Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
LỜI MỞ ĐẦU Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, những năm qua nền kinh tế nước ta
đã đang từng bước phát triển và tăng trưởng với nhịp độ cao. Từ nền kinh tế sản
xuất theo kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang nền kinh tế sản xuất
hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý và
điều hành c
ủa nhà nước là một quá trình đấu tranh gay gắt và quyết liệt giữa “cái
cũ” và “cái mới”, bởi “thương trường là chiến trường”. Là một doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh thuộc ngành than, Xí nghiệp than 917 công ty than Hòn Gai
Quảng Ninh cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt ấy của thị trường để
tạo ra chỗ đứng cho mình và khẳng định mình. Yếu tố quyết định tạo nên sự
thành công và sự sống còn của doanh nghiệp là
uy tín và chất lượng sản phẩm.
Muốn làm được như vậy, ngoài các yếu tố quan trọng khác, một trong các yếu tố
tác động trực tiếp đến chất lượng và giá thành sản phẩm là thiết bị công nghệ và
dây truyền sản xuất của doanh nghiệp. Đổi mới công nghệ sản xuất chính là đổi
mới công tác đầu tư thiết bị, vật tư, vật liệu trong quá trình sản xuất, tạ
o ra năng
xuất lao động cao, giá thành sản phẩm hạ và sức tiêu thụ lớn bởi lẽ: Trong cấu
tạo của giá thành sản phẩm thì chi phí về các loại vật liệu thường chiếm tỷ trọng
lớn trong toàn bộ chi phí và sản xuất và giá thành sản phẩm. Do vậy, tăng cường
công tác quản lý, công tác kế toán vật liệu đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm và
hiệu quả nhằm hạ
như lãnh đạo Xí nghiệp than 917 Quả
ng Ninh để luận văn của em được hoàn
thiện tốt hơn. Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba phần:
Phần I:
Giới thiệu chung về Xí nghiệp Than 917 Quảng Ninh
Phần II
: Tình hình hạch toán Nguyên vật liệu tại Xí nghiệp Than 917
Phần III:
Đánh giá chung về công tác kế toán tại Xí nghiệp Than 917 Em xin trân trọng cảm ơn!.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
kiệm và có kế hoạch. Trong quá trình sản xuất, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào
một chu kỳ sản xuất nhất định. Dưới tác động của lao động, nguyên vật liệu bị
tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành nên
thực thể sản phẩm.
- Về giá trị: Trong quá trình sản xuất, giá trị của nguyên vật liệu chuyển
dịch một lần toàn bộ vào giá trị
sản phẩm mới tạo ra.
3. Nhiệm vụ của công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản
xuất.
Chi phí các nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất, ngoài ra nó
là bộ phận quan trọng trong tổng giá trị hàng tồn kho ở doanh nghiệp. Do đó để
tăng cường công tác quản lý, công tác kế toán nguyên vật liệu đảm bảo việc s
ử
dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguyên vật liệu, trong doanh nghiệp cần sử dụng
tốt các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép tính toán, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu
mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình xuất- nhập - tồn kho nguyên vật liệu. Tổ
chức đánh giá, phân loại nguyên vật liệu, kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo
quản, dự trữ và sử
dụng nguyên vật liệu chính xác trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
- Áp dụng đúng đắn các phương pháp và nguyên tắc hạch toán hàng tồn kho,
mở sổ, thẻ kế toán chi tiết để ghi chép phản ánh, phân loại, tổng hợp số liệu về
tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của nguyên vật liệu trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
- Tham gia kiểm kê, đánh giá lại nguyên vật liệu theo đúng yêu cầu quản lý,
theo đúng chế độ
do Nhà nước quy định. Lập báo cáo và cung cấp số liệu đúng và
- Phụ tùng thay thế: bao gồm các loại phụ tùng, chi tiết dùng để thay thế,
sửa chữa máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải
- Thiết bị xây dưng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị, phương tiện được
chi cho công việc xây dựng cơ bản ( cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công c
ụ,
khí cụ và vật liệu kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản ).
- Vật liệu khác: là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế tạo
sản phẩm như gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình
thanh lý tài sản cố định.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng loại
doanh nghiệ
p mà trong từng loại nguyên vật liệu nêu trên lại được chia thành
từng nhóm, từng thứ, từng quy cách
Căn cứ vào mục đích, công dụng của nguyên vật liệu cũng như nội
dung từng quy định phản ánh chi phí nguyên vật liệu trên các tài khoản kế
toán thì nguyên vật liệu của doanh nghiệp được chia thành:
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác: phục vụ, quản lý ở các phân
xưởng, tổ, đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp
Căn cứ vào nguồn nhập, nguyên vật liệu được chia thành nguyên
vật liệu nhập do mua ngoài, tự gia công chế biến, nhận góp vốn
2. Đánh giá nguyên vật liệu.
Đánh giá nguyên vật liệu là xác
định giá trị nguyên vật liệu theo những
Nguyên vật liệu được thu mua nhập kho thường xuyên từ nhiều nguồn
khác nhau, do vậy giá thực tế của từng lần, từng đợt nhập kho không hoàn toàn
giống nhau, vì thế khi xuất kho kế toán phải sử dụng một phương pháp đã cho
trong phương pháp sau:
- Tính theo giá thực tế tồn kho đầu kỳ:
Giá thực tế NVL
xuất kho
= Số lượng NVL xuất kho x Đơn giá thực tế tồn đầu kỳ
- Tính theo giá bình quân gia quy
ền:
Giá thực tế NVL
xuất kho
= Số lượng NVL xuất kho + Đơn giá thực tế bình quân
Trong đó:
Giá thực tế tồn đầu kỳ + Giá thực tế nhập trong kỳ
Đơn giá thực tế
bình quân
=
Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ
- Tính theo giá nhập trước - xuất trước:
Theo phương pháp này trước hết ta phải xác định được đơn giá thực tế
nhập kho của từng lần nhập và giả thiết hàng nào nhập kho trước thì xuất trước.
Giá thực tế xuất kho của từng lô hàng được ưu tiên trước đó.
- Tính theo giá thực tế nhập sau - xuất trước:
Theo phương pháp này cũng phải xác định được đơn giá thực tế của từ
ng
- Sau đó ta tính giá thực tế xuất kho căn cứ vào giá hạch toán xuất
kho và hệ số giá.
Giá thực tế xuất kho = Giá hạch toán x Hệ số giá
III. NỘI DUNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT.
1. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
1.1. Chứng từ kế toán sử dụng.
Theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành QĐ 1141/TC/QĐ/CĐTK
ngày 1/1/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các chứng từ kế toán nguyên vật
liệu bao gồm:
- Phiếu nhập kho ( Mẫu 01- VT)
- Phiếu xuất kho( Mẫu 02- VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ ( Mẫu 03- VT)
- Biên bản kiểm kê v
ật tư, sản phẩm, hàng hoá ( Mẫu 08- VT)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho ( Mẫu 02- BH)
- Hoá đơn cước phí vận chuyển ( Mẫu 03- BH)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của Nhà
nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
như: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức ( Mẫu 04- VT), biên bản kiểm nghiệm vật
tư (Mẫu 05-VT), phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ( Mẫu 07- VT) Đối với các
chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng mẫu
quy định, đúng nội dung và phương pháp lập.
1.2 Sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu
liệu có tính chất lý hoá phức tạp, các loại vật tư quý hiếm hoặc trong quá trình
nhập kho phát hiện có sự khác biệt về số lượng giữa hoá đơn và thực nhập thì
doanh nghiệp lập ban kiểm nghiệm vật tư để kiểm nghiệm vật tư trước lúc nhập
kho và lập biên bản kiểm nghiệm.
Thủ tục chứng từ cần thiết trong nghiệp vụ xuất kho nguyên vật li
ệu
Với doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên thì khi
xuất kho nguyên vật liệu phải lập phiếu xuất kho hoặc phiếu xuất vật tư theo hạn
mức. Sau khi xuất kho, thủ kho ghi số lượng thực xuất với người ký nhận vào
phiếu xuất kho.
Phiếu xuất vật tư theo hạn mức được lập trong trường hợp doanh nghiệp
sản xuất ổn định và
đã lập được định mức tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm. Số
lượng nguyên vật liệu thực xuất trong tháng do thủ kho ghi căn cứ vào hạn mức
được duyệt theo yêu cầu sử dụng từng lần và số lượng thực xuất từng lần.
1.4 Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu
1.4.1 Phương pháp thẻ song song
* Trình tự công việc thực hiện như sau:
- Ở kho:
Việc ghi chép tình hình nhập- xuất - tồn kho hàng ngày do thủ
kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng.
Khi nhận được các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu thủ kho phải kiểm tra
tính hợp lý, hợp pháp của chúng rồi ghi chép số thực nhập, thực xuất vào chứng
từ và thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho rồi ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho
gửi các chứng từ nhập xuất kho về phòng kế
toán.
- Ở phòng kế toán:
Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép
tình hình nhập - xuất - tồn kho của từng loại nguyên vật liệu ở từng kho dùng
cho cả năm, nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi
vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập các bảng kê nhập, xuất trên cơ sở
các chứng từ nhập - xuất định kỳ thủ kho gửi lên. S
ổ đối chiếu luân chuyển cũng
được theo dõi cả về chỉ tiêu số lượng và giá trị. Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối
chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.
( Xem phụ lục số 2)
- Ưu điểm
: Khối lượng ghi chép được giảm bớt, dễ làm do chỉ ghi một
lần vào cuối tháng.
- Nhược điểm
: Việc ghi sổ vẫn bị trùng lặp giữa thủ kho và phòng kế
toán về chỉ tiêu hiện vật, việc đối chiếu, kiểm tra cũng tiến hành vào cuối tháng
do đó hạn chế tác dụng kiểm tra.
- Phạm vi áp dụng
: áp dụng cho doanh nghiệp có ít nghiệp vụ nhập -
xuất không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
1.4.3 Phương pháp sổ số dư
Trình tự ghi chép:
- Ở kho:
Thủ kho dùng để ghi chép tình hình nhập - xuất - tồn kho,
nhưng cuối tháng phải ghi sổ tồn kho đã tính trên thẻ kho sang sổ số dư vào cột
số lượng.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
Nguyên vật liệu là tài sản lưu động, thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh
nghiệp. Theo quyết định QĐ 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 thì trong
doanh nghiệp chỉ được áp dụng một trong hai phương pháp hạch toán hàng tồn
kho đó là: phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định
kỳ.
Dưới đây là nội dung cụ thể của từng phương pháp:
2.1. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường
xuyên.
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi phản ánh
thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập - xuất - tồn kho các loại vật
liệu trên tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở chứng từ nhập - xuất.
Việc xác định giá trị nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp này được
căn cứ trực tiếp vào các chứng từ xuất kho sau khi đã được tập hợp, phân loại
theo các đối tượng sử
dụng để ghi vào các tài khoản và sổ kế toán. Ngoài ra giá
trị nguyên liệu tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán được xác định ở bất kỳ thời
điểm nào trong kỳ kế toán.
- Phương pháp kê khai thường xuyên được áp dụng trong phần lớn các
doanh nghiệp sản xuất và trong các doanh nghiệp thương mại
- Tài khoản kế toán sử dụng: để hạch toán biến động tổng hợp nguyên vật
liệu trong kho, tại các danh điể
m trong doanh nghiệp là tài khoản 152 “ nguyên
vật liệu”.
Tài khoản 152 có thể mở thành các tài khoản cấp 2 bao gồm:
- Phương pháp này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chỉ
tiến hành một loại hoạt động hoặc ở các doanh nghiệp thương mại kinh doanh
các mặt hàng có giá trị thấp, mặt hàng nhiều.
- Tài khoản kế toán sử dụng: để hạch toán biến động tổng hợp nguyên vật
liệu là TK 611 “ Mua hàng”.
+ TK 6111: Mua nguyên vật liệu
+ TK 6112: Mua hàng hoá
Ngoài ra còn sử d
ụng các tài khoản liên quan khác như TK
111,112,334,621 và tuỳ từng doanh nghiệp có thể mở thêm các tài khoản cấp
2,3 như tài khoản 6111A
- Sơ đồ hạch toán: ( Xem phụ lục số 5) Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
Nộp ngân sách Triệu 160.423 281.236 509.096
Lợi nhuận Triệu 1.248.000 34.115 30
Lao động Người 300 376 494
Thu nhập bình quân 1000đ 1.250.000 1.305.000 1.659.000
Qua bảng trên ta thấy hầu hết các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh
doanh của Xí nghiệp đều đạt và vượt kế hoạch theo cấp độ năm sau cao hơn năm
trước. Cụ thể là:
Tổng doanh thu của Xí nghiệp năm 2003 là 36.017 tỷ tăng 1.146 tỷ so với
tổng doanh thu của năm 2002.
Năm 2004 là 68.117 tỷ tăng 32.1 tỷ so với năm 2003 và tăng xấp xỉ 200%
so với năm 2003.
Điều đó chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí
nghiệp trong 3 năm qua đã đạt được hiệu quả cao. Có được kết quả trên là do
chiến lược đầu tư các thiết bị sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp như: việc đưa hệ thống chống lò thuỷ lực và
khai thác than hầm lò, đổi mớ
i thiết bị bóc xúc đất đá và hoạt động than mỏ,đổi
mới quy trình sản xuất kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường.
Các chỉ tiêu số lượng sản xuất than và nộp ngân sách cho nhà nước đều
tăng (cụ thể như bảng trên) với mức độ năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt là
chỉ tiêu nộp ngân sách tăng cao. Ví dụ năm 2004 nộp 509.096 triệu tăng gấp
đôi
so với năm 2002 và tăng gần gấp ba so với năm 2003.
Về lợi nhuận: Do việc tổ chức sắp xếp lại mô hình sản xuất kinh doanh
nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước.
* Phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc trong công tác quản lý,
điều hành và trực tiếp phụ trách một hoặc một số công vi
ệc theo sự phân công
của Giám đốc.
* Phòng Kế toán tài chính: Có chức năng tham mưu cho giám đốc về mặt
thống kê và tài chính. Ngoài ra còn có nhiệm vụ khai thác nhằm đảm bảo đủ
nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối thu nhập và thực hiện
nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước.
* Phòng Kế hoạch tổng hợp: Là phòng chuyên môn nghiệp vụ giúp giám
đốc Xí nghiệp và lãnh đạo Xí nghiệp xây dựng và quản lý điều hành kế ho
ạch
sản xuất kinh doanh của toàn Xí nghiệp.
* Văn phòng tổng hợp: Là bộ phận giúp việc cho Giám đốc và lãnh đạo
Xí nghiệp trong việc chuẩn bị kế hoạch điều hành các hoạt động của Giám đốc
và lãnh đạo Xí nghiệp trong công tác đối nội và đối ngoại, xây dựng kế hoạch
chỉ đạo sản xuất kinh doanh, nội dung kế hoạch sơ kết tháng, quý, năm của Xí
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
nghiệp. Giúp Giám đốc xây dựng và ban hành các văn bản phục vụ sản xuất
kinh doanh, công tác hành chính văn phòng.
* Phòng Tổ chức lao động: Có chức năng tham mưu cho Giám đốc và
lãnh đạo Xí nghiệp về tổ chức, sắp xếp và quản lý lao động nhằm sử dụng hợp
lý, hiệu quả đồng thời nghiên cứu các biện pháp, xây dựng các phương án nhằm
hoàn thiện việc trả lương, phân phối tiền thưởng hợp lý.
* Phòng an toàn:
- Phân xưởng Lộ thiên: là đơn vị được giao chuẩn bị sản xuất và khai thác
than trên các công trường lộ thiên.
- Phân xưởng Vận tải: được giao nhiệm vụ vận chuyển đất đá và than tại
các phân xưởng Hầm lò và Lộ thiên.
- Phân xưởng Cảng: Với nhiệm vụ kho bãi và bến cảng, làm nhiệm vụ tiếp
nhận sàng tuyển, lưu kho các loại than mỏ.
- Phân xưởng Cơ đi
ện: Là phân xưởng đảm bảo về yêu cầu cơ khí điện và
các điều kiện kỹ thuật khác cho các phân xưởng sản xuất.
Quy trình Sản xuất của Xí nghiệp than 917 (Phụ lục số 8
).
3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Xí nghiệp than 917.
3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán ( Xem phụ lục số 9 )
Các cán bộ làm công tác kế toán tại xí nghiệp than 917 đều có trình độ đại
học trở lên, trình độ chuyên môn đồng đều, nhiều năm kinh nghiệm trong công tác.
Mỗi người được chuyên môn hoá theo phần hành đồng thời cũng luôn có kế hoạch
đối chiếu số liệu với nhau để phát hiệ
n kịp thời những sai sót.
3.2 Một số đặc điểm chủ yếu của công tác kế toán tại Xí nghiệp
Xí nghiệp than 917 là đơn vị hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ
và trực thuộc Công ty than Hòn Gai. Do đó để phù hợp cho việc ghi chép sổ sách,
mỏ than 917 đã áp dụng sổ kế toán là: “ Hình thức sổ Nhật ký chứng từ” và toàn bộ
quá trình hạch toán được thực hiện trên máy tính do Xí nghiệp áp dụng phầ
n mềm
kế toán máy Effect.
- Năm tài chính từ 1/1 hàng năm và kết thúc vào 31/12 hàng năm.
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong thanh toán là đồng Việt nam.
- Sổ kế toán sử dụng: Sổ cái TK 621 và sổ chi tiết TK621
4.5. Kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng
- Tài khoản kế toán sử dụng: TK 111, TK 112 và các tài khoản liên quan.
-
Sổ kế toán sử dụng: TK 111,112.
II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI XÍ
NGHIỆP THAN 917.
1. Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu tại Xí nghiệp.
Xí nghiệp là đơn vị khai thác chế biến và kinh doanh mỏ, do vậy nguồn
vật tư, thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh là những loại vật tư,
thiết bị chuyên dùng được sản xuất và cung ứng theo yêu cầu đặt hàng của đơn
vị sử dụng như: vật liệu nổ, phụ kiện, phụ tùng c
ủa các thiết bị khoan, xúc và
các loại ray, goòng, gỗ chống lò, nhiên liệu.
Chính vì vậy hàng năm căn cứ vào yêu cầu sử dụng vật tư, thiết bị, bộ
phận kế hoạch của xí nghiệp phải lập kế hoạch vật tư, thiết bị được lãnh đạo xí
nghiệp duyệt và ủy quyền thực hiện hợp đồng cung cấp vật tư với các nhà máy
sản xuất và cung
ứng vật tư, vật liệu, phụ kiện nổ của các đơn vị chuyên ngành
như: xí nghiệp Hóa chất Mỏ Quảng Ninh, Xí nghiệp Vật tư Hòn Gai, Trung tâm
cơ khí than Việt Nam và các công ty kinh doanh vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu
khác Đối với một số vật tư thiết bị dạng đặc chủng, khi mua cần kiểm soát
chặt chẽ về tính năng và chất lượng (như bình chữa cháy, trang thiết bị vă
n
phòng) thì Giám Đốc trực tiếp chỉ định đơn vị có chuyên môn thực hiện.
Việc cung ứng vật tư phải được thực hiện theo các trình tự được Công ty
và Tổng công ty quy định. Tất cả các mặt hàng vật tư trước khi mua đều được
Hội đồng thẩm định giá của Xí nghiệp xét duyệt về giá cả và số lượng mua trên
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
Để đáp ứng nhu cầu quản lý nguyên vật liệu một cách khoa học và chính
xác hơn, Xí nghiệp đã tiến hành mã hoá các loại nguyên vật liệu bằng việc xây
dựng một “ Bảng danh điểm nguyên vật liệu” ( Xem phụ lục số 30 ) và được cài
đặt trên máy vi tính, mỗi năm khai báo một lần vào thời điểm đầu năm.
2. Đ
ánh giá nguyên vật liệu tại Xí nghiệp.
2.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Tại Xí nghiệp, giá nguyên vật liệu nhập kho được đánh giá theo nguyên
tắc giá thực tế. Nguyên vật liệu của Xí nghiệp được mua từ nhiều nguồn khác
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học QL&KD Hà Nội Nguyễn Thị Thuỳ
Linh
nhau nên theo từng nguồn nhập mà giá thực tế của nguyên vật liệu trong từng
trường hợp cũng khác nhau.
- Đối với nguyên vật liệu không nhập khẩu mà thu mua trong nước thì
giá thực tế được tính:
Giá thực tế Giá mua ghi Chi phí thu mua
NVL nhập kho = trên hoá đơn + phát sinh ( nếu có)
Ví dụ
: - Nhập kho thuốc nổ Anpô của Xí nghiệp hoá chất mỏ Quảng Ninh theo
hoá đơn số 054346 ngày 2/11/2004.Tính theo kg giá mua ghi trên hóa đơn
10.000kg là 82.800.000đ.
- Chi phí vận tải chở thuốc nổ từ Xí nghiệp hoá chất về mỏ là 4.000.000đ.
Giá thực tế
NVL nhập kho = 82.800.000 + 4.000.000 = 86.800.000
2.2. Tính giá nguyên vật liệu xuất kho
Để tính giá nguyên vật liệu xuất kho, Xí nghiệp đã sử dụng phương pháp
3. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu tại Xí nghiệp than 917.
( Xem phụ lục số 10)
Chứng từ sử dụng để hạch toán chi tiết nguyên vật liệu tại công ty bao
gồm: phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, biên bản kiểm nghiệm vật tư, thẻ kho, sổ
thẻ chi tiết nguyên vật liệu, hoá đơn
Công tác hạch toán chi tiết nguyên vật liệu được tiến hành đồng thời tại
bộ phận kho và b
ộ phận kế toán.
Hình thức sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu được áp dụng theo phương pháp
thẻ song song và sử dụng bảng kê tổng hợp nhập, xuất, tồn nguyên vật liệu
- Ở kho
: Thủ kho dùng thẻ kho để ghi chép phản ánh tình hình nhập, xuất
, tồn mỗi loại nguyên vật liệu theo chỉ tiêu số lượng. Số lượng để ghi vào thẻ
kho lấy được từ các chứng nhập, xuất, tồn hàng ngày. Cuối tháng thủ kho và kế
toán tiến hành đối chiếu tình hình nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu.
- Ở phòng kế toán
: Kế toán nguyên vật liệu mở sổ thẻ chi tiết nguyên vật
liệu để theo dõi nhập xuất nguyên vật liệu hàng ngày. Cuối tháng khi nhận được
các chứng từ nhập- xuất nguyên vật liệu do thủ kho nguyên vật liệu mang đến
thì kế toán tiến hành phân loại chứng từ, theo dõi từng loại phiếu nhập, xuất của
từng kho riêng rồi ghi vào sổ chi tiết từng loại nguyên vật liệu.
4. Thủ t
ục nhập, xuất kho nguyên vật liệu.
4.1. Thủ tục nhập kho
Tất cả các nghiệp vụ kế toán phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
của Xí nghiệp liên quan đến việc nhập, xuất nguyên vật liệu đều phải lập chứng
từ kế toán đầy đủ, kịp thời, chính xác theo đúng chế độ ghi chép về nguyên vật
liệu do nhà nước ban hành.
Tại Xí nghiệp than 917, nguyên vật liệu của xí nghiệp chủ yế
u là nguyên
- Một liên mang xuống phân xưởng đưa thủ kho
- Một liên gắn vào bảng kê xuất vật tư cuối tháng
5. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại Xí nghiệp than 917.
5.1 Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán nguyên vật liệu sử dụng một số tài khoản sau;
TK152: “ Nguyên liệu,vật liệu”
TK 133: “ Thuế GTGT được khấu trừ ”
TK 331: “ Phải trả người bán ”
TK111: “ Tiền mặt ”.