M&A để hút vốn và nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài
Khi nguồn lực sản xuất - kinh doanh quan trọng là đất đai đều thuộc về các doanh
nghiệp trong nước thì M&A sẽ là con đường ngắn nhất để hút vốn nước ngoài cũng như
nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài và quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thị trường M&A có mối quan hệ biện chứng. Việc
thu hút được lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và

chính sách mở cửa, ưu đãi về thuế thông thoáng hơn; môi trường pháp lý kinh doanh cũng
trở nên minh bạch hơn, tạo nên sự bình đẳng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thêm
vào đó là sự gia tăng về nhu cầu đầu tư, năng lực đầu tư, tất cả đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động đầu tư nói chung, hoạt động M&A nói riêng phát triển nhanh chóng (như
nhóm nghiên cứu đã nêu rõ trong phần 2.2)
Thứ nhất, về khía cạnh đầu tư nước ngoài gia tăng. Trong những năm gần đây, nhiều
tập đoàn kinh tế trên thế giới có nguồn vốn lớn, khả năng huy động USD cao có nhu cầu
đầu tư sau khủng hoảng kinh tế thế giới. Việt Nam– quốc gia được đánh giá là điểm đầu tư
hấp dẫn số 1 châu Á (theo hãng nghiên cứu EPFR Global) với tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao, bình quân 7%/năm giai đoạn 2005-2010 (Báo Tiền phong) và các tiềm lực kinh tế
khác, là nơi mà nhiều trong số các nhà đầu tư này lựa chọn. Điều này khiến cho luồng vốn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục tăng mạnh. Và một trong những cách thức để nhà
đầu tư nước ngoài thâm nhập sâu hơn vào thị trường Việt Nam chính là thông qua các đối
tác Việt Nam, điều này đã tạo thêm đà cho hoạt động M&A phát triển.
11
Thứ hai, về khía cạnh pháp lý. Sau hơn 4 năm Việt Nam gia nhập WTO, môi trường
pháp lý, môi trường đầu tư kinh doanh trở nên thông thoáng hơn. Luật Các tổ chức tín dụng,
Luật Chứng khoán và hàng loạt đạo luật được sửa đổi, bổ sung theo hướng nới lỏng, hoặc
dỡ bỏ các điều kiện gia nhập thị trường của các công ty nước ngoài.
Ví dụ: Cho đến thời điểm hiện nay, theo lộ trình cam kết WTO, một số lĩnh vực được
mở ra đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài như: đồng ý cho Mỹ thành lập chi
nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày thành lập; cho phép ngân hàng 100%
vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam (theo Nghị định 22/2006/ND-CP và cam kết
WTO) và cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài kể từ năm 2012;
…Chính điều này đã giúp cho việc thâm nhập thị trường Việt Nam của các công ty nước
ngoài được dễ dàng hơn. Thị trường M&A lúc này cũng có thêm nhiều thông tin minh bạch,
tạo cơ sở pháp lý cho việc tìm hiểu trước khi đưa ra quyết định của các doanh nghiệp khi
vào bàn hội nghị, nhờ đó hoạt động mua lại và sáp nhập được tăng lên đáng kể trong những
năm gần đây.
Thứ ba là về nhu cầu mua lại và sáp nhập của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp.

năng mới, tiếp thu những kỹ thuật mới, phát triển không ngừng về dịch vụ sản phẩm và
công nghệ, nếu không sẽ dễ dàng thụt lùi và bị đẩy ra ngoài cuộc chơi…Trong cuộc cạnh
tranh không cân sức đó, việc liên kết nói chung và thông qua hoạt động M&A nói riêng
nhau của các doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò sống còn, giúp tăng cường sức mạnh
cạnh tranh. Đây cũng là cách thức tạo động lực cho các doanh nghiệp trong nước.
2.2 Rào cản trong các thương vụ M&A tại Việt Nam
Việc M&A tại Việt Nam đang gặp rất nhiều rào cản, khiến tỷ lệ thành đạt của giao
dịch, cũng như sự sát nhập của 2 công ty khác văn hóa sau khi hoàn tất giao dịch, sẽ gặp
nhiều thách thức lớn lao cho cả 2 bên mua và bán. Sau đây là 8 rào cản chính yếu mà 2 bên
phải đương đầu. Nhiều yếu tố khác dù nhỏ hơn cũng có thể “giết” một giao dịch hoặc làm
vụ việc M&A trở thành ác mộng cho 2 bên sau khi hoàn tất. Sự chuẩn bị tinh thần và tài lực
để giải quyết và vượt qua 8 rào cản này có thể là vấn đề sinh tử của M&A tại Việt Nam.
1. Tư duy và văn hóa.
Doanh nghiệp Á Đông thường đưa ra quyết định quan trọng vào trực giác, sĩ diện và
cảm quan cá nhân nhiều hơn là các đồng nghiệp bên Âu Mỹ, Ở các xứ này, chiến lược định
vị của công ty, sản phẩm độc đáo, chỉ số tài chính ROI (return on invesment), giá thị trường,
thương hiệu hay công nghệ đặc thù là những thành tố chính. Nhưng ở Việt Nam, ngoài các
yếu tố trên, doanh nhân Việt Nam còn lưu ý đến quan hệ giữa 2 bên, vấn đề sĩ diện “bị”
mua, hay đôi khi, lợi ích cá nhân còn quan trọng hơn mục tiêu của công ty.
Văn hóa Á Đông đặt nặng liên hệ gia đình nên phần lớn những doanh nghiệp vừa và
nhỏ vẫn là một thực thể do “gia đình trị” nên sự sát nhập bình đẳng và lâu dài giữa 2 doanh
nghiệp Việt Nam là điều khó xảy ra. Thường thường thì “cá lớn nuốt cá bé” (mua lại chứ
không sát nhập), nhưng những con cá bé lại có nhiều thủ thuật có thể làm cho cá lớn bị mắc
nghẹn hay đau dạ dầy liên tục.
Ví dụ: Thương vụ ngân hàng Habubank với tuổi đời 20 năm buộc phải sáp nhập vào
Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) và từ bỏ vĩnh viễn thương hiệu một thời của
mình. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là khoản nợ cho đến giờ không thể trả được của
Vinashin. Habubank đã cho Vinashin vay 2.745 tỉ đồng, thêm 600 tỉ đồng trái phiếu do tập
đoàn phát hành mà ngân hàng mua, tổng cộng 3.345 tỉ đồng, bằng 83% vốn điều lệ (Nguồn:
Đề án sáp nhập Habubank - SHB, tr. 10).

Nam. Vấn đề thiếu thông tin, thông tin công bố không chính xác và không kịp thời hỗ trợ
cho các bên tham gia Thị trường M&A Việt Nam đã làm giảm tính hấp dẫn của thị trường.
3. Khía cạnh pháp lý
Các giao dịch M&A, nếu như chỉ có sự thỏa thuận của hai bên về giá cả, cách thức
thực hiện hay các vấn đề có liên quan khác, thì cũng chưa thể tiến hành được, mà cần phải
có sự công nhận của pháp luật. Như vậy hệ thống pháp luật, hành lang pháp lý đóng vai trò
rất quan trọng trong việc thúc đẩy các giao dịch M&A phát triển, tạo điều kiện để xác lập
giao dịch, địa vị pháp lý của các bên và hậu quả pháp lý sau khi kết thúc giao dịch. Tuy
nhiên, ở Việt Nam, khung pháp lý về hoạt động M&A vẫn còn đang được quy định rải rác ở
các luật và văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, hơn nữa mới chỉ quy định một cách
chung chung, chứ chưa có hệ thống chi tiết. Nhiều quy định còn chồng chéo xung đột.
14
Ví dụ: Một doanh nhân người Áo bay qua Việt Nam để khảo sát (due diligence) về
một công ty Việt Nam ông muốn mua. Sau khi nghe luật sư giảng về 7 đạo luật có thể ảnh
hưởng đến việc hoàn tất giao dịch, ông ta xin cáo lỗi để về khách sạn ngủ tiếp. Ông nói qua
luật ở đây sao quá rắc rối và nhiều mâu thuẫn, ông ta không bao giờ hiểu nổi.
Nói tổng quát, việc giao dịch mua lại một công ty nhỏ của ông (chỉ 8 triệu USD) phải
chịu sự chi phối của 7 luật khác nhau: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật cạnh tranh,
Luật chứng khoán, Luật môi trường, Luật mua bán tài sản, Luật nhà đất; chưa kể đến
những thông tư nghị định có thể ban hành bất cứ lúc nào. Để đi lọt 7 cửa này, vị luật sư tiên
đoán là phải mất hơn 2 năm, nếu không trả phí bôi trơn. Sau đó ông đã mua xong một
doanh nghiệp khác cùng tầm cỡ ở Thái Lan (giao dịch chỉ mất 4 tháng).
Ngay cả khi 2 bên đều là doanh nghiệp trong nước, các thủ tục pháp lý cũng không
dễ dàng gì. Mọi chậm trễ về thời gian đều tốn kém và có thể làm người mua hay bán mất
động lực và đổi ý.
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện M&A chỉ dựa trên khung pháp lý
dành cho Cổ phần hoá, phát hành và niêm yết chứng khoán. Luật Doanh nghiệp 2005, Luật
đầu tư 2005, Luật 67 cạnh tranh 2004 và Luật chứng khoán 2006, chưa có sự chuyên biệt.
Khái niệm mua lại và sáp nhập chưa được chuẩn hóa, không được quy định thống nhất
trong các Luật có liên quan.

5. Vốn tài trợ
Hiện nay, các giao dịch M&A thường dựa vào vốn tài trợ của ngân hàng, các quỹ đầu
tư hay việc bán cổ phiếu, trái phiếu ra sàn chứng khoán hay các khoản tiền riêng của công
ty. Những hình thức tài trợ theo dạng đòn bẩy (leveraged buy-out) – mua bán sát nhập
doanh nghiệp bằng hình thức đi vay - vẫn chưa được phổ thông và khiến nhiều doanh nhân
Việt Nam (bên bán) nghi ngại.
Trong tình huống mà lãi suất lên đến 20% tại ngân hàng, các quỹ đầu tư tại Việt Nam
đã cạn kiệt tiền dư thừa và sàn chứng khoán suy sụp không có thanh khoản, thì việc tài trợ
cho dịch vụ M&A sẽ rất khó khăn.
6. Đội ngũ tư vấn
Hầu hết hoạt động M&A đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà tư vấn, môi giới,
luật sư, ngân hàng…Các tổ chức trung gian này đóng vai trò là người tạo lập thị trường, tổ
chức trung gian làm cầu nối giữa người bán và người mua, nơi cung cấp đầy đủ các dịch vụ
và thông tin phục vụ cho hoạt động M&A. Tuy nhiên, do có những hạn chế về hệ thống
luật, tính chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu thông tin nên các đơn vị này chưa thể trở thành
trung gian thiết lập một “thị trường” để các bên mua - bán gặp nhau. Do các công ty tư vấn
M&A của Việt Nam còn thiếu và yếu nên tỷ lệ thành công giao dịch mua bán doanh nghiệp
còn thấp.
Một giao dịch M&A thường cần rất nhiều nhà tư vấn độc lập vì ít công ty nào có đủ
nhân lực với khả năng và kinh nghiệm để hoàn tất. Thông thường, chúng ta phải nhờ đến tư
vấn về pháp lý, về ngân hàng đầu tư (investment banker), về kiểm toán, về định giá, về
thông tin đại chúng (PR) Quan trọng hơn nữa, là một công ty escrow (họ đứng giữa để
nhận tiền người mua và bảo đảm là giấy tờ sang nhượng công ty hay tài sản phù hợp với
luật lệ và hợp đồng). Tổng số các chi phí này khá cao, có thể lên đến 15% giá giao dịch cho
dịch vụ nhỏ (dưới 10 triệu USD) và 5% cho giao dịch lớn (trên 200 triệu USD). Doanh nhân
VN thường không chịu trả các phí này. Tại Âu Mỹ, các M&A nhỏ dưới 10 triệu USD
thường do những nhà môi giới thương mại (business broker) làm trung gian. Các nhà môi
giới này phải học và thi đậu mới được cấp chứng chỉ hành nghề. Còn tại VN, có rất nhiều
"cò" tương tự, nhưng họ không có chức năng hay kinh nghiệm và cũng không được đào tạo.
16

khác nhau cùng chuyển hành trên cùng một kế hoạch. Sẽ có rất nhiều đụng chạm giữa các
vị quản lý và nhân viên 2 bên, giữa quyền lợi riêng từ từng cá nhân, giữa những thị phần và
thương hiệu đối chọi. Nếu không khéo giải quyết, công ty sẽ mất rất nhiều thì giờ cũng như
nhân lực, đồng nghĩa với việc mất mát doanh thu và lợi nhuận.
Tóm lại:
17
Trong điều kiện thị trường M&A ngày càng sôi nổi, các doanh nghiệp Việt Nam cần
cẩn trọng hơn trong việc quyết định tham gia một thương vụ mang tính sống còn. Ngoài các
yếu tố đẩy mạnh tiềm năng và mặt tích cực M&A giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu
quả và đứng vững hơn trên thị trường sau khi đã thực hiện M&A, Nhà nước, doanh nghiệp
cần chú trọng hơn trong việc tự đầu tư cho điều kiện còn non kém của mình về kiến thức,
khung pháp lí, nhân lực, chính sách kịp thời… Từ thực tế những thương vụ thành công hay
thất bại trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam, chúng ta cần phải càng tăng cường hiểu biết và
chủ động kiểm soát trong mọi tình huống để có thể nắm bắt và điều khiển được M&A như
một công cụ để phát triển cho doanh nghiệp chứ không phải là món mồi béo bỡ cho các kẻ
thâu tóm.
18
KẾT LUẬN
Khủng hoảng kinh tế và tài chính khiến các doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư và lãi suất
lên cao dẫn đến có nhiều tài sản giá rẻ. Đây là cơ hội cho các nhà đầu tư chiến lược thực
hiện thâm nhập thị trường Việt Nam qua M&A. Trong khuôn khổ các yếu tố ảnh hưởng đến
các hoạt động M&A, môi trường kinh doanh hiện tại là điều kiện thuận lợi hơn bao giờ hết
cho hoạt động này.
Triển vọng kinh tế dài hạn của Việt Nam và nhiều ngành chủ chốt vẫn được đánh giá
là tăng trưởng cao và có nhiều lợi thế. Do đó, trong bối cảnh khó khăn hiện tại, là điều kiện
để hai bên mua và bên bán có cơ hội đến gần được với nhau hơn. Các rào cản về giá, văn
hóa kinh doanh và đàm phán sẽ dễ dàng hơn.Trong bối cảnh vốn vay từ ngân hàng với chi
phí vốn cao, việc tìm kiếm hoặc chấp nhận đề xuất hợp tác từ các đối tác trong và ngoài
nước sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn từ trước đến nay. Thực tế hiện nay các quỹ đầu tư đã
thoái lui nhiều danh mục đầu tư và đây là cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam phát triển M&A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status