MỘT SỐ BIỆN PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 4 ĐẾN 5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON NGA GIÁP - Pdf 40

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP NỘI DUNG
GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGA GIÁP

Người thực hiện: Trịnh Thị Nụ
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Nga Giáp
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA, NĂM 2015
1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang là vấn đề
nóng bỏng, là mối quan tâm của toàn xã hội. Trong những năm gần đây, đã có
nhiều vụ xảy ra ngộ độc thực phẩm ở các địa phương các bếp ăn tập thể trong cả
nước làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của con người.
Trường mầm non là nơi tập trung đông đủ trẻ. Trẻ còn non nớt chưa chủ
động, chưa ý thức đầy đủ về giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm,
vì vậy ngành học mầm non đã đưa nội dung “Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm” vào chương trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở lứa
tuổi này.
Thực hiện nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo ngành học mầm non đã
đưa nội dung chuyên đề Giáo dục dinh dưỡng, Vệ sinh an tòan thực phẩm vào

mẽ và hoàn thiện dần. Vì thế cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc và
mất cân đối. Do vậy trẻ chỉ có thể phát triển tốt nếu như được chăm sóc một
cách hợp lý. Bên cạnh đó sức khỏe của trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Chế độ dinh dưỡng, phòng bệnh, di truyền, môi trường.. trong đó dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển của trẻ em.
Trong thời đại của nền văn minh trí tuệ Giáo dục Mầm non đang có những
chuyển biến mới về chất lượng, đổi mới chung của ngành giáo dục. Dưới ánh
sáng của Nghị quyết về công tác cải cách giáo dục Điều lệ trường mầm non
cũng đã nêu lên nhiệm vụ hàng đầu trong 4 nhiệm vụ của trường mầm non, vì
vậy việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhằm phát triển cân đối hài hòa, nhằm
chống đỡ bệnh tật. Vì thế nếu chúng ta chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh không tốt
về cá nhân trẻ, môi trường trong và ngoài lớp đều gây cho trẻ ốm đau, bệnh tật,
dẫn đến sự phát triển về thể chất bị kìm hãm, các quá trình tâm sinh lý đang trên
đà hình thành và phát triển cũng không thể nào phát triển trên một cơ thể gầy
còm, ốm yếu.
Mặt khác, năm học 2014 – 2015 là năm thứ hai thực hiện chuyên đề phát
triển vận động nên việc lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày là việc làm vô cùng quan
trọng vì sức khỏe vốn là quý, qua đây tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt cả về
thể lực và trí tuệ sau này. Vì vậy nếu trẻ được chăm sóc, ăn uống đầy đủ, ngủ đủ
giấc, được tham gia các hoạt động học tập, vui chơi phù hợp thì trẻ sẽ phát triển
toàn diện nhân cách trẻ.
II.THỰC TRẠNG CỦA VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Những thuận lợi
* Đối với nhà trường: Là trường chuẩn Quốc gia, tổ chức nuôi bán trú 100%
tại trường nên có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình chăm sóc nuôi
dưỡng, giáo dục trẻ và thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm đạt hiệu quả.
Được sự quan tâm của Đảng Ủy, UBND Xã Nga Giáp, Trường Mầm Non

chế.
* Đối với trẻ: Trẻ lớp tôi đa số là con em nông thôn nên sự hiểu biết về dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Những món ăn trẻ được tiếp
xúc còn ít, nhiều trẻ còn chưa biết mình thích ăn món gì nhất.
Sự hiểu biết về ăn uống đúng cách để có lợi cho sức khoẻ và phòng tránh
bệnh tật còn nhiều hạn chế.
* Đối với phụ huynh: Một số bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến sức
khoẻ của trẻ để trẻ ăn, ngủ, vệ sinh tuỳ thích, mất vệ sinh. Từ đó dẫn đến số trẻ
suy dinh dưỡng còn nhiều và mắc một số bệnh tật như: Sâu răng, Còi xương,
Ngoài da, Đau mắt, Tiêu chảy, Hô hấp...
3. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Xuất phát từ thực tế đó tôi nhận đã tiến hành tổng hợp kết quả cân đo,
khám sức khỏe trẻ lần 1 và khảo sát về nhận biết dinh dưỡng giúp con người
khỏe mạnh, chống đỡ được các loại bệnh tật cũng như hiểu biết về vệ sinh của
Trẻ trong lớp. Kết quả cho thấy: Tổng số trẻ 32 trong đó 16 trẻ gái và 16 trẻ trai.
Trong đó:
* Kết quả cân đo, chấm biểu đồ:

4


Kết quả cân đo
T.
Kênh
TL %
Kênh SDD
TL %
K cao hơn
TL %
Số

5
15.2
10
31
0
32
* Kết quả khảo sát trên trẻ kết quả như sau:
TT

1
2

3
4
5

6

ND khảo sát

Trẻ biết gọi tên các loại thực
phẩm đơn giản
Phân loại nhận biết phân biệt
được 4 nhóm thực phẩm thông
thường
Trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm
khác nhau
Biết hoạt động chế biến các món
ăn đơn giản
Trẻ biết sử dụng dụng cụ ăn


TL%

TL%

Còi
xương

0

TL%

3

9

Kết quả trên trẻ
Đạt

0

0

Tốt
Số TL
trẻ %

Khá
Số
TL

22

32

6

19

8

25

9

28

9

28

32

7

22

10

31


25

9

28

9

28

6

19

32

7

22

8

25

10

31

7


tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác nuôi dưỡng chăm sóc
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ đảm bảo về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ý kiến đóng góp của tôi đã được Ban giám hiệu và toàn trường thống
nhất cao và đưa vào nội dung hội nghị phụ huynh toàn trường đầu năm học.
Được Phụ huynh nhất trí 100% và tham gia hưởng ứng rất cao.
* Kết quả: Phụ huynh đã đồng tình hưởng ứng chăm lo cho sức khỏe
cũng như sự an toàn cho con em khi ở trường. Đã đóng góp mua 3 nồi cơm điện,
lắp toàn bộ hệ thống bếp ga công nghiệp, đóng tủ kính đựng bát thìa chống bụi
cho mỗi lớp 1 ngăn, xoong, nồi, ấm nhôm, xô chậu, bát , thìa, cốc inox, khăn
mặt…. Mua các loại đồ dùng tranh ảnh lô tô về 4 nhóm thực phẩm, đồ chơi hoa
quả, con vật nuôi trong gia đình, dưới nước, trong rừng, rau củ,….xây dựng tạo
góc chơi cho trẻ được trải nghiệm với các đồ chơi gia đình bán hàng bằng nhựa.
2. Xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
phong phú phù hợp với chủ đề:
* Xây dựng môi trường trong lớp:
Môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với trẻ, nó thúc đẩy và có
tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển đến tất cả các mặt của trẻ. Với
đặc điểm của trẻ mầm non là học mà chơi, chơi mà học chính vì vậy môi trường
trong lớp là nơi để trẻ trải nghiệm, khám phá thế giới xung quanh thông qua các
góc chơi của môi trường giáo dục.
Ngay từ đầu năm học tôi đã vận động phụ huynh cùng tham gia làm đồ
dùng đồ chơi trang trí lớp, nhằm giúp trẻ tích cực khám phá tìm tòi phục vụ
trong quá trình học tập của trẻ thông qua 6 góc chơi trong lớp.

6


Trong lớp tôi đã trang trí làm nổi bật góc “Bé tập làm nội trợ” đây là góc
hoạt động xuyên suốt cả năm và hoạt động mọi lúc mọi cho trẻ. Với nhiều nội
dung phong phú gắn liền với từng chủ đề thực hiện. Ở góc này, tôi đã cùng phụ

Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Thế giới thực vật ” và chủ đề “Thế giới động
vật” tôi tuyên truyền với các bậc phụ huynh cho trẻ được làm quen với các loại
rau củ quả tại gia đình. Hay còn phô tô sưu tầm các bài thơ, bài hát, câu chuyện
có nội dung về dinh dưỡng và sức khỏe để các bậc phụ huynh cho trẻ học tại nhà
như: Câu chuyện Hai anh em, Cây khế, Sự tích quả dưa hấu, Sự tích Bánh
chưng, bánh giày, Thơ bắp cải, đồng giao Bác bầu, bác bí...; Bài thơ Nàng tiên

7


ốc, Tìm ổ, Rong và cá...; Bài hát tôm, cá, cua thi tài, Năm ngón tay ngoan, Tập
đếm, Tập rửa mặt, Mời bạn ăn...Cứ như vậy sẽ giúp trẻ khắc sâu kiến thức
nhanh nhất.
Kết quả: Qua việc tuyên truyền đến các bậc phụ huynh giúp phụ huynh
hiểu rõ về vai trò quan trọng của giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cho trẻ, đồng thời phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình quan
tâm đến vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ.
- Môi trường bên ngoài giáo dục trẻ: Ở đây nếu tháng nào thực hiện chuyên đề
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm thì tôi chuyển lô tô, tranh ảnh
sách báo những hình ảnh về nội dung chuyên đề này. Bên cạnh đó tôi đã lên kế
hoạch 1 tháng/1 lần tổ chức các hoạt động học có lồng ghép nội dung giáo dục
dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm dưới nhiều hình thức câu đố, trò chơi,
thơ truyện, …giúp trẻ hứng thú tham gia học tập tốt. Mời phụ huynh đến tham
gia, từ đó phụ huynh nắm được kiến thức cũng như kỹ năng cùng phối hợp với
Cô giáo giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn phẩm cho trẻ đạt kết quả tốt.
Trong năm học với khu vực vườn rau của Bé: Được nhà trường đã phân
công mỗi nhóm lớp/ một luống. Tôi đã cùng với các Bác Phụ huynh của lớp
trồng mùa nào rau đấy, gồm các loại rau: Muống, Đay, Tầm tơi, Cải bắp, cải
thìa….. để trẻ cùng cô hàng ngày tưới, chăm sóc. Đặc biệt là trẻ biết được đây là
nguồn rau sạch, an toàn, biết được phải lao động vất vả mới có rau ăn, được tìm

giúp trẻ có thêm kiến thức về các loại thực phẩm mà địa phương không có.
Ví dụ: ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi cho trẻ làm quen với đồ chơi mới
do bản thân tôi tự làm về các loại cá nước lợ, nước mặn mà ở địa phương tôi
không có như cá chim, cá thu, cá hồi... Sau đó tôi giới thiệu về tên gọi của từng
loại cá và cho trẻ biết các loại cá này sống ở biển và vùng gần biển nên ở địa
phương không có các loại cá này là thực phẩm chứa nhiều chất đạm...
Ngoài ra tôi còn cho trẻ kể tên các món ăn mà trẻ biết và để trẻ tự kể mình
thích ăn món gì nhất, qua đó tôi cũng tranh thủ giới thiệu thêm các món ăn khác
để góp phần làm tăng vốn hiểu biết phong phú về các món ăn cho trẻ.
3.2. Lồng ghép nội dung GDDD và VSATTP thông qua các HĐ có chủ định
Tổ chức các giờ hoạt động có chủ định là hoạt động chủ đạo để giúp tôi
lồng ghép, tích hợp giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
một cách tốt nhất. Bởi vậy, căn cứ vào nội dung cụ thể của từng hoạt động mà
tôi tiến hành lồng ghép phù hợp như sau:

9


* Với hoạt động khám phá khoa học, khám phá xã hội :
Đây là hoạt động chính giúp trẻ tiếp thu những kiến thức cơ bản về các loại
thực phẩm, các chất dinh dưỡng - sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thông qua các hoạt động cho trẻ khám phá về các loại rau, củ, quả các loại,
các con vật nuôi trong gia đình. Tôi dạy trẻ biết gọi tên các loại thực phẩm, tên
gọi các món ăn chế biến từ các loại thực phẩm ấy và giúp trẻ biết được nguồn
gốc các loại thực phẩm các chất có trong các thực phẩm ấy.
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình cụ thể là
con gà mái trẻ biết được gà mái đẻ ra trứng, trứng là thực phẩm có nhiều chất
đạm ăn trứng giúp cơ thể trẻ nhanh lớn. Qua đó động viên những trẻ chưa thích
ăn trứng để trẻ tự giác ăn, đồng thời giáo dục những trẻ thích ăn trứng gà ăn ở
mức độ vừa phải nếu ăn trứng gà hàng ngày sẽ bị mắc bệnh không tốt cho sức

+ Bài hát nói về gì?
+ Các con có nhận xét gì về hạt Gạo?
Từ đó hướng lái để trẻ biết gạo giàu chất bột đường cung cấp năng lượng
giúp cơ thể khỏe mạnh, gạo còn được chế biến ra nhiều món ăn khác nhau. Giáo
dục trẻ biết nông dân làm một nắng hai sương vất vả mới làm nên hạt gạo nên
phải biết ơn Bác Nông dân và quí trọng hạt Gạo. Rồi sau đó tôi cho trẻ quan sát
một số loại gạo như: Gạo nếp, gạo tẻ …..rồi sau đó dẫn trẻ vào bài.
Ví dụ: Khi cho trẻ học bài thơ” Bắp cải xanh”. Đến phần củng cố tôi cho
trẻ đóng các vai về rau, củ, quả để tự giới thiệu về mình như:
Tôi là “Bắp cải ” tôi mang trong mình rất nhiều vitamin và muối khoáng,
các bạn có thể chế biến tôi thành nhiều loại thức ăn khác nhau như : Xào, luộc,
nấu lẩu cũng rất ngon và tôi luôn hết mình phục vụ các bạn.
Hay “Tôi là cà rốt ” da dẻ hồng hào dáng hình nhỏ nhắn nhưng tôi lại cung
cấp rất nhiều vitamin A giúp cho mắt các bạn sáng hơn, sau đó tôi mới dẫn dắt
đến với bài mới, làm như vậy các hoạt động học sẻ trở nên sinh động hơn và hấp
dẫn hơn nhiều.
* Với hoạt động tạo hình:
Thông qua hoạt động tạo hình tôi cũng khéo léo lồng ghép giáo dục dinh
dưỡng: Giúp trẻ biết thêm về các thực phẩm, tên thực phẩm, đặc điểm thực
phẩm các chất có trong thực phẩm đó. Trẻ được trực tiếp tham gia hoạt động
như vẽ, nặn, cắt, xé dán từ đó giúp trẻ nhớ lâu các loại thực phẩm đó.
Ví dụ: Với hoạt động nặn “Quả Cam”. Tôi cho trẻ gọi tên các loại quả, màu
sắc của các loại quả, giáo dục trẻ ăn quả cung cấp cho ta nhiều vitamin, giáo
dục vệ sinh cho trẻ trước khi ăn quả phải rửa sạch gọt vỏ bỏ hạt, sau khi ăn
phải bỏ vỏ hạt vào thùng rác khi rửa quả phải biết tiết kiệm nước để tiết kiệm
năng lượng.
* Thông qua hoạt động làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng
Ví dụ: Làm quen với Toán: Cho trẻ nhận biết số 5 chủ đề thế giới động vật
tôi sử dụng các nhóm đồ vật gồm 5 con thỏ và 5 củ cà rốt để trẻ nhận biết và lập
số 5 sau đó tôi lồng ghép giáo dục dinh dưỡng bằng cách: trò chuyện với trẻ thỏ


12


Hình ảnh: Bé cùng cô chăm sóc vườn rau sạch
Ví dụ 3: Cho trẻ quan sát vườn ngô của bác nông dân. Tôi cùng trẻ quan sát và
nhẹ nhàng hỏi trẻ những câu hỏi gợi mở như:
- Các con có biết đây là vườn cây gì? ( Cây ngô )
- Lợi ích của bắp ngô là gì? Cung cấp chất bột đường cho cơ thể con
người.
Qua việc cho trẻ quan sát ngoài trời tôi đã giúp trẻ biết được công việc
của các bác nông dân là vất vả, một nắng hai sương mới có thể làm ra những sản
phẩm lương thực, thực phẩm cho chúng ta ăn hàng ngày, từ đó giúp trẻ yêu quý
Bác nông dân và những sản phẩm làm ra của các Bác.
Việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, tạo điều kiện để trẻ tiếp thu và
phản ánh những hiểu biết của mình về dinh dưỡng là hoạt động hết sức quan
trọng. Trẻ được tiếp xúc với các đồ vật đồ chơi, qua trò chơi tạo điều kiện để trẻ
tự học hỏi nhau, thể hiện sự hiểu biết của mình về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm. Qua các trò chơi tôi tạo điều kiện để trẻ vui chơi với đồ chơi, khi trẻ
gọi tên các thực phẩm, trẻ học cách chế biến món ăn và trẻ được thực hiện các
thao tác chế biến món ăn, cách chế biến thực phẩm và vệ sinh thực phẩm, vệ
sinh cá nhân và vệ sinh chung.
3.4. Với hoạt động góc:
* Tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm thực tế giúp trẻ có cơ hội thực hành
rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung

13


Để trẻ thực hành trên sản phẩm thực tế được tốt trước hết phải hướng dẫn trẻ

nói lên món canh rau ngót cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng đặc biệt là vitami
A và muối khoáng…..
Đối với những trẻ không thích món ăn các món ăn khác nhau mà chỉ nhất
nhất một món ăn, qua chơi sẽ kích thích trẻ muốn ăn và ăn hết xuất và muốn ăn.
Như vậy vấn đề khẩu phần ăn của trẻ sẽ được cải thiện, tình trạng trẻ suy dinh
dưỡng sẽ giảm hơn.

14


Hình ảnh: Bé tập làm nội trợ ở góc đóng vai
* Việc tổ chức cho trẻ hoạt động góc với tất cả các góc mở giúp trẻ được trải
nghiệm hoạt động của người lớn, trẻ được làm thí nghiệm, từ đó giúp trẻ hiểu
biết thêm về dinh dưỡng.
- Qua hoạt động góc: Trẻ gọi tên các thực phẩm, biết đặc điểm của các loại
thực phẩm, trẻ tự học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn. Biết
cách tạo ra những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vi
văn minh.
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ mua hàng, muốn mua loại thực phẩm gì thì hỏi
người bán hàng “Bác ơi, bác có bán trứng không? ” Người bán hàng nhớ đặc
điểm của trứng mà lấy bán cho người mua hàng. Từ đó giúp trẻ biết tên và nhớ
loại thực phẩm.
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ đóng vai con hỏi trẻ đóng vai mẹ “Mẹ ơi, mẹ nấu
món gì đấy? ” Mẹ trả lời “Mẹ nấu món trứng rán ”. Từ đó giúp trẻ biết trứng
được chế biến thành nhiều các món ăn khác nhau.
Cũng ở góc phân vai trẻ được trực tiếp chơi với những dụng cụ nấu ăn bằng
đồ chơi và biết cách thao tác các dụng cụ khi chế biến thực phẩm.
Ví dụ: Muốn nấu món cá kho thì phải làm thịt cá, đánh vẩy, bỏ ruột, cho
gia vị vào kho...
Ở góc xây dựng giúp trẻ biết cách tạo ra thực phẩm tự trồng rau quả, nuôi

Trong hoạt động chiều, khi trò chuyện với trẻ ở giờ trả trẻ tôi hỏi trẻ hôm
nay các con được ăn những món gì? Cung cấp chất gì? Để trẻ nhớ được tên món
ăn và chất dinh dưỡng mà món ăn đó cung cấp. Đồng thời tôi cho trẻ quan sát
tranh các loại rau củ quả, các con vật, chơi các trò chơi phân loại các chất dinh
dưỡng theo 4 nhóm bằng lô tô, đồ chơi bằng nhựa...

16


Khi chiều mát tôi cùng trẻ ra nhổ cỏ, tưới cho luống rau của lớp đã được
Trường phân công. Vừa làm cô vừa cùng trẻ đàm thoại để trẻ hiểu được rau tự
trồng sẽ cung cấp thực phẩm sạch, an toàn phục vụ cho bữa ăn của các con
trong trường. Và hỏi trẻ vì sao phải ăn rau? (Vì rau cung cấp chất Vitamin và
muối khoáng, giúp da dẻ hồng hào thân hình khỏe mạnh, chóng lớn....)
Kết quả: Trẻ lớp tôi thể lực được nâng lên, nhận biết, phân biệt thành thạo 4
nhóm chất dinh dưỡng và biết được lợi ích của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể
con người. Biết sử dụng thành thạo, và vệ sinh các dụng cụ ăn uống trước và sau
khi chế biến. Thực hành được các thao tác, quy trình chế biến một số món ăn đơn
giản. có thói quen vệ sinh tốt trong ăn uống cũng như vệ sinh cá nhân…
4. Làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm.
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
cho trẻ vào các hoạt động trên tôi luôn tìm tòi sáng tạo ra những đồ dùng đồ
chơi đẹp, hấp dẫn, có tính thẩm mỹ cao có đầy đủ số lượng và có nhiều chủng
loại để trẻ được học, được trực tiếp hoạt động với đồ dùng đồ chơi giúp trẻ nhớ
lâu và hiểu thêm về những thực phẩm có trong cuộc sống của chúng ta.
Ví dụ 1: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi dùng lá xoài khô, bẹ ngô, đĩa
CD, làm những con cá sống ngoài biển, như cá thu, cá chim, làm những con vật,
ở địa phương không có để cho trẻ được làm quen. Từ đó tôi củng cố kiến thức
cho trẻ bằng sự luyến lái gợi ý như: Thịt Lợn, Thịt Gà, Cá, Tôm thì cung cấp

tr theo gia on. Ngoi quy nh trờn, vo nhng thi im chuyn giao mựa
nờn tr hay mc cỏc bnh nh thy u, quai b, au mt .tụi tham mu vi
nhõn viờn y t khỏm thờm phỏt hin kp thi v cú bin phỏp can thip nhm
trỏnh nhng triu chng xu, nh hng n sc khe v cú ch dinh dng
phự hp cho tr.

Hỡnh nh: Bộ c nhõn viờn y t khỏm sc khe
Luụn chỳ trng khõu la chn thc phm, khõu s ch, ch bin thc n,
khõu bo qun v chia thc n mt cỏch khoa hc nht, m bo VSATTP, trỏnh
lóng phớ c bit l m bo giỏ tr dinh dng. Hng ngy cụng khai ti chớnh
cho cỏc bc ph huynh bit v giỏm sỏt. Phi hp vi ph huynh mua thc phm
do chớnh ph huynh trng v chn nuụi, ch bin ra ph huynh yờn tõm v
cht lng.
Việc chăm sóc nuôi dỡng trẻ phải đảm bảo đúng 10 nguyên tắc vàng trong
ăn uống.
Kt qu: Trong nm hc 2014- 2015, lp tụi cú 32 chỏu c cõn, o,
khỏm sc khe theo nh k. Ngoi ra cũn c tiờm cỏc mi nh: Si, rubenla
vo thỏng 12 trong chin dch tiờm chng cỏc trng hc. Tr b mc cỏc bnh

18


như: Ỉa chảy, Đau mắt không còn. Trẻ mắc các bệnh như: Sâu răng, Thấp còi
giảm hơn nhiều so với đầu năm học.
IV. KIỂM NGHIỆM.
* Về phía trẻ:
Bằng những biện pháp và hình thức trên, kết quả giáo dục dinh dưỡng và an
toàn thực phẩm cho trẻ lớp tôi có những chuyển biến đáng kể, sức khỏe của trẻ
tăng lên rõ rệt.
Tôi tiến hành cân, đo chấm biểu đồ lần 3:


TL %

Kênh
TC

TL %

2

6.3

0

0

29

90.6

3

9.4

93.7

* Kết quả khám sức khỏe:
T.
TL Ỉa
TL Đau

Ngoài
da

TL%

0

3

9.
3

0

0

0

0

Còi
xương

TL%

1

Bệnh
khác


cụ ăn, uống đơn giản,
có thói quen vệ sinh
Có thói quen vệ sinh
văn minh trong ăn
uống, có thói quen vệ
sinh cá nhân

Tổng
số

Tốt

%

Khá

Kết quả trên trẻ
%
TB
%

32

20

62,5

10

31


32

25

Yếu

%

6,5

0

0

2

6,5

0

0

19

1

3

0


3

9,5

4

12,5

0

0

19


Qua bảng khảo sát cuối năm học cho thấy sau khi áp dụng các biện pháp
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, kết quả chung trên
trẻ tăng lên rõ rệt: Khá – tốt: tăng rất cao; Trung bình: giảm và chiếm tỷ lệ ít;
Đặc biệt không còn trẻ chưa đạt. Điều này cho thấy kết quả rất khả quan trong
công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ sau khi áp
dụng đề tài nghiên cứu ở các tỷ lệ đạt khá cao. Cho thấy việc cô giáo và phụ
huynh đóng vai trò rất quan trọng giúp trẻ lĩnh hội được nhiều hiểu biết của
mình về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Về phía giáo viên:
- Tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm để tổ chức các hoạt động lồng
ghép giáo dục trẻ kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
đạt kết quả cao.
- Tạo được hứng thú cho trẻ khi tham gia các hoạt động giáo dục trẻ kiến
thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm .

- Luôn tìm tòi tranh có liên quan về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm đẹp, hấp dẫn. Giới thiệu góc học tập và trao đổi với phụ huynh.
- Tôi luôn kết hợp giữa gia đình và nhà trường để giúp trẻ tiếp cận và lĩnh
hội những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm một
cách tốt hơn.
- Học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, nghiên cứu tài liệu để từ
đó rút cho mình những bài học hay nhất góp phần vào việc chăm sóc và giáo dục
trẻ đạt kết quả cao.
II. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
- Đối với nhà trường ban giám hiệu cần tham mưu với lãnh đạo địa phương
cũng như tuyên truyền vận động sự ủng hộ của phụ huynh để bổ sung thêm vào
cơ sở vật chất và các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trẻ.
Cần tổ chức hội nghị phụ huynh toàn trường tuyên truyền với các bậc phụ
huynh tăng thêm khẩu phần ăn cho các cháu để đảm bảo năng lượng hơn nữa
cho các cháu.
- Phòng giáo dục: Tổ chức buổi tập huấn về chuyên đề dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho toàn bộ giáo viên được tham dự.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình tôi giảng
dạy nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Những kinh nghiệm trên của tôi không tránh
khỏi phần thiếu sót và hạn chế. Những vấn đề đó nếu được cấp trên đóng góp ý
kiến xây dựng, tôi sẽ khắc phục trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ nói
chung và giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng trong
những năm học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nga Sơn, ngày 10 tháng 04 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Mai Thị Mỵ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status