CHƯƠNG VII
CẦN BIẾT NHÀN TẢN
1. TRONG CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT CHỈ DUY CÓ CON NGƯỜI LÀ LÀM
VIỆC
Vậy bữa tiệc nhân sinh đã bày trước mặt ta rồi đấy, chỉ còn mỗi một vấn đề là ta
có thèm ăn hay không. Không phải món ăn là quan trọng, thèm ăn mới quan trọng.
Khi xét loài người, điều lạ lùng nhất là cái quan niệm về sự làm việc và cái số
lượng công việc mà loài người tự bắt mình phải làm. Vạn vật trong vũ trụ đều
nhàn tản, duy có loài người là làm việc để sống. Con người bây giờ phải làm việc
vì do những tấn bộ của văn minh, đời sống hoá ra phiền phức không tưởng tượng
được: đủ các bổn phận, trách nhiệm, lo âu, chướng ngại, tham vọng, do xã hội tạo
ra cả. Trong khi tôi ngồi viết ở đây, thì một con bồ câu lượn chung quanh gác
chuông một giáo đường, ngay trước cửa sổ tôi, chẳng hề lo lắng rằng sẽ có cái gì
ăn không. Tôi nhận rằng bữa cơm của tôi phiền phức hơn bữa ăn của con bồ câu
và phải nhờ cả ngàn người làm việc, phải nhờ một hệ thống rất phức tạp về văn
hóa, mậu dịch, vận chuyển, giao hàng, nấu nướng, tôi mới có vài món ăn trong
mỗi bữa. Cho nên con người khó kiếm được miếng ăn hơn loài vật, và nếu một
con thú rừng nào lạc vào thành phố, mà lại nhận thấy được kiếp lao động khó nhọc
của chúng ta thì tất nó sẽ hoài nghi và kinh ngạc lắm.
Nó sẽ nghĩ rằng trong vạn vật chỉ có cái con vật đi hai chân là chúng ta mới làm
việc. Trừ ít con ngựa kéo xe, vài con bò kéo cày, ngay những gia súc của chúng ta
cũng không làm việc. Con chó săn của cảnh sát ít khi phải làm nhiệm vụ; con chó
giữ nhà buổi sáng kiếm chỗ nắng ấm ngủ thẳng giấc rồi chơi giỡn gần suốt ngày,
con mèo quí phái nhất định là không hề làm một việc gì để “mưu sinh” rồi, muốn
đi chơi đâu thì đi. Con người siêng năng cũng bị nhốt trong chuồng, cũng bị thuần
phục (như gia súc) mà lại không được xã hội nuôi, phải làm việc cực khổ để kiếm
lấy miếng ăn. Tôi hoàn toàn nhận rằng nhân loại được hưởng nhiều cái lợi, như cái
vui khoa học, cái vui đàm đạo và cái vui ảo tưởng. Nhưng vẫn còn sự tình cốt yếu
thêm bao nhiêu cặp tôi tớ rủ nhau tìm cách vung phí để khuây khoả. Có Trời Phật
chứng giám, họ cần quên những bức tường gạch đơn điệu, những sân đánh bóng
này nữa chứ! Và tất nhiên bọn đàn ông đi coi đàn bà khoả thân. Do đó mà những
chứng thần kinh thác loạn cũng nhiều hơn, thuốc aspirine cũng bán chạy hơn, bệnh
đau bụng, đau bao tử, đau ruột dư, đau óc, đau gan, bệnh huyết áp, đường xí, mất
ngủ, bón, mất ăn, mệt mỏi cũng nhiều hơn. Để cho bức hoạ được đủ, tôi phải
thêm: chó nuôi cũng nhiều hơn mà trẻ con thì bớt đi. Thực ra trong bọn họ cũng có
vài người sống vui vẻ, nhưng xét chung thì có lẽ không sung sướng bằng những kẻ
làm lụng nhiều; và họ buồn chán hơn. Nhưng họ có xe hơi và có lẽ có cả một ngôi
nhà nghỉ mát ở vùng quê. Vậy là ở nhà quê người ta làm việc cực khổ để có tiền ra
tỉnh ở, và ở tỉnh người ta lại kiếm tiền cho nhiều để trở về nhà quê nghỉ.
Nếu bạn đi dạo một vòng trong châu thành, bạn sẽ thấy phía sau một phố chính
với những mĩ viện lộng lẫy, những hàng bán hoa, những công ti vận hành, có một
phố nữa với các tiệm thuốc, tiệm tạp hoá, tiệm bán đồ sắt, tiệm giặt ủi, các quán ăn
rẻ tiền, các sạp báo. Đâu đâu cũng những tiệm, những quán đó. Họ sẽ sống ra sao?
Tới đây làm gì? Giản dị lắm. Người thợ giặt giặt quần áo cho người hớt tóc, người
hớt tóc lại hớt tóc cho người thợ giặt và người bồi quán ăn. Văn minh là như thế.
Có lạ lùng không? Tôi cá rằng một số thợ giặt, thợ hớt tóc hoặc bồi quán ăn suốt
đời không bao giờ ra khỏi châu thành. Nhờ trời, còn có những rạp hát bóng trong
đó họ có thể trông chim hót trên cành lá đong đưa, thấy nước Thổ, nước Ai Cập,
núi Hi Mã Lạp Sơn, núi Andes, thấy những cơn bão, những vụ đắm tàu, những
cuộc lễ gia miện, thấy những con kiến, con sâu, con xạ thử, thấy con rắn mối đánh
nhau với con bò cạp, thấy núi, sông, mây và cả mặt trăng nữa; thấy tất cả những
cái ấy trên màn bạc.
Ôi! Nhân loại thông minh trí tuệ một cách kinh khủng! Tôi xin bái phục. Làm sao
hiểu nổi cái văn minh nó bắt người ta làm việc cực khổ đến bạc đầu để kiếm ăn mà
quên mất cái sự nghỉ ngơi, vui chơi.
tới. Thời nhàn hạ cũng như khoảng trống trong phòng”. Một thiếu nữ siêng năng
nào mướn được một căn phòng nhỏ đầy đồ đạt, không còn chỗ trống thì ai cũng
thấy không thư thái, vì không có chỗ để cử động nữa, cho nên khi được tăng lương
thì đi kiếm ngay một căn phòng rộng hơn để có nhiều chỗ trống hơn. Chính những
chỗ trống đó làm cho căn phòng dễ ở; những lúc nhàn hạ cũng vậy, làm cho đời ta
dễ chịu hơn. Một bà giàu có, sống ở Park Avenue, mua một khu đất cạnh nhà để
cho người ta khỏi cất một ngôi nhà chọc trời trên khu đó. Bà ta phải trả một số tiền
lớn để có một khoảng đất hoàn toàn vô dụng, và tôi cho rằng chưa bao giờ bà dùng
tiền một cách sáng suốt bằng lần đó.
Về điểm đó, tôi xin chép một kinh nghiệm bản thân. Ở Nữu Ước, tôi không sao
thấy được cái đẹp của một ngôi nhà chọc trời; tới Chicago tôi mới hiểu được rằng
một ngôi nhà chọc trời rất có thể uy nghi, rất đẹp, nếu trước mặt có đủ đất trống và
ba phía kia có khoảng trống ít nhất là non một cây số. Về phương diện đó,
Chicago có lợi thế hơn là khu Mahattan ở Nữu Ước, và những ngôi nhà lớn ở
Chicago có nhiều khoảng trống chung quanh để người ta có thể đứng xa trông ngó
được. Nói một cách bóng bẩy thì đời sống của chúng ta cũng hẹp quá, nên ta
không thể thong thả bao quát được phần tâm linh của nó. Ta thiếu cái thế nhìn xa.
3. ĐẠO THANH NHÀN
Lòng yêu thanh nhàn của người Trung Hoa có nhiều nguyên nhân: trước hết là do
bản tính họ rất yêu đời, lại thêm lòng yêu đó, trải qua các triều đại, được một tiềm
lưu trong văn chương lãng man đề cao, sau cùng được một triết học – đại thể là
triết học Lão, Trang – biện giải cho. Gần như toàn thể người Trung Hoa chấp nhận
quan niệm về nhân sinh đó, cơ hồ như họ có cái máu Lão Trang trong người vậy.
Có một điểm ta cần phải minh xác. Nhiều người thường tưởng rằng chỉ hạng
người giàu có mới sùng thượng đời sống thanh nhàn. Chính các văn nhân thi sĩ
nghèo hèn, lao đao mới thường lựa đời sống đó. Khi đọc các kiệt tác trong văn học
được!); ở Trung Hoa nó là sản phẩm của những tâm hồn cao thượng, quá tự phụ
nên không thèm xin ân huệ, quá độc lập nên không chịu làm việc dưới quyền một
ai, và quá minh triết nên không coi trọng những thành công trên đời. Họ cao
thượng nên thản nhiên đối với bi kịch của đời sống, họ vượt được lên trên những
tham vọng, những đam mê, những quyến rũ của danh lợi. Họ thành hạng người lí
tưởng được mọi giới ngưỡng mộ nhất trong văn học Trung Quốc. Họ sống rất giản
dị và khinh thị công danh.
Những văn hào đó – Đào Uyên Minh, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị, Viên Trung
Lang, Viên Tử Tài – đều có làm quan trong một thời gian ngắn ngủi, chính tích rất
tốt đẹp, nhưng rồi đều chán cái cảnh ra luồn vào cúi nên cam tâm bỏ quan từ lộc,
về vườn ở ẩn. Khi Viên Trung Lang làm tri huyện Tô Châu, có lần ông dâng lên
quan trên một mạch bảy lá đơn từ chức, nhất định không chịu cảnh ra luồn vào cúi
nữa, chỉ xin về nhà để được tự do, tự chủ.
Ngoài ra, còn một thi nhân là Bạch Ngọc Thiềm làm một bài thơ rất mực ca tụng
sự thanh nhàn để treo ở thư trai mà ông đặt tên là “Dong am” (Am biếng nhác).
Bài đó như sau:
Đan kinh2[2] biếng đọc vì Đạo không phải ở trong sách.
Tạng kinh3[3] biếng coi vì chỉ là cái bì phu của Đạo.
Cái tốt của Đạo là trong sự thanh hư.
Thanh hư là gì? Là suốt ngày như ngu.
Có thơ mà biếng ngâm vì ngâm xong thì ruột héo4[4],
Có đàn mà biếng gảy, vì gảy xong là hết nhạc.
Có rượu mà biếng uống vì ngoài cái say còn có sông hồ5[5].
Có cờ mà biếng chơi vì ngoài nước cờ còn có can qua6[6].
như nhà doanh thương tiếc rằng trong ngày không bán được nhiều món hàng hơn.
4. CÕI TRẦN LÀ THIÊN ĐƯỜNG DUY NHẤT
Thật lạ lùng, biết rằng kiếp trần có hạn, rằng không ai không chết, thì ta lại yêu đời
nồng nhiệt hơn lên, muốn tận hưởng cái thú ở đời, và trong lòng yêu đời đó, đượm
một chút bi cảm nên thơ. Nếu chúng ta có một chút hi vọng rằng chúng ta sẽ bất tử
thì trong lòng muốn hưởng lạc của ta tất giảm đi. Như tước sĩ Arthur Keith đã nói
“Vì nếu mọi người tin như tôi rằng cõi trần này là Thiên đường duy nhất thì người
ta đã tận lực biến đổi nó thành một Thiên đường”. Cảm tưởng của ông y như cảm
tưởng của người Trung Hoa. Tô Đông Pha viết: “Đời qua như một giấc mơ xuân,
không lưu lại một vết nào cả” (Sự như xuân mộng liễu vô ngấn), biết vậy cho nên
Tô càng quyến luyến với đời. Trong văn học Trung Quốc, ta luôn luôn thấy cái
cảm giác “nhân sinh bất tái” đó. Trong những lúc vui nhất của họ, thi nhân và học
giả Trung Hoa đều bi cảm về nỗi “nhân sinh bất tái”, “kiếp người ngắn ngủi”, về
nỗi “hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết”. Trong bài phú “Xuân dạ yến đào lý
viên tự”, Lí Bạch viết: “Phù sinh nhược mộng, vi hoan kỉ hà” (Đời người như
mộng, vui được bao lâu?) và Vương Hi Chi10[10], trong lúc vui vầy yến tiệc cùng
bạn bè viết bài bất hủ “Lan Đình tập tự” để than thở cho cảnh “nhân sinh bất tái”.
“Năm thứ chín, niên hiệu Vĩnh Hoà, nhằm năm Quí Sửu, đầu tháng ba, hội ở Lan Đình tại huyện Sơn Âm, quân Cối Kê để tiến hành lễ tu hễ11[11]. Quần hiền tới đủ,
già trẻ đều họp. Nơi đó có núi cao đỉnh lớn, rừng rậm trúc dài, lại có dòng trong
chảy xiết, chiếu quanh hai bên, dẫn nước uốn khúc, làm chỗ thả chén12[12]. Mọi
người ngồi theo thứ tự. Tuy không có tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng quản, tiếng huyền
cho vui tai, nhưng uống một hớp rượu, ngâm một câu thơ, cũng đủ thư sướng u
tình. Hôm đó khí trời trong sáng, gió nhẹ lâng lâng, ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông,
cúi xem vạn vật muôn vẻ, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để hưởng hết cái thú
“kiếp người có hạn” đó giải phóng sinh lực cho ta.
Khi thi nhân và dân chúng Trung Hoa hưởng lạc thì trong tiềm thức họ cảm thấy
rằng, cái vui sẽ không vĩnh viễn, rằng hội hè dù vui tới mấy, sớm muộn gì cũng
phải tàn. Họ nhìn đời như một nhà vẽ sơn thuỷ đời Tống nhìn sau một màn sương
bí mật, hoặc sau một lớp không khí mù mù hơi nước.
Cái cảm giác có tính cách nửa hiện thực, nửa tinh thần đó, được chủ nghĩa nhân
bản của người Trung Hoa, được cả cái lối sống và lối suy nghĩ của họ nhận là
đúng, mà triết học của họ chú trọng tới sự hiểu đời hơn là tới sự tìm chân lí. Gạt
bỏ tất cả những lí luận siêu hình, trừu tượng; cho nó là sản phẩm mơ hồ của trí tuệ,
các triết gia Trung Hoa13[13] chỉ nhắm vào đời sống, chỉ đặt một vấn đề giản dị,
vĩnh viễn: “Chúng ta sống ra sao đây?”. Người ta Trung Hoa cho rằng triết học mà
hiểu theo nghĩa của phương Tây thì thật là phù phiếm, vô ích. Triết gia Tây
phương chỉ lo nghiên cứu về lí luận để tìm những cách đạt tới tri thức, họ nghiên
cứu về nhận thức luận để tìm hiểu khả năng tính của tri thức mà quên không tìm
hiểu đời sống. Như vậy cũng ngu xuẩn, bá láp như ve vãn một người đàn bà mà
không cưới người ta để sinh con đẻ cái, cũng như bận quân phục, đi từng đoàn ra
chiến trường để chẳng chiến đấu. Phù phiếm nhất là các triết gia Đức, họ ve vãn
chân lí y như những gã si tình mà rất ít kẻ kết hôn với chân lí.
5. VẤN ĐỀ HOẠ PHÚC
Đạo giáo nhận rằng không có gì là hoạ, là phúc, do đó mà đặc biệt tạo cho người
Trung Hoa cái tính tình ưa nhàn. Tư tưởng cốt yếu của đạo đó ở chỗ cho hiện sinh
quan trọng hơn sự biến hoá14[14], tư cách quan trọng hơn sự thành công, và tĩnh
thắng được động. Con người chỉ có thể bình thản được khi không bị dao động vì
hoạ phúc ở đời. Chúng ta còn nhớ truyện “Tái ông thất mã” trong sách Hoài Nam
đi quật một ngôi mộ để trộm bảo vật, cầm búa đập bể sọ và hàm răng người chết,
chỉ vì kẻ này ngu xuẩn dặn người thân đặt một viên ngọc trong miệng mình khi
liệm xác15[15].
Những điều tôi trình bày trong đoạn trên đưa tới kết luận tất nhiên này là “Thế thì
tại sao ta không sống một đời nhàn tản?”.
6. BA TẬT CỦA NGƯỜI MĨ
Nhân sinh quan của người Mĩ ngược hẳn với người Trung Hoa. Trong một xưởng
nọ, tôi thấy một tấm bảng lớn với hàng chữ này: “Mới chỉ gần ngay thì vẫn chưa
được”. Người Mĩ khó chịu ở chỗ cầu toàn trách bị, khi một vật nào đã gần ngay thì
họ còn muốn làm cho ngay hơn nữa, cho thật ngay, còn người Trung Hoa thì xính
xái, cho gần ngay là được rồi.
Ba tật của người Mĩ là tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Họ rất
khổ, rất quạo quọ vì ba tật đó cướp mất của họ cái quyền nhàn tản, cái quyền
hưởng một buổi chiều an nhàn, vui vẻ. Chúng ta phải quen với ý này đi: ở đời
không có gì là tai hoạ cả và bên cạnh cái nghệ thuật làm việc còn có một nghệ
thuật cao cả hơn nữa là chẳng làm gì cả. Xét chung thì trả lời ngay các bức thư với
không trả lời, kết quả đại loại cũng gần như nhau. Rút cục cũng chẳng có gì xảy ra cả, một bên không giúp cho người ta được một vài việc tốt, còn một bên tránh
được cho người ta vài cái hại. Đa số các bức thư, có bỏ trong ngăn kéo ba tháng
rồi lấy ra coi lại, sẽ thấy nếu trả lời thì thật là mất thì giờ vô ích. Viết thư có thể sẽ
thành một thói xấu nó làm cho các văn sĩ, giáo sư thành những thầy kí rành nghề.
Cho nên tôi hiểu tại sao Thoreau khinh những người Mĩ ngày nào cũng ra sở bưu
điện.
mời thì sung sướng thay, họ không bắt buộc phải trả lời là nhận lời hay không. Họ
có thể sẽ viết lên tấm thiệp chữ “sẽ tới” hoặc “đa tạ” rồi gởi trả lại; nhưng thường
thường họ chỉ viết “nhận được rồi” mà chẳng cần cho biết quyết định ra sao: tới
hay không tới. Một người Mĩ hay Âu sống ở Thượng Hải có thể sẽ bảo trước cho
tôi biết rằng ngày 19 tháng 4 năm 193816[16], đúng ba giờ chiều, sẽ dự một hội
nghị ở Ba Lê, rồi ngày 21 tháng 5 sẽ tới Vienne bằng chuyến xe lửa bảy giờ sáng.
Người ta không thể đi du lịch mà tự làm chủ mình, muốn tới lúc nào thì tới, muốn
đi lúc nào thì đi ư?
Nhưng, người Mĩ không biết nhàn tản, nguyên do quan trọng nhất là tại họ thích
hoạt động, đặt hoạt động lên trên sự sinh tồn. Các ông Mĩ ham hoạt động vì họ
muốn thoả lòng tự tôn và muốn cho bọn trẻ tôn trọng họ; người Trung Hoa cho họ
là lố bịch. Già mà còn hăng hái hoạt động thì cũng không khác gì bắt một máy thu
thanh trên đỉnh một giáo đường cổ rồi ra rả phát ra thứ nhạc Jazz vậy. Làm ông lão,
chưa đủ sao? Có cần gì phải lúc nào cũng hoạt động không? Chúng ta thích những
giáo đường cổ, những đồ cổ, mà chúng ta quên cái cốt cách đẹp đẽ của tuổi già.
Hồi tráng niên mà không biết nhàn tản thì quả là một tội lớn đối với bản tính con
người.
*
* *
Chú thích:
17[1] Thereau: coi chú thích ở trang 8. Tác phẩm Walden cũng có nhan đề là La
vie des bois (Đời sống trong rừng)
32[16] Nên nhớ tác giả viết cuốn này vào năm 1937.