10 bệnh trong chương trình tiêm chủng mở
rộng
1. Bệnh sởi.
Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch, do virút sởi thuộc họ
Paramixovirut influenzae, giống Morbillivirut gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em.
Bệnh lây qua đường hô hấp. Bệnh được biểu hiện bởi sốt cao đột ngột, viêm long
đường hô hấp, khám miệng có thể thấy nốt Koplik sau đó phát ban, xen kẻ giữa
các ban là các khoảng da lành tuần tự bắt đầu từ sau tai lan ra đầu mặt cổ sau đó
lan xuống thân mình và tứ chi. Khi ban đã lan xuống chi thì bắt đầu bay theo tuần
tự như khi xuất hiện và để lại các vết thâm vằn da hổ. Trường hợp nặng có thể
phát ban kèm theo xuất huyết, biến chứng bội nhiễm vào các cơ quan hoặc xuất
hiện viêm não chất trắng sau sởi. Chẩn đoán xác định khi phân lập được virút sởi
trong máu hoặc xét nghiệm huyết thanh học 2 lần bằng phản ứng ức chế ngưng kết
hồng cầu thấy động lực kháng thể tăng gấp 4 lần hoặc xét nghiệm thấy xuất hiện
2. Bệnh bại liệt.
Bại liệt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virút bại liệt gây nên. Bệnh được
biểu hiện bởi sốt nhẹ, tiêu chảy và liệt mềm cấp tính, khi liệt thì hết sốt. Bệnh lây
theo đường tiêu hóa. Virút xâm nhập theo đường tiêu hóa sau đó lan vào hạch mạc
treo rồi đến hệ thần kinh. Liệt thường xuất hiện khi có các tổn thương bất chợt sau
tiêm chích và chỉ xuất hiện khoảng 1% ở những người bị nhiễm virút. Thường có
đau cơ trước khi liệt. Liệt do bệnh bại liệt là liệt mềm, không đối xứng. Thường bị
liệt chân nhiều hơn tay. Nếu liệt cơ hô hấp có thể dẫn tới tử vong. Khoảng 1% có
biểu hiện viêm màng não nước trong. Ðến 90% các trường hợp nhiễm virút bại liệt
ở thể ẩn, không có biểu hiện lâm sàng. Tháng 10/2000, Tổ chức Y tế thế giới khu
vực Tây Thái Bình Dương tuyên bố đã thanh toán được bệnh bại liệt. Ngày
15/12/2000, Việt Nam cũng đã công bố thanh toán được bệnh bại liệt. Tuy nhiên,
do nhiều nước trên thế giới vẫn chưa thanh toán được bệnh bại liệt nên việc dự
phòng bằng vaccin cho trẻ em vẫn cần được tiếp tục.
3. Bệnh uốn ván
trị ngay bằng huyết thanh kháng độc tố bạch hầu (SAD) và các kháng sinh như
penicillin hoặc kháng sinh nhóm Macrolides. Tỷ lệ tử vong tùy từng vụ dịch có thể
từ 5-10%.
5. Bệnh ho gà.
Ho gà là một bệnh truyền nhiễm gây dịch lây qua đường hô hấp do vi khuẩn
Bordetella pertussis gây ra. Bệnh lây qua giọt nước bọt ngay tại gia đình với tỷ lệ
70-100%. Trước đây dịch xảy ra có tính chu kỳ cứ 3-4 năm 1 lần. Ở những quần
thể chưa được miễn dịch, bệnh có thể bùng phát thành dịch lớn. Dịch chủ yếu gặp
ở trẻ em tuổi đi học và trẻ nhỏ trên 6 tháng. Bệnh thường được thể hiện bởi những
cơn ho rũ rượi và khạc đờm sau đó. Ho có thể kéo dài tới 3 tháng và thường phối
hợp với nôn. Ở trẻ nhỏ nhiều khi chỉ thấy tím tái ngạt thở và co giật. Vi khuẩn ho
gà có thể gây bệnh não do thiếu oxy dẫn đến tử vong. Tỷ lệ tử vong chung của
bệnh thường là 0,3%, nhưng ở trẻ nhỏ tỷ lệ tử vong có thể lên tới 0,5%. Hàng năm
có khoảng 250.000 trẻ em trên thế giới mắc bệnh ho gà. Từ ngày có vacxin tỷ lệ
mắc bệnh ho gà đã giảm nhiều.
6. Bệnh lao.
Bệnh lao là một bệnh phổ biến trên thế giới do vi khuẩn Mycobacterium
tuberculosis gây nên. Lao phổi là bệnh cảnh lâm sàng hay gặp nhất. Bên cạnh đó
có thể gặp lao các bộ phận khác. Hầu hết các trường hợp nhiễm lao không có triệu
chứng. Những trường hợp suy giảm miễn dịch bị nhiễm lao sẽ có nguy cơ diễn
biến nhanh thành lao toàn thể. Sau khi nhiễm vi khuẩn lao vài tuần sẽ xuất hiện
đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào thể hiện qua phản ứng Tuberculin dương
tính.
Lao là một bệnh thường gặp ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, mỗi năm có
khoảng hơn 10.000 trường hợp nhiễm lao mới. Bộ y tế đã triển khai chương trình
chống lao trên phạm vi toàn quốc với chương trình điều trị ngắn ngày (DOT) và đã
giảm đáng kể tỷ lệ mắc. Tuy nhiên trong vài năm gần đây đã xuất hiện lao kháng
thuốc với tỷ lệ đáng kể, đặc biệt với sự tấn công của đại dịch HIV/AIDS, bệnh lao
đang có xu hướng gia tăng nhanh trở lại.
7. Bệnh viêm gan B.
trong súc vật nui gần người.
Hai loại muỗi trên sinh sản ở đồng ruộng lúa nước, buổi tối bay về chuồng gia súc,
hút máu súc vật bị bệnh rồi truyền sang người. Muỗi Culex tritaeniorhynchus có
thể bay xa trên 1km, bay cao 13-15m nên có thể lây truyền virut cho các loài chim.
Muỗi nhiễm virut có khả năng truyền bệnh suốt đời và truyền sang thế hệ sau qua
trứng.
Người và Ngựa được coi là vật chủ cuối cùng của virut vì virut có trong máu
người với hiệu giá thấp không đủ để có thể tiếp tục lây truyền sang muỗi.
9. Bệnh tả.
Bệnh tả là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính lây qua đường tiêu hóa do phẩy khuẩn
tả gây nên. Bệnh có thời kỳ ủ bệnh từ vài giờ tới 5 ngày. Thường từ 2-3 ngày.
Bệnh lây khi còn mầm bệnh trong phân. Bệnh lây mạnh nhất trong thời kỳ tiêu
chảy. Người lành mang vi khuẩn có thể gieo rắc mầm bệnh trong vài tháng. Sử
dụng kháng sinh sẽ rút ngắn thời kỳ lây truyền. Hiếm có những trường hợp mang
mầm bệnh kéo dài nhiều năm và đào thải vi khuẩn từng đợt qua phân.
Nguy cơ mắc bệnh rất thay đổi. Người thiểu năng acid dịch vị có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn. Trẻ bú sữa mẹ ít khi mắc bệnh. Bệnh tả nặng do type sinh học Eltor
hoặc O139 thường gặp ở người có nhóm máu O. Sau khi mắc bệnh miễn dịch thu
được sẽ bảo vệ chống tái nhiễm trong thời gian dài. Sau khi nhiễm V.cholerae O1
sẽ tránh được type này và type Eltor nhưng ngược lại sau khi nhiễm Eltor thì chỉ
bảo vệ khỏi bị type Eltor mà thôi. Nhiễm chủng O1 cũng không bảo vệ khỏi nhiễm
chủng O139 và ngược lại.
Tác nhân gây bệnh : Phẩy khuẩn tả (Vibrio cholera) nhóm huyết thanh O1 có 2
type : Cổ điển và Eltor. Những vụ dịch từ năm 1960 trở lại đây chủ yếu do V.Eltor
gây ra. Vi khuẩn có 3 type huyết thanh là Inaba, Ogawa và Hikojima. Tuy nhiên,
cuối năm 1992, người ta lại phát hiện thêm một type huyết thanh mới là Vibrio
Cholera O139. Vi khuẩn có sức đề kháng cao. Ở ngoài môi trường nó có thể sống
được nhiều ngày.
Sự lưu hành : Bệnh tả tản phát quanh năm ở đồng bằng miền Nam và duyên hải
miền Trung. Thỉnh thoảng bùng phát thành những ổ dịch nhỏ ở đồng bằng sông
(Para C). Tỷ lệ mắc bệnh do thương hàn và phó thương hàn là 10:1. Vi khuẩn có
sức đề kháng cao. Nó có thể sống hàng tháng ở ngoài môi trường. Ở nhiệt độ 55
độ C nó bị chết sau 30 phút. Cồn và các thuốc sát khuẩn diệt vi khuẩn trong vòng
3-5 phút. Vi khuẩn đã kháng với nhiều kháng sinh cổ điển như Chlorocid, Bactrim,
Ampicillin.Nhưng vẫn còn nhạy với Quinolone và Cephalosporine thế hệ 3.
Bệnh phổ biến Ở những nơi kém vệ sinh. Hàng năm trên thế giới có khoảng 17
triệu trường hợp mắc với khoảng 600.000 người chết do thương hàn. Việt Nam có
khoảng 10.000 đến 20.000 trường hợp mắc hàng năm. Mỗi năm có khoảng hàng
chục trường hợp tử vong. Bệnh tản phát ở nhiều tỉnh hay gặp các vụ dịch nhỏ ở
đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung, một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ và
cả ở miền núi phía Bắc.
Người bệnh và nhất là người lành mang trùng là ổ chứa chính của bệnh thương
hàn. Vi khuẩn thương hàn thường sống trong túi mật và đuợc đào thải qua phân
trong thời gian dài. Ổ chứa phó thương hàn đôi khi gặp ở vật nuôi trong nhà.
Người bị mắc bệnh do dùng thức ăn hoặc uống nước bị nhiễm trực khuẩn thương
hàn và phó thương hàn. Những phương thức lây truyền phổ biến là:
Uống nước chưa đung sôi bị nhiễm mầm bệnh (như uống nước lã, nước đá).
Ăn phải thức ăn bị nhiễm vi khuẩn nhất là ăn trai, sò, ốc, hến. bị nhiễm vi
khuẩn từ nguồn nước bị nhiễm bẩn mà chưa được nấu chín.
Rau quả : Ăn sống rau quả được bón bằng phân tươi.
Sữa và các chế phẩm từ sữa bị nhiễm vi khuẩn thương hàn khi chế biến.
Ruồi gây nhiễm bẩn thực phẩm và trong môi trường thực phẩm đó vi khuẩn
nhân lên đủ liều gây bệnh.
Vi khuẩn có trong phân người bệnh từ tuần thứ nhất đến hết thời kỳ lại sức
(khoảng 1-3 tuần). Khoảng 10% bệnh nhân không được điều trị sẽ thải vi khuẩn
qua phân trong vòng 3 tháng và khoảng 2-5% số bệnh nhân trở thành người mang
trùng mãn tính.
Bệnh cảnh lâm sàng thường có sốt tăng dần, rối loạn tiêu hóa, bụng chướng có dấu
hiệu ùng ục hố chậu phải, phát ban dạng sởi ở vùng quanh thắt lưng. Ðộc tố
thương hàn tác động vào các mảng bạch huyết ở họng và ruột gây ra loét họng,