BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO
PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
Ở VIỆT NAM.
GVHD : Nguyễn Bá Trung
Lớp : K309TC
Nhóm : 7
KON TUM, THÁNG 11 NĂM 2011
Lớp K309TC
1
Tiểu Luận Kinh Tế Nông Hộ và Trang Trại GVHD: Nguyễn Bá Trung
I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản xuất
hàng hoá. Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hình thức tổ
chức sản xuất khác nhau. Cho đến nay qua thử thách của thực tiễn, một số nơi các hình
thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệp tư bản nông
nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ ra hiệu quả. Trong khi đó, hình thức tổ chức sản
xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc thù của nông nghiệp nên đạt hiệu
quả cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. So với nền kinh tế tiểu
nông thì kinh tế trang trại là một bước phát triển của kinh tế hàng hoá. Việc hình thành và
phát triển kinh tế trang trại là một quá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu,
mang tính sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá có quy mô từ nhỏ tới lớn.
Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm
canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan. Sự phát triển kinh
tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lớn khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng
nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội
nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng
Năm 2007, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại đạt 29.320,1 tỉ đồng, vốn sản xuất
bình quân của một trang trại là 257,8 triệu đồng. Nhiều trang trại ở các tỉnh phía Nam
như: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu có quy mô vốn
bình quân hơn 500 triệu đồng. Lợi nhuận bình quân từ KTTT đạt gần 120 triệu
đồng/trang trại, cao gấp 15 lần so với lợi nhuận bình quân của nông hộ. Giá trị sản phẩm
hàng hóa của các trang trại cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7-10%. Tỉ lệ
hàng hóa của nhiều trang trại đạt hơn 90% như cà phê, cao su… Một số trang trại đã kết
hợp sản xuất và chế biến, nên đạt hiệu quả kinh tế cao.
2. Kinh tế trang trại - Khai thác mặt nước và đất trống
Theo ông Trương Văn Quy, Phó cục trưởng cục Hợp tác nông thôn Việt Nam (khu
vực phía Nam): “KTTT phát triển đã góp phần khai thác diện tích mặt nước, đất hoang
hóa, đất ven sông, ven biển… đưa vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, thúc
đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, tạo điều kiện cho
công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phát triển”. Trong kết quả điều tra năm 2002
của Cục Thống kê, các trang trại đã sử dụng 369.600 ha đất và mặt nước, bình quân diện
Lớp K309TC _Nhóm 7
2
Tiểu Luận Kinh Tế Nông Hộ và Trang Trại GVHD: Nguyễn Bá Trung
tích sử dụng đất của một trang trại là 6,08ha. Đến năm 2009, diện tích đất và mặt nước
mà các trang trại sử dụng đã đạt con số hơn 990.000ha (trong đó 49% trang trại sản xuất
và kinh doanh tổng hợp; 29% chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản).
Những năm vừa qua, nhiều chủ trang trại ở TP Hồ Chí Minh đã đầu tư mạnh vào
các tỉnh như: Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắc Nông, Đắc Lắc, Đồng Nai.
Hàng trăm ngàn ha đồi trọc, đất trống đã chuyển mình thành rừng cao su, cà phê, hồ tiêu,
điều, keo lai, vườn cây ăn trái, hồ nuôi cá sấu, cá ba sa, tôm… Không chỉ diện tích đất
trống, đồi trọc, mặt nước để hoang phí, mà ngay cả diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả ở
các địa phương cũng được chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trở thành vùng đất sản xuất-kinh
doanh hiệu quả.
Hiện nay, mặc dù tình hình suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát
triển của mô hình KTTT, song diện tích đất hoang hóa vẫn đang được khai thác ngày
tỷ trọng sản xuất hàng hoá, tạo ra các vùng sản xuất tập trung làm tiền đề cho công
nghiệp chế biến nông lâm sản, đưa công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông
thôn, tăng tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, kinh tế trang trại cũng đang gặp những khó
khăn. Đó là vấn đề ruộng đất, mở rộng quy mô canh tác. Hiện nay, giá đất, nguyên vật
liệu xây dựng cơ sở hạ tầng cao, nhiều nông dân không có vốn để đầu tư. Thị trường tiêu
thụ sản phẩm bấp bênh. Nhất là vào vụ thu hoạch rộ, người nông dân thường bị tư thương
ép giá, có lúc giá bán không đủ chi phí sản xuất. Tình hình dịch bệnh liên tiếp xảy ra trên
đàn gia súc, gia cầm, một số loại bệnh chưa có vắc-xin phòng trị đặc hiệu; thiên tai ảnh
hưởng đến cây trồng, vật nuôi, thủy sản, ảnh hưởng đến tâm lý người dân. Tình trạng ô
nhiễm môi trường đất, nước, không khí ngày càng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh
dịch bệnh và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi, dẫn đến
chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa cao, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường tiêu
thụ. Sự liên kết giữa các trang trại lỏng lẻo, vẫn còn tư tưởng "mạnh ai người đó làm",
khiến nhiều sản phẩm làm ra bị tư thương ép giá. Vấn đề tiếp cận vốn còn gặp nhiều khó
khăn. Một số trang trại do thuê đất công điền, chưa được cấp giấy chứng nhận trang trại
nên không có tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng. Đa số các chủ trang trại và lao động
làm thuê đều là nông dân, chưa qua các lớp đào tạo dài hạn, chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm, chưa đáp ứng được nhu cầu. Cơ sở vật chất của các trang trại vẫn còn nghèo nàn,
hạn chế đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh.
Lớp K309TC _Nhóm 7
4
Tiểu Luận Kinh Tế Nông Hộ và Trang Trại GVHD: Nguyễn Bá Trung
III. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KTTT Ở VIỆT NAM
Để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển, những cơ chế, chính sách hỗ trợ trước đây
tiếp tục được thực hiện. Bên cạnh đó, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến, tổng kết,
nhân rộng những mô hình kinh tế tiêu biểu, làm ăn hiệu quả để người dân học hỏi và áp
dụng. Cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ khi thiên tai,
dịch bệnh xảy ra. Quy hoạch vùng, khu vực xây dựng trang trại, trong đó các hộ dân
được mua hoặc thuê đất với giá ưu đãi. Xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản như đường giao
Trang trại là nơi sản xuất nông sản hàng hoá nên phải có khả năng cạnh tranh cao.
Muốn thực hiện được mục tiêu đó, phải nâng cao trình độ ứng dụng KH&CN.
Đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi đầu mối kênh trục chính kết hợp với vốn
của trang trại đào ao, đắp đập, xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ, ứng dụng các
phương pháp tưới tiêu khoa học, tiết kiệm nước.
Đầu tư xây dựng các cơ sở ươm, nhân giống cây trồng, vật nuôi, cây giống lâm
nghiệp. Hỗ trợ các trang trại áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về bảo quản sản phẩm: áp dụng
công nghệ chế biến tiên tiến có quy mô vừa và nhỏ; sử dụng máy móc phù hợp để làm
đất, vận chuyển, bơm nước…Tổ chức tốt công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
để hỗ trợ các trang trại áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đồng thời
khuyến khích các chủ trang trại tham gia chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tới hộ nông dân
trong vùng.
Các viện và trung tâm nghiên cứu khoa học theo dõi sát nhu cầu của trang trại, liên
kết với các trang trại để xác định các mô hình chuyển giao kỹ thuật mới cho nông dân.
Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông
nghiệp, xử lý kịp thời những trường hợp buôn bán hàng giả, hàng chất lượng xấu, để giúp
nông dân và các chủ trang trại phát triển sản xuất có hiệu quả, hạn chế rủi ro.
4. Hỗ trợ trang trại tiếp cận thị trường, tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá.
Hướng dẫn các cơ sở công nghiệp chế biến hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ
nông, lâm sản hàng hoá với các chủ trang trại và hộ nông dân. Tuyên truyền, hướng dẫn
và giúp đỡ các trang trại, thực hiện liên kết giữa các trang trại với các doanh nghiệp Nhà
nước để phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho các chủ trang trại có khả năng tham gia xuất khẩu sản phẩm trực tiếp. Quy
hoạch và đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ở các địa bàn tập trung phát
triển kinh tế trang trại.
Lớp K309TC _Nhóm 7
6
Tiểu Luận Kinh Tế Nông Hộ và Trang Trại GVHD: Nguyễn Bá Trung
Tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, hướng dẫn các trang trại sản xuất
kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Tiểu Luận Kinh Tế Nông Hộ và Trang Trại GVHD: Nguyễn Bá Trung
VietGAP để sản phẩm của ta có thể cạnh tranh và tiêu thụ cả ở trong nước và nước ngoài,
cũng chính là chúng ta chủ động bước vào hội nhập.
Lớp K309TC _Nhóm 7
8
MỤC LỤC
Lớp : K309TC 1
I. MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTTT Ở VIỆT NAM 2
1. Kinh tế trang trại - Động lực tăng trưởng nông nghiệp 2
III. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KTTT Ở VIỆT NAM 5
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÓM 7
Họ và Tên Công việc Tự đánh giá
Lê Thị Thương Tìm tài liệu, trao đổi, thảo
luận, tổng hợp đưa ra ý kiến
thống nhất. Trình bày bài
tiểu luận.
90% Công viêc
Trần Thị Huê Tìm tài liệu, trao đổi, thảo
luận, tổng hợp đưa ra ý kiến
thống nhất.
80% Công viêc
Đặng Thị Vân Huyền Tìm tài liệu, trao đổi, thảo
luận, tổng hợp đưa ra ý kiến
thống nhất.Trình bày bài
tiểu luận.
90% Công viêc
Đặng Thị Hương Thảo Tìm tài liệu, trao đổi, thảo
luận, tổng hợp đưa ra ý kiến