A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuốn những điều cần biết về trẻ thơ có viết: “Trẻ em là nguồn hạnh
phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, trẻ em hôm nay là thế giới ngày
mai. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của đất nước, của toàn xã
hội và mỗi gia đình.”
Thật vậy, ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, nền kinh tế không ngừng phát triển vượt trội, với một sự thay đổi căn
bản về cơ cấu xã hội để tiếp cận với một nền văn minh phát triển cao. Thực hiện
nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo, ngành học mầm non đã đưa nội dung chăm sóc,
nuôi dưỡng vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Đây là việc làm vô cùng cần
thiết, nó không chỉ tạo được sự liên thông chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục từ độ tuổi
mầm non cho đến lứa tuổi học đường.
Bởi vậy, dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ ở lứa
tuổi mầm non, là nhu cầu sống hàng ngày của con người, trẻ em cần dinh dưỡng để
phát triển thể lực và trí tuệ, còn người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm
việc, hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát triển của cơ thể.
Chính vì vậy chúng ta có thể khẳng định rằng: Dinh dưỡng vô cùng quan trọng đối
với đời sống của con người. Đặc biêt là đối với trẻ ở lưa tuổi mầm non.
Đây là việc làm vô cùng cần thiết đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non cả về thể lực
và trí tuệ. Nếu được chăm sóc, được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau,
bệnh tật, khỏe mạnh. Giáo dục dinh dưỡng ở lứa tuổi mầm non góp phần phát triển
toàn diện cho trẻ đó là:
Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ nhận biết, phân biệt được 4 nhóm thực phẩm
thông thường về nguồn gốc, theo nhóm, đăc điểm giống và khác nhau.Trẻ nhận biết
được các chất dinh dưỡng cơ bản, tác dụng của các chất đối với sự phát triển của cơ
thể, biết thành phần những món ăn quen thuộc, và các cách chế biến đơn giản.
1
Giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ hình thành thói quen tốt, chia sẻ, giúp đỡ bạn bè,
về thể chất nói chung, học tập và lao động nói riêng. Trong thời đại của nền văn minh
trí tuệ giáo dục mầm non đang có những chuyển biến mới về chất lượng, đổi mới
chung của ngành giáo dục. Dưới ánh sáng của Nghị quyết về công tác cải cách giáo
dục điều lệ trường mầm non cũng đãc nêu lên nhiệm vụ hàng đầu trong 4 nhiệm vụ
của trường mầm non, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhằm phát triển cân đối
hài hòa, nhằm chống đỡ bệnh tật. Vì thế nếu chúng ta chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh
không tốt về cá nhân trẻ, môi trường trong và ngoài lớp đều gây cho trẻ ốm đau, bệnh
tật, dẫn đến sự phát triển về thể chất bị kìm hãm, các quá trình tâm sinh lý đang trên
đà hình thành và phát triển cũng không thể nào phát triến trên một cơ thể gầy còm,
ốm yếu.
Từ những lý luận và thực tiễn trên, tôi đã xác định được có tới 90% trẻ em trí
tuệ kém phát triển là do sức khỏe, thể lực phát triển không tốt, vì vậy chúng ta cần
tránh một số quan điểm chưa đúng đối với ngành học mầm non đó là: Quan điểm
đánh giá về chất lượng, chỉ đánh giá về kết quả học tập của các môn như : Khám phá
khoa học, âm nhạc, tạo hình, toán .. mà chưa thực sự quan tâm đến công tác chăm
sóc, nuôi dưỡng và lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cho trẻ ở trường mầm non. Điều kiện để trẻ sẽ được chăm sóc nuôi dưỡng chu
đáo, nuôi dạy con theo phương pháp khoa học, trẻ được phát triển cân đối giữa 2 mặt
thể lực và trí tuệ. Từ đó hình thành cho trẻ tình cảm yêu thương, nhường nhịn, giúp
đỡ lẫn nhau, biết kính trọng người trên, yêu quý mọi người xung quanh mình.
Chính vì vậy lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cho trẻ trong các hoạt động trong ngày là việc làm vô cùng quan trọng vì sức
khỏe vốn là quý, qua đây tao điều kiện cho trẻ phát triển tốt cả về thể lực và trí tuệ
sau này.
II.THỰC TRẠNG.
Trường mầm non Xã Nga Điền là một trường đạt chuẩn quốc gia, năm học
2012-2013 trường được công nhận là trường tiên tiến cấp huyện. Hơn nữa được sự
quan tâm của phòng giáo dục huyện Nga Sơn, Các cấp ủy Đảng chính quyền địa
phương tạo điều kiện quan tâm giúp đỡ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
4
* Kết quả kháo sát ban đầu cho thấy ( tháng 9 năm 2012)
Nội
Vệ sinh cá nhân
dung
Trẻ nhận biết
Trẻ kể tên các
được 4 nhóm
món ăn mà trẻ
thực phẩm
biết
Kết quả cân đo
Số lượng
T
K
8
9
7
5
8
1
6
7
8
9
6
27
3
0
Tỷ lệ %
Qua bảng khảo sát cho thấy tổng số cháu có kiến thức về giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Xuất phát từ thực trạng trên để nâng cao
chất lượng giáo dục dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho trẻ đạt kết quả cao hơn
nữa, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp và biện pháp tổ chức thự hiện như
sau:
III.CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIÊN
Thông qua qúa trình tổ chức thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm tôi đã có giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện mang lại
kết quả khả thi như sau:
1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm.
Mặc dù chuyên đề đã được tổng kết, nhưng sức khỏe của con người là vô cùng
quan trọng, đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi mầm non thì vấn đề giáo dục dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn là vấn đề cấp bách nhất, nó luôn tác động và ảnh
hưởng trực tiếp đến trẻ. Chính vì vậy chuyên đề này luôn được nâng cao cả về kiến
thức và thực hành cho học sinh, phụ huynh và coi đây là chuyên đề trọng tâm của
năm học.
Để thực hiện tốt chuyên đề này ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng kế hoạch
một cách cụ thể, sát thực với tình hình thực tế của lớp mình phân công phụ trách
giảng dạy. Sau một thời gian khi xây dựng xong tôi đã đưa cho Ban giám hiệu và
5
hiệu phó chuyên môn bổ sung góp ý để thống nhất khẳng định mục tiêu, giải pháp
thực hiện.
Ngay sau khi được ban giám hiệu và hiệu phó chuyên môn nhất trí và góp ý tôi
đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, biện pháp, thời gian thực hiện và cụ thể
từng nội dung thưc hiện lồng ghép giáo dục, làm đồ dùng đồ chơi, bổ sung trang thiết
bị cụ thể từng tháng một rõ ràng
cho trẻ.
b. Hoạt động học có chủ định:
Tổ chức giờ hoạt động có chủ định là hoạt động chủ đạo để giúp tôi lồng ghép,
tích hợp giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ một cách tốt nhất.
Bởi vậy, căn cứ vào nội dung cụ thể của từng hoạt động mà tôi tiến hành lồng ghép
như sau:
* Với hoạt động khám phá khoa học( môi trường xung quanh):
Đây cũng chính là hoạt động giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về các
loại thực phẩm, các chất dinh dưỡng – sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thông qua các hoạt động cho trẻ khám phá về các loại rau, củ quả, các con vật
nuôi trong gia đình. Tôi dạy trẻ biết gọi tên các loại thực phẩm, tên gọi các món ăn
chế biến từ các loại thực phẩm ấy và giúp trẻ biết được các nguồn gốc các loại thực
phẩm có trong các loại thực phẩm đó.
Ví dụ : Bước đầu cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình cụ thể là
con vịt, hoặc (con gà mái), vịt, gà đẻ ra trứng, trứng là thực phẩm có nhiểu chất đạm,
ăn trứng giúp cơ thể lớn nhanh. Qua đó động viên khuyến khích trẻ chưa thích ăn
trứng để trẻ tự giác ăn, đồng thời giáo dục trẻ thích ăn các loại trứng gà, vịt, ngan …
ở mức độ vừa phải, nếu ăn trứng vịt, gà..hằng ngày và ăn quá nhiều, sẽ bị mắc bệnh
không tốt cho sức khỏe. Trứng có thể chế biến thành nhiều món ăn: Trứng rán, trứng
luộc, trứng nấu canh cà chua, trứng kho thịt, nấu đông..
* Với hoạt động tạo hình:
Thông qua hoạt đông tạo hình tôi cũng khóe léo lồng ghép giáo dục dinh
dưỡng: Giúp trẻ biết thêm về các loại thực phẩm, tên thực phẩm, đặc điểm thực
7
phẩm, các chất có bên trong thực phẩm đó. Trẻ được trức tiếp tham gia hoạt động
như:Vẽ, xé dán, cắt, nặn…Từ đó giúp trẻ nhớ lâu các thực phẩm đó.
Ví dụ: với hoạt động nặn “Cây cải” .Tôi cho trẻ gọi tên các loại rau: Rau ăn củ,
quả, lá, màu sắc, qua đó giáo dục trẻ ăn rau, củ, quả hàng ngày cung cấp nhiều vi ta
+ Bài hát nói về hạt gì?
+ Ai đã làm ra hạt gạo?
+ Gạo cung cấp chất gì?
Từ đó giáo dục trẻ biết gạo giầu chất bột đường cung cấp năng lượng giúp cơ
thể khỏe mạnh, gạo còn được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như: Bánh
cuốn, bánh rán, bánh trưng, bánh nếp,bánh đa, bún, cháo, cơm rang….
* Thông qua hoạt động âm nhạc:
Âm nhạc là nhu cầu cuộc sống, là món ăn tinh thần không thể thiếu được với
đời sống con người. Âm nhạc là ngôn ngữ chung của nhân loại. Nếu cuộc sống mà
thiếu âm nhạc thì chẳng khác gì thiếu ánh sáng mặt trời. Đặc biệt là trẻ ở lứa tuổi
mầm non. Chính vì vậy thông qua hoạt động âm nhạc là những hoạt động lồng ghép
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Giúp trẻ biết tên các loại quả, rau,
… có tác dụng, lợi ích.
Ví dụ : Dạy hát bài: “Quả” nhạc và lời: Xanh Xanh. Tôi lồng ghép giáo dục trẻ
để trẻ biết được có rất nhiều loại quả khác nhau, trẻ kể tên các loại quả có trong bài
hát và giáo dục trẻ biết trong các loại quả đó chứa nhiều vi ta mina và muối khoáng,
khi ăn phải rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt, rửa tay sạch sẽ, khi ăn song bỏ vỏ vào thùng rác.
- Hoặc bài hát: “Bầu và bí”. Tôi cũng giáo dục trẻ biết tên gọi, đặc điểm của
các loại rau ăn quả, quả bầu và bí là loại quả cung cấp nhiều chất vi ta min a và muối
khoáng. Giáo dục trẻ ăn các loại rau hàng ngày giúp cơ thể khỏe mạnh.Qua đó trẻ biết
bỏ rác vào đúng nơi quy định, biết nấu chín khi ăn.
* Thông qua hoạt động làm quen với toán:
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với số 5 chủ đề thế giới động vật, tôi sử dụng các
nhóm đồ vật gồm 5 con thỏ và 5 củ cà rốt để trẻ nhận biết và luyện tập số 5. Sau đó
tôi lồng ghép giáo dục dinh dưỡng bằng cách: Trò chuyện với trẻ , thỏ rất thích ăn cà
9
rốt vì cà rốt cung cấp chất vi ta min a, giúp da dẻ hồng hào, khỏe mạnh, mắt sáng….
Các con thích ăn cà rốt không? Ăn cà rốt cung cấp chất gì?...
sinh chung.
đ. Với hoạt động góc
Việc tổ chức cho trẻ hoạt động góc với tất cả các góc mở giúp trẻ được trải
nghiệm hoạt động của người lớn, trẻ được làm thí nghiệm, từ đó giúp trẻ hiểu biết
thêm về dinh dưỡng.
* Qua hoạt động góc: Trẻ gọi tên các loại thực phẩm, biết đặc điểm của các
loại thực phẩm, trẻ tự học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn. Biết
cách tạo ra những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vi văn
minh.
Ví dụ : Ở góc phân vai trẻ mua hàng nuuốn mua loại thực phẩm gì thì hỏi
người bán hàng “Bác ơi bác có dứa không?” người bán hàng nhớ đặc điểm của quả
dứa mà lấy bán cho người mua hàng. Từ đó giúp trẻ biết tên và nhớ các loại rau củ
11
quả.
( Hình ảnh trẻ đang chơi bán hàng các loại rau củ quả)
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ đóng vai con hỏi trẻ đóng vai mẹ: “Mẹ ơi! mẹ nấu
món gì đấy?” Mẹ trả lời: “Mẹ nấu nón tôm chiên”, từ đó giúp trẻ biết tôm được chế
biến thành các món ăn khác nhau. Cũng ở góc phân vai trẻ được trực tiếp chơi với
những dụng cụ nấu ăn bằng đồ chơi và biết cách thao tác các dụng cụ khi chế biến
thực phẩm.
Ví dụ: Khi thái thịt, làm cá, chặt xương,..phải cần dao và thớt.
Đồng thời trẻ cũng biết thao tác chế biến món ăn.
12
Ví dụ: Muốn nấu món thịt kho thì phải rửa sạch thịt, thái thịt, cho gia vị vào
kho.., ở góc xây dựng giúp trẻ biết cách tạo ra thực phẩm như tự trồng rau cải, tự
minh, học giỏi. Vì vậy các con ăn nhiều trứng, thịt nhé!.
Ngoài việc giới thiệu các món ăn cho trẻ tôi còn lồng ghép và cho trẻ thực hành
Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ như: Cho trẻ thực hành một số thao tác rửa mặt, rửa
15
tay bằng xà phòng trước và sau khi trẻ ăn, và sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn…
( Hình ảnh Bé thực hành rửa tay, rửa mặt )
e. Hoạt động chiều:
Trong hoạt động chiều, khi trò chuyện với trẻ ở giờ trả trẻ tôi hỏi trẻ hôm nay
các con được ăn những món ăn gì? Cung cấp chất gì? Để trẻ nhớ được tên món ăn và
chất dinh dưỡng mà món ăn đó cung cấp. Đồng thời tôi cho trẻ quan sát tranh các loại
rau, củ, quả, các con vật, chơi các trò chơi phân loại các chất dinh dưỡng theo 4 nhóm
bằng lô tô, trò chơi bằng nhựa.
16
* Kết quả :Tôi đã lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào các môn học như làm
quen với tác phẩm văn học, môi trừng xung quanh, tạo hình, hoạt động góc, hoạt
động ngoài trời, làm quen với toán, thể hiện rõ nhất vào hoạt động vui chơi của trẻ đó
chính là: “ Bé tập làm nội trợ”. Qua hoạt động này nội dung giáo dục dinh dưỡng
được thể hiện một cách nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao, tối đã dạy trẻ biết cách sử
dụng thành thạo các đồ dùng như: Thớt, dao, muỗm, đũa.. ngoài ra còn biết chế biến
một số món ăn đơn giản thông thường.
- 100% các cháu nắm được kiến thức về 4 nhóm thực phẩm. Biết giữ gìn hành
vi trong ăn uống và vệ sinh thân thể.
3. Phát động phụ huynh, học sinh tìm kiếm, sưu tầm các bài thơ, bài hát,
câu truyện, tranh ảnh có nội dung về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tôi dùng các loại giấy màu phù hợp để bồi thành hình các loại quả cho trẻ học
và trẻ chơi như:quả xoài, cam, na, đu đủ, khế, dứa..
17
Ngoài ra tôi còn dùng các loại phế liệu có sẵn ở địa phương để cắt tạo ra những
con vật, những loại quả… phục vụ cho các hoạt động học tập, vui chơi và trưng bày
tại môi trường xung quanh lố đẹp, hấp dẫn, phù hợp với chủ đề như: Vườn cau, bộ
ấm chén, lợn con …
- Bên cạnh đó tôi dùng các loại mo cau phơi khô để làm các loại cá. Cắt hình
con cá vàng đang bơi, rong tạo thành bức tranh về các loại cá…
- Tôi còn dùng các vỏ con trai, hến làm các loại cua, bướm, các vỏ(hộp thuốc )
và xốp màu vàng, màu xanh tạo nên quả dứa.
* Kế quả: Bản thân tôi và trẻ đã làm được khá nhiều đồ dùng đồ chơi như:
- 20 con cua làm bằng vỏ trai và xốp màu.
- 25 cây bắp cải.
- 3 bức tranh bằng mo cau khô về các loài cá.
- 10 quả dứa
- 11 củ xu hào.
- 15 củ cà rốt.
- 16 con gà cuộn bằng len, xốp màu và vỏ hến.
5. Tự bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền cho bản thân
Công tác phối hợp vận động phụ huynh là dặc biệt quan trọng, vì thế bản thân
phải có kỹ năng tuyên truyền, trình bày chuyển tải nội dung đến phụ huynh một cách
tự tin lưu loát, thuyết phục làm cho phụ huynh hiểu vấn đề để có thái độ hưởng ứng
tốt tôi đã soạn thảo nội dung tuyên truyền sao cho ngắn gọn, thiết thực với nhu cầu,
lợi ích của phụ huynh.
Muốn làm được điều đó tôi phải vững vàng lập trường quan điểm, hiểu tường
tận chính xác vấn đề mình cần truyền đạt để có thể giải đáp thắc mắc khi phụ huynh
có yêu cầu.Những nội dung nào chưa làm cho phụ huynh thỏa mãn, thì hẹn ại đợi giải
Với trẻ có những tiến bộ rõ rệt, trẻ có kỹ năng phân loại thực phẩm theo 4
nhóm, trẻ tự vệ sinh cá nhân, kể tên các món ăn mà trẻ biết
Đối với phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo điều kiện cùng cộng tác với các cô giáo để
việc giáo dục dinh dưỡng của trẻ đạt kêt quả cao.
* Sau khi áp dụng các biện phápvào tổ chức
sau:
Nội
Vệ sinh cá nhân
Trẻ nhận biết
dung
đươc 4 nhóm
thực phẩm
Số lượng T
Tổng số 11
30
Tỷ lệ % 37
K
TB
CĐ
10
8
1
10
8
0
29
1
0
6
40
34
36
0
97
3
0
TB
Tăng cường công tác phối kềt hợp giữa y tề dự phòng. Phòng chống suy dinh
dưỡng.
Thường xuyên mở các lớp bối dưỡng kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho tất cả các đối tượng tham gia trự tiêp công tác chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ.
Tạo điều kiện vế cơ sở vật chất trang thiềt bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi trong
và ngoài lớp, trang thiết bị chăm sóc nuôi dưỡng, đồ dùng tiếp cận với công nghệ
thông tin để đảm bảo chăm sóc trẻ được tốt hơn.
Cần tổ chức hội nghị phụ huynh toàn trường tuyên truyền với các bậc phụ
huynh tăng thêm khẩu phần ăn cho các cháu để đảm bảo năng lượng hơn nữa cho các
cháu.
Phòng Giáo Dục : Thường xuyên tổ chức buổi tập huấn về dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm vào các dịp hè cho toàn bộ giáo viên trong huyện được tham
dự.
Trên đây là những kinh nghiệm qua quá trình thực hiện chuyên đề giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, rất mong được sự góp ý của Ban giám hiệu
nhà trường, cũng như các bạn đồng nghiệp để tôi tổ chức thực hiện tốt hơn “ Chuyên
đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm”
Tôi xin trân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Mai Thị Cam
Nga Sơn, ngày 12 tháng 4 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.