Lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non - Pdf 13

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 3
MỞ ĐẦU 4
1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
2. Tính cấp thiết của đề tài 8
3. Mục tiêu của đề tài 9
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1. Một số vấn đề chung về môi trường 10
1.1.1. Khái niệm môi trường 10
1.1.2. Chức năng của môi trường 10
1.1.3. Phân loại môi trường 10
1.1.4. Ô nhiễm môi trường 11
Các loại ô nhiễm môi trường 12
1.1.5. Bảo vệ môi trường 13
1.2. Giáo dục môi trường 14
1.2.1. Khái niệm 14
1.2.2. Phương pháp tiếp cận cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường 16
1.2.3. Đối tượng giáo dục môi trường 17
1.3. Chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non [1] 17
1.4. Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo [16] 19
1.5. Giáo dục môi trường cho trẻ mầm non 19
1.5.1. Nội dung [3] 19
1.5.2. Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ [1] 20
1.5.3. Hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi [8] 21
1.5.4. Các phương tiện và các thiết bị cơ bản 21
- Môi trường hoạt động của trẻ: lớp học, các phòng chức năng, khuôn viên
trường, góc thiên nhiên 21

khai vấn đề này cũng được ban giám hiệu các trường tiến hành rất cụ thể trong kế
hoạch chăm sóc và giáo dục trẻ hàng tháng, quý, năm và trong sinh hoạt chuyên môn
của trường 44
- Về nội dung giáo dục môi trường cho trẻ, các trường đã chú trọng khá đồng đều đến
các nội dung thuộc 5 lĩnh vực khác nhau trong đó nội dung con người và môi trường
sống, con người và thực vật, động vật, con người và thiên nhiên được chú trọng nhiều
hơn 44
- Hình thức giáo dục được sử dụng nổi bật nhất là lồng ghép trong hoạt động cho trẻ
Làm quen với môi trường xung quanh, lao động ở góc thiên nhiên và vui chơi sinh
hoạt hàng ngày 44
- Phương pháp giáo dục môi trường cho trẻ được các giáo viên lựa chọn khá phổ biến
là các phương pháp trực quan minh họa, sử dụng câu đố, bài thơ, kể chuyện
Phương pháp ít được sử dụng nhất là nêu tình huống có vấn đề 44
- Cơ sở vật chất, môi trường hoạt động: Về cơ sở vật chất, xây dựng môi trường xanh
sạch đẹp phần lớn các trường đạt ở mức khá. 44
- Phương tiện giáo dục môi trường cho trẻ khá phong phú. Đồ dùng đồ chơi chủ yếu
do các cô tự làm. Còn bài hát, câu đố, trò chơi khá phong phú 44
- Khó khăn: Đa số các trường đều có khó khăn về quỹ đất khi xây dựng môi trường
xanh - sạch - đẹp. Còn lại đa số các ý kiến đều cho rằng các khó khăn khác đều ở mức
trung bình và dưới trung bình 44
- Về hiệu quả của quá trình giáo dục môi trường qua đánh giá của giáo viên và phụ
huynh cho thấy kiến thức, hành vi, kĩ năng và thái độ của các cháu đều ở mức khá tốt.
44
- Biện pháp: Chúng tôi cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục môi trường cho trẻ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.2. Thông tin chung về trường mầm non 23
Bảng 2.2. Số lượng cán bộ, giáo viên điều tra 24
Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lí về việc xây dựng

Chương trình đào tạo của trường học do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada (Mỹ)
năm 1970. Năm 1972, liên hợp quốc đã tổ chức hội nghị cấp cao đầu tiên với sự có
mặt của nhiều nguyên thủ quốc gia tại Stốckhom (Thụy Điển) để thảo luận về “môi
trường và con người”. Hội nghị đã nhất trí nhận định việc bảo vệ thiên nhiên và môi
trường là một trong hai nhiệm vụ hàng đầu của toàn nhân loại (bên cạnh nhiệm vụ bảo
vệ hoà bình, chống chiến tranh). Ngày khai mạc hội nghị mồng 5 tháng 6 đã đi vào
lịch sử, ngày này hàng năm đã được coi là “Ngày môi trường thế giới” và được các
nước kỷ niệm tổ chức như ngày hội lớn, nhắc nhở mọi người bằng hành động thiết
thực đóng góp tích cực vào việc ngăn chặn sự suy thoái và huỷ diệt môi trường.
Tháng 10-1975, UNESCO và UNDP đã xây dựng chương trình quốc tế về giáo
dục môi trường và tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về giáo dục môi trường ở
Belgrade (Nam Tư). Tại đây, hiến chương Belgrade đã nêu rõ mục tiêu về giáo dục
môi trường nhằm nâng cao một cách toàn diện nhận thức, tri thức, hành vi, kỹ năng,
khả năng đánh giá các vấn đề nảy sinh về MT và ý thức trách nhiệm của mọi người
tham gia một cách tự giác và tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT).
Hội nghị liên chính phủ về giáo dục môi trường ở Tbilixi tháng 10-1977 đã ra tuyên
ngôn về giáo dục môi trường trong đó có 41 khuyến nghị về chiến lược GDMT đối với
các quốc gia. Tháng 10-1990 UNESCO, UNEP và một số tổ chức khác của Liên hợp
quốc đã tổ chức hội nghị “Chương trình quốc tế về giáo dục và đào tạo môi trường”
(EFE). Hội nghị đã nêu rõ sự cam kết của các tổ chức quốc tế phối hợp hành động,
phục vụ mục tiêu phổ biến kiến thức môi trường cho mọi người để họ có thể đóng góp
các hoạt động cá nhân và tập thể có lợi cho môi trường. Đặc biệt, hội nghị thượng đỉnh
về Trái Đất tại Rio de Janeiro (Brazin) năm 1992 đã ra bản hiến chương 21 xác định
chiến lược hành động cho loài người về môi trường và phát triển ở thế kỷ XXI, trong
đó có hành động xem xét lại tình hình giáo dục môi trường và đưa nội dung giáo dục
4
môi trường vào chương trình giáo dục cho tất cả các cấp học. Đây cũng là một trong
những mục tiêu chủ yếu của chương trình giáo dục môi trường Quốc tế (IEEP) của
UNESCO và UNEP. Trên phạm vi quốc tế, kể từ sau hội nghị quốc tế về BVMT ở
Stockhom 1972, khoa học môi trường trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ. Nhiều viện

- Nhật Bản rất chú trọng tới giáo dục ý thức, các kĩ năng phòng chống, ứng phó
với các thiên tai như đất lở, lụt lội đặc biệt là đối tượng trẻ em.[13]
Ở Việt Nam, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng rất quan tâm đến các vấn
đề môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường và đã được cụ thể hóa bằng các văn bản
mang tính pháp lí như:[3]
Chỉ thị số 36 CTTW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác
bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” đã đưa ra
những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường như: “Thường xuyên
giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ
môi trường” và “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của
tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ_BGD&ĐT ngày
2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục
môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam và một số văn bản hướng dẫn kèm
theo. Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức triển khai các hoạt
động giáo dục môi trường ở các trường phổ thông và trường sư phạm trong hệ thống
giáo dục quốc dân.
Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê
duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”.
Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8, đã
ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày 1/7/2006.
Những văn bản trên là cơ sở pháp lí để triển khai công tác giáo dục bảo vệ môi
trường trong nhà trường nói chung, ở trường mầm non nói riêng. Đã có nhiều dự án,
chương trình trong nước cũng như hợp tác quốc tế được triển khai liên quan đến giáo
dục môi trường như:
“Giáo dục môi trường trong trường phổ thông” (1986) của tác giả Nguyễn Dược
đă khẳng định tầm quan trọng của giáo dục môi trường ở Việt Nam. Thông qua việc
thay sách giáo khoa Sinh học và Địa lý từ lớp 6 đến lớp 12, các tác giả sách giáo khoa
6
đã quan tâm lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục môi trường. Từ năm học 1986 đến

trường và cơ sở lí luận của giáo dục môi trường cho trẻ mầm non.
7
Tóm lại vấn đề môi trường và giáo dục môi trường đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều
quốc gia trong đó có Việt Nam. Bởi vì vấn đề môi trường hiện nay không phải chỉ riêng của
một quốc gia nào, mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên mức độ triển khai thực hiện và
hiệu quả đạt được là không đồng đều ở các nước khác nhau. Ở Việt Nam, Việc đưa giáo dục
bảo vệ môi trường vào các cấp học đã được triển khai sâu rộng nhưng việc kiểm tra đánh giá còn ít
được chú ý; để tạo ra được một thế hệ trẻ có dân trí cao về môi trường cần phải có những tác
động mạnh mẽ hơn nữa của toàn xã hội cũng như hệ thống giáo dục, mà bắt đầu là bậc học
mầm non. Trong đó cần chú ý đến vấn đề kiểm tra đánh giá thường xuyên để nâng cao hơn
nữa hiệu quả của quá trình giáo dục.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm môi trường và suy giảm chất lượng cuộc sống đã trở thành mối quan
ngại không chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới. Hiện nay các vấn đề như biến đổi
khí hậu, suy giảm tầng ozon, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài
nguyên rừng, sự gia tăng của các thiên tai, ô nhiễm đất, nước, không khí đã, đang và
sẽ tác động sâu sắc đến đời sống của tất cả mọi người.
Việt Nam là một nước đang trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng
gặp phải những mâu thuẫn trong việc phát triển các lợi ích kinh tế với bảo vệ môi
trường trong qúa trình phát triển. Hiện tại, những vấn đề về môi trường ở nước ta
cũng không nằm ngoài những vấn đề môi trường chung của thế giới. Chính vì vậy
bảo vệ môi trường là việc làm hết sức cấp bách để duy trì và phát triển hệ thống hỗ
trợ sự sống, đảm bảo sự phát triển bền vững; trong đó giáo dục môi trường là chìa
khóa quan trọng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là giới
trẻ đối với môi trường.
Để nâng cao sự hiểu biết cũng như có kĩ năng bảo vệ và ý thức xây dựng môi
trường sống trong sạch, lành mạnh, bền vững cho học sinh, Chính phủ đã có đề án
“Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” trong đó
có bậc học mầm non.
Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi

- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm thống kê SPSS để xử lí số liệu.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề chung về môi trường
1.1.1. Khái niệm môi trường
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
các yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh
hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên”.
Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng thể những điều kiện bên
ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể (Lê Văn Khoa, 1995).
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm
toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu
hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các
tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình.
Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, môi trường là tất cả những gì bao quanh và có
ảnh hưởng đến một vật thể hay sự kiện nào đó.
Môi trường theo nghĩa gắn với con người và sinh vật “bao gồm các nhân tố tự
nhiên và vật chất nhân tạo, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (Luật BVMT Việt Nam 2005)
1.1.2. Chức năng của môi trường
Với sinh vật nói chung và con người nói riêng, môi trường có những chức năng sau: [11]
- Là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
- Là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất con người.
- Là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người sáng tạo ra trong cuộc sống
và hoạt động sản xuất.
- Lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
1.1.3. Phân loại môi trường
Có nhiều cách phân loại môi trường theo các tiêu chí khác nhau, sau đây là một
vài cách phổ biến: [5]

đời sống thuỷ sinh, khả năng cấp nước cho cây trồng, cho con người đều được gọi là
ô nhiễm môi trường.
Như vậy, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần của môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến với con người và
sinh vật.
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần
môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Các loại ô nhiễm môi trường
- Ô nhiễm môi trường nước
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước
gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự
thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô
nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người.
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước có thể do thiên tai như mưa, bão,
lũ hay do nước thải từ khu dân cư, nhà máy, hoạt động giao thông- vận tải, nông
nghiệp
- Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành
phần không khí, làm cho nó không sạch, bụi, có mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn,…
12
Thuật ngữ “tác nhân gây ô nhiễm không khí” thường được sử dụng để chỉ các
phần tử bị thải vào không khí do kết quả hoạt động của con người và gây tác hại đến
sức khỏe, gây tổn thất cho thực bì, các HST và các vật liệu khác nhau.
Các tác nhân gây ô nhiễm không khí có thể là thể rắn (bụi, bồ hóng, muội
than), ở dưới hình thức giọt (sương mù sunphat) hay ở thể khí (SO
2
, NO
2
, CO,…).
- Ô nhiễm đất

về Giáo dục môi trường như sau:
“Giáo dục môi trường là quá trình nhận ra các giá trị và làm rõ khái niệm để xây
dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương
quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường vật lý xung quanh. Giáo dục môi
trường cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc
ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” (IUCN, 1970).
Định nghĩa này cho thấy Giáo dục môi trường đã được xem xét ở góc độ mang tính
hợp lý và gắn kết với phát triển. Vào thời điểm định nghĩa này được phát biểu, người ta
thường chỉ xem xét môi trường và các vấn đề về môi ttrường ở khía cạnh lý sinh.
Thuật ngữ “Giáo dục môi trường” cũng đã được sử dụng trong Hội nghị toàn cầu
lần thứ nhất về Môi trường và con người tại Stokholm năm 1972, nhưng chỉ đến Hội
nghị ở Belgrade, Giáo dục môi trường mới được định nghĩa trên quy mô toàn cầu. Kể
từ đó, cộng đồng quốc tế thừa nhận định nghĩa về Giáo dục môi trường là “quá trình
nhằm phát triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môi
trường cũng như các vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và sẵn sàng làm
việc độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại và phòng
chống các vấn đề có thể nảy sinh trong tương lai”.
Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường ở Tbilisi (UNESCO - UNEP 1978) cho
rằng: “Giáo dục môi trường không phải là một môn riêng biệt đưa thêm vào chương
trình giáo dục, cũng không phải là một chủ đề nghiên cứu mà là một đường hướng nội
nhập vào trong chương trình đó. Giáo dục môi trường là kết quả của một sự định
hướng và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau, những kinh nghiệm khác nhau (khoa
học tự nhiên, khoa học xã hội, văn hoá nghệ thuật,…) và nó cung cấp một nhận thức
toàn diện về môi trường”.
Dự án VIE/95/041, 1997 định nghĩa: “Giáo dục môi trường là một quá trình
thường xuyên, qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến
thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các
14
vấn đề về môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ hiện
nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”.

Nhận thức: Giáo dục môi trường thúc đẩy các cá nhân, cộng đồng tạo dựng nhận
thức và sự nhạy cảm đối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường
Thái độ: Giáo dục môi trường khuyến khích các cá nhân, cộng đồng tôn trọng
và quan tâm tới tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích họ tham gia tích cực
vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường.
Kỹ năng: Giáo dục môi trường cung cấp các kỹ năng cho việc xác định, dự
đoán, ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường.
Sự tham gia: Giáo dục môi trường cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ
hội tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết
định môi trường đúng đắn.
Mục đích cuối cùng của giáo dục môi trường là tiến tới xã hội hoá các vấn đề về
môi trường, nghĩa là đào tạo những công dân có nhận thức, có trách nhiệm về môi
trường và biết sống vì môi trường.
Như vậy giáo dục môi trường cho trẻ mầm non có thể được hiểu: Là quá trình
nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, quan tâm đến các vấn đề
môi trường phù hợp với lứa tuổi được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kĩ năng, hành vi
của trẻ đối với môi trường xung quanh.
1.2.2. Phương pháp tiếp cận cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường
- Giáo dục về môi trường: Trang bị các kiến thức về môi trường, các thành phần
của nó (đất, nước, không khí, sự đa dạng của động thực vật ) và mối quan hệ giữa
chúng với nhau, sự tác động của con người đối với môi trường. Ở trường mầm non,
các nội dung nay được tích hợp, lồng ghép trong các hoạt động khác nhau.[12]
- Giáo dục trong môi trường: Xem môi trường như một phương tiện để giảng
dạy, học tập, nghiên cứu.
- Giáo dục vì môi trường: Trên cơ sở các kiến thức được trang bị đi tới hình
thành ý thức trách nhiệm, các giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn, thái độ ứng xử tích
cực, xây dựng động cơ và kĩ năng tham gia cải thiện môi trường.
Chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non đổi mới, giáo dục môi trường
được thực hiện theo quan điểm lồng ghép, tích hợp ở các mức độ khác nhau:[3]
- Lồng ghép hoàn toàn: Mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường trùng với mục

giáo dục lại được phân chia theo các chủ đề, đó là nội dung hoặc một phần kiến thức
mà trẻ có thể tìm hiểu, khám phá theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức hướng
dẫn của giáo viên, diễn ra trong một khoảng thời gian thích hợp. Một chủ đề có thể
17
bao gồm một số chủ đề nhánh. Trong mỗi chủ đề nhánh sẽ có các đề tài cụ thể theo các
lĩnh vực khác nhau để giáo viên lựa chọn. Phạm vi kiến thức và hoạt động của một chủ
đề rất linh hoạt, giúp cho giáo viên có thể lựa chọn nội dung cốt lõi và từ đó mở rộng
thêm tùy vào nhận thức và khả năng của trẻ.
Trong nội dung chăm sóc và nuôi dưỡng gồm có các hoạt động: Tổ chức bữa ăn,
tổ chức ngủ, vệ sinh, chăm sóc sức khỏe và an toàn.
Hình 1.2. Chủ đề giáo dục trẻ ở trường mầm non
18
Khi xác định nội dung giáo dục môi trường cho trẻ mầm non cần phải dựa trên
nội dung các chủ điểm để khai thác được những nội dung có thể giáo dục môi trường
phù hợp.
1.4. Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo [16]
Ở trẻ 3-4 tuổi kiểu tư duy trực quan - hành động bắt đầu chuyển sang kiểu tư duy
trực quan - hình tượng. Trẻ đã biết phân biệt được các sự vật hiện tượng bằng các dấu
hiệu rõ nét bên ngoài. Trẻ cũng có thể hiểu được các mối quan hệ và sự phụ thuộc đơn
giản của sự vật và hiện tượng dưới hình thức trực quan hình tượng.
Trẻ 4-5 tuổi đã có khả năng suy luận, so sánh các dấu hiệu giống khác của hai đối
tượng. Trẻ dần có ý thức hơn với hành động và lời nói của mình, biết thực hiện một số
quy định về nề nếp trong các hoạt động và sinh hoạt. Trẻ đã nhận ra vẻ đẹp của thế giới
xung quanh. Tình cảm của trẻ ở độ tuổi này cũng rất mãnh liệt, trẻ thương biểu lộ tình
cảm, gần gũi với những nhân vật trong truyện, các con vật, cỏ cây, đồ vật, đồ chơi.
Trẻ 5-6 tuổi có thể khám phá các mối liên hệ phức tạp bên trong sự vật, hiện
tượng và giữa nó với môi trường. Trẻ có khả năng nhận biết đối tượng một cách toàn diện
nhờ sự phối hợp giữa các giác quan. Trẻ mẫu giáo lớn những yếu tố của tư duy logic đã
xuất hiện, khả năng tổng hợp và khái quát những dấu hiệu bên ngoài của sự vật hiện
tượng của trẻ tương đối tốt.

Lĩnh vực 4: Con người và tài nguyên
Giáo dục trẻ về lợi ích các loại tài nguyên như đất, nước, rừng từ đó biết sử
dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên.
Lĩnh vực 5: Con người và văn hóa xã hội
- Trẻ biết được tên gọi, cách sử dụng, sắp xếp gọn gàng, vệ sinh đồ dùng trong
gia đình, trong trường mầm non.
- Trẻ biết phong tục, lối sống của một số dân tộc, ảnh hưởng của văn hóa đối với
môi trường thiên nhiên và cuộc sống con người.
- Trẻ biết gọi tên một số địa danh nổi tiếng, danh lam thắng cảnh, biết giữ gìn và
bảo vệ danh lam thắng cảnh.
- Trẻ biết tên gọi các phương tiện giao thông, hiểu được các phương tiện giao
thông gây ô nhiễm như thế nào, con người cần làm gì để giảm ô nhiễm môi trường.
1.5.2. Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ [1]
- Nhóm phương pháp thực hành- trải nghiệm như: dùng trò chơi, thao tác với
đồ vật, nêu tình huống có vấn đề, luyện tập.
20
- Nhóm phương pháp trực quan- minh họa: cho trẻ tiếp xúc với vật thật, tranh
ảnh, sơ đồ, mô hình, hành động mẫu
- Nhóm phương pháp dùng lời: Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ ( trò
chuyện, kể chuyện, giải thích, đọc thơ
- Nhóm phương pháp nêu gương đánh giá, khích lệ trẻ.
1.5.3. Hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi [8]
Việc chuyển tải các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đến trẻ có thể thực hiện
dưới các hình thức sau:
- Thông qua các hoạt động chung có mục đích học tập có sự hướng dẫn trực tiếp
của giáo viên trong các tiết học như: Làm quen với môi trường xung quanh (MTXQ),
Làm quen với tác phẩm văn học, Tạo hình, Âm nhạc
- Thông qua hoạt động vui chơi ở các góc, vui chơi ngoài trời
- Thông qua hoạt động tham quan, dã ngoại.
- Thông qua hoạt động lao động ở góc thiên nhiên

Địa điểm
Đường Đống Đa,
trung tâm thành
phố Huế.
Đường Đinh Tiên
Hoàng, phía bờ
nam thành phố,
cơ sở 2: 30
Nguyễn Biểu
Đường Dương
Văn An, phường
Xuân Phú
Khu quy hoạch
phía Nam Vỹ Dạ,
14 Lâm Hoằng
Thành phố Huế.
Quy mô
- 15 phòng học có
công trình vệ sinh
khép kín;
- 04 phòng giáo dục
năng khiếu - 01 thư
viện đồ chơi; 01
phòng vi tính;1 bể
bơi; 1 bếp ăn; 06
phòng làm việc;1 hội
trường.
- 14 phòng học
có công trình vệ
sinh khép kín;

mầm non và các
đại học khác.
- 21 cô có trình
độ cao đẳng sư
phạm Mầm non.
- 4 cô có trình
độ trung cấp
mầm non
-09 cô có trình
độ đại học sư
phạm mầm non
và các đại học
khác.
- 07 cô có trình
độ cao đẳng sư
phạm Mầm non.
-06 cô có trình
độ trung cấp
mầm non
- 13 cô có trình
độ đại học sư
phạm mầm non
và các đại học
khác.
- 02 cô có trình
độ cao đẳng sư
phạm Mầm non.
- 02cô có trình độ
trung cấp mầm
non

Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu các giáo viên và cán bộ quản lí với số
lượng như sau:
Bảng 2.2. Số lượng cán bộ, giáo viên điều tra
Trường Giáo viên Cán bộ quản lí
Mầm non I 38 03
Mầm non II 35 03
Hương Lưu 13 02
Xuân Phú 14 02
Tổng 100 10
2.2.1. Thực trạng xây dựng môi trường “xanh - sạch - đẹp”
Với quan điểm xem môi trường như là một phương tiện, một “phòng thí nghiệm
thu nhỏ” để giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ nên chúng tôi đã tiến hành điều tra về
thực trạng này ở các trường mầm non.
2.1.1.1. Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lí
Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lí về việc xây dựng
môi trường xanh - sạch - đẹp
TT Mức độ quan trọng Số lượng %
01 Không quan trọng 0 0
02 Bình thường 0 0
03 Quan trọng 22 20
04 Rất quan trọng 88 80
Tổng 110 100
Qua kết quả phiếu điều tra thì 100% giáo viên và cán bộ quản lí đều cho rằng xây
dựng môi trường xanh - sạch - đẹp là rất quan trọng và quan trọng. Ý kiến chung cũng
cho rằng xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp sẽ tạo ra môi trường trong lành, làm
đẹp cho khung cảnh sư phạm, tạo không gian vui chơi cho trẻ. Đó cũng là nơi trẻ học
tập bảo vệ môi trường và tạo cho trẻ hứng thú muốn đi học, muốn đến trường mầm
non. Như vậy có thể nói nhận thức chung của đội ngũ cán bộ giáo viên ở các trường
24
mầm non về vấn đề này rất tốt. Điều này sẽ giúp cho việc thực hiện các nội dung xây

nóng và ấm áp về mùa lạnh, bàn ghế phù hợp lứa tuổi. Đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo
chủ đề giáo dục, có tranh ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp với độ tuổi.
Tổng diện tích phòng sinh hoạt chung của các trường là 2491m
2
, trung bình mỗi
cháu là 1.286m
2
, không có sự khác nhau rõ rệt giữa các trường. Như vậy diện tích
phòng học/cháu còn thấp hơn so với tiêu chuẩn của trường mầm non đạt chuẩn quốc
gia (1.5 - 1.8 m
2
/cháu), ngoại trừ trường Hương Lưu (1.656m
2
/cháu).
- Vườn trường có cây xanh bóng mát, hoa và cây cảnh chăm sóc thường xuyên.
Trong đó trường mầm non I và Mầm non II có rất nhiều cây cảnh, riêng trường Mầm
non II có xây dựng một vườn cổ tích trong đó bố trí hệ thống cây cảnh, hoa gắn liền
25

Trích đoạn Quy hoạch xây dựng trường Nhận thức của giáo viên và các nhà quản lí về giáo dục môi trường Công tác triển khai, quản lí Các phương tiện, tài liệu giáo dục môi trường cho trẻ Biện pháp: Chúng tôi cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status