phân tích các đối thủ cạnh tranh của sữa bột nội theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của michael porter - Pdf 20

Phân tích các đối thủ cạnh tranh của sữa bột nội theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh
của Michael Porter
1. Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các công ty phải đối mặt với rất
nhiều đối thủ trong ngành, và các sản phẩm sữa bột cũng không ngoại lệ. Hiện
tại tại thị trường Việt Nam có các hãng sữa bột: Vinamilk, Nutifood,
Lachifood, Dumex, Nestlé, Ducth Lady, Mead Jonson, Tùy vào năng lực
cạnh tranh cũng như chiến lược mã các công ty sẽ chọn cho mình các chiến
lược khác nhau như: Thay đổi giá, tăng cường khác biệt hóa sản phẩm, sử dụng
một cách sáng tạo các kênh phân phối, khai thác quan hệ với các nhà cung cấp,
cơ hội thị trường, rào cản rut lui thị trường, tính đa dạng cạnh tranh, sự rut lui
khỏi ngành
- Chiến lược cạnh tranh về giá: các sản phẩm sữa bột nội có lợi thế so với các
sản phẩm ngoại khi mà đã đưa ra các mức giá không quá cao, đáp ứng được
nhu cầu có khả năng thanh toán của nhiều khách hàng, trong khi đó giá của
các sản phẩm sữa ngoại cao hơn từ 100 đến 200% so với các sản phẩm sữa
nội. Đối thủ của chúng ta là các sản phẩm của Pháp, Hà Lan, Bỉ, Nhật, Mỹ
- Sử dụng hiệu quả các kênh phân phối: các sản phẩm sữa bột nội được phân
phối trên khắp phạm vi cả nước, đặc điểm về giá cũng là một lý do khiến
cho các sản phẩm sữa nội được phân phối rộng rãi hơn các sản phẩm sữa
ngoại.
- Cạnh tranh về mặt chất lượng: mặc dù công nghệ sản xuất tương đối hiện
đại đủ khả năng chế biến các sản phẩm sữa đảm bảo chất lượng đạt tiêu
chuẩn quốc tế. Sản phẩm của công ty sữa Việt Nam được các cơ quan
chuyên trách trong và ngoài nước xác nhận về chất lượng(Vinacontrol, viện
Kiểm tra Đo lường chất lượng của Áo. ). Tuy nhiên xét về tổng thể, Việt
Nam vẫn chưa xây dựng được bộ tiêu chuẩn hoàn chỉnh cho các sản phẩm
sữa từ sữa nguyên liệu nhập khẩu đến sữa thành phẩm. Tức là, chất lượng
sản phẩm nội địa được thả nổi, không được đảm bảo bởi bất kỳ một tổ chức
có uy tín nào, mà phụ thuộc vào cách làm của từng công ty. Hơn nữa sản
phẩm sữa trong nước chủ yếu đươc sản xuất từ sữa bột nhập khẩu, mà để

bắt như những năm gần đây, các nhà sản xuất trong nước vẫn ở trong thế bị
động khi phán ứng với diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
5. Các đối thủ tiềm năng
Đối với tình hình nước ta hiện nay, việc một công ty, doanh nghiệp muốn tham
gia vào thị trường sữa bột không phải là khó. Mặt khác khi nước ta đã gia nhập
WTO, thì việc kiểm soát việc các sản phẩm sữa nhập khẩu lại cang khó hơn.
Thực tế cho thấy hiện nay trên thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh trong lĩnh
vực này. Do đó có thể nói rằng rào cản từ các đối thủ tiềm năng là rất cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status