một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non số 1 thị trấn than uyên - Pdf 18

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực phẩm vô cùng cần thiết và quan trọng đối với con người. Sử dụng
thực phẩm không đảm bảo vệ sinh rất dễ xảy ra ngộ độc thực phẩm. Vì vậy vệ
sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm giữ một vị trí rất quan trọng đối với sức
khoẻ con người, góp phần nâng cao sức lao động phòng chống bệnh tật đem lại
hạnh phúc cho mọi người, mỗi gia đình và cộng động xã hội. Chất lượng dinh
dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ khâu sản xuất
đến khâu tiêu dùng nên công tác này đòi hỏi tính liên ngành cao và là nhiệm vụ
của toàn dân.
Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành học mầm non đã
đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ ở trường mầm non. Việc đưa các nội dung giáo dục dinh dưỡng sức
khỏe vào giảng dạy cho trẻ là một việc rất cần thiết, như vậy sẽ tạo ra sự liên
thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ tuổi mầm non dến tuổi học đường. Mặt
khác ở lứa tuổi mầm non trẻ rất dễ nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điều
được dạy bảo. Tiến hành giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non góp phần quan
trọng trong chiến lược con người, tạo ra một lớp người mới có sự hiểu biết đầy
đủ về vấn đề dinh dưỡng, sức khỏe, biết lựa chọn một cách thông minh và tự
giác các cách ăn uống để đảm bảo cho sức khỏe của mình. Công tác này cũng
cần được triển khai rộng tới các bậc phụ huynh và các ban ngành có liên quan;
tuyên truyền cho họ các nội dung về giáo dục dinh dưỡng sức khỏe. Qua đó họ
sẽ tự nguyện phối kết hợp cùng nhà trường trong việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ.
Các cơ sở giáo dục mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn yếu
ớt sức đề kháng chưa cao, chưa chủ động ý thức được đầy đủ về dinh dưỡng và
vệ sinh an toàn thực phẩm. Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm,
đề phòng ngộ độc thực phẩm là một vấn đề có ý nghĩa thực tế và vô cùng quan
trọng trong trường mầm non.
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai. Muốn có được những chủ nhân tương
1
lai của đất nước khoẻ mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng ngay từ khi còn nhỏ

phẩm ở trường mầm non số 1 Thị trấn Than Uyên.
Đề xuất một số kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm ở trường mầm non số 1 Thị trấn
Than Uyên.
IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục, không để
xảy ra ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây truyền qua thực phẩm. Bảo vệ và
nâng cao sức khỏe thông qua việc “Giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực
phẩm” cho học sinh tại trường mầm non.
Nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất để làm tốt công tác giáo dục vệ sinh dinh
dưỡng an toàn thực phẩm. Hạn chế tuyệt đối tình trạng ngộ độc thực phẩm
trong trường mầm non.
Nâng cao nhận thức về giáo dục dinh dưỡng an toàn thực phẩm trong
cộng đồng.
Quản lý chỉ đạo việc hợp đồng mua thực phẩm, cơ sở cung cấp thực phẩm
đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm một cách thường xuyên được
đảm bảo ký kết có tính pháp lý trước pháp luật của nhà cung cấp thực phẩm.
Cách chế biến thực phẩm an toàn và việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho
trẻ ở trường Mầm non.3
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên cho hệ thống giáo dục quốc dân.
Giáo dục mầm non thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ 3 đến 72 tháng
tuổi. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể
chất, tình cảm, trí tuệ thẩm mỹ hình thành nhân cách đầu tiên của con người
mới xã hội chủ nghĩa. Với mục tiêu đó ngành giáo dục đặc biệt quan tâm đầu tư
cho bậc học mầm non, phần đấu không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc,

Năm học 2011- 2012 với tình hình thực tiễn của nhà trường, kết hợp với
nghiên cứu đặc điểm của địa phương về kinh tế, tình hình dân trí, tập quán,
công tác giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm của trường mầm non
số 1 trong những năm qua. Mục tiêu chủ yếu của nhà trường là nâng cao chất
lượng chăm sóc vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm. Kết hợp nuôi con khỏe,
dạy con ngoan, nuôi con theo khoa học nhằm tạo điều kiện cho trẻ phát triển
toàn diện về đức, trí, thể, mỹ.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
1. Quy mô trường lớp
Toàn trường có 11 lớp/300 học sinh
Trong đó: Nhà trẻ: 3 nhóm/74 trẻ; Mẫu giáo: 8 lớp/226 trẻ.
2. Cơ sở trang thiết bị
Toàn trường có 11 phòng học trong đó có 6 phòng học kiên cố, 3 phòng
bán kiên cố, 2 phòng mượn của phòng chức năng khác. Có 5 công trình vệ sinh
đảm bảo tiêu chuẩn. Có bếp ăn 1 chiều đảm bảo đúng tiêu chuẩn, có đủ đồ
dùng trang thiết bị phục vụ cho việc nấu ăn, chế biến thực phẩm cho trẻ.
3. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên:
Tổng số: 34 đ/c (Ban giám hiệu: 03, giáo viên: 21, nhân viên: 10)
Tổng số học sinh được tổ chức nấu ăn bán trú tại trường là 11 lớp/ 300
học sinh, với mức ăn là 13.000đ/ ngày/ học sinh.
Nhân viên phục vụ: 10 trong đó bảo vệ: 01 kế toán: 01, thủ quĩ: 01, Y tế :
01 cấp dưỡng: 06 (chưa qua đào tạo).
5
4. Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
Qua theo dõi cân đo lên biểu đồ tăng trưởng đầu năm học kết quả cho
thấy như sau:
Độ tuổi
Tổng
số trẻ
Cân nặng chiều cao

nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ đề ra các chỉ tiêu cần đạt về số lượng, chất
lượng, nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Vào đầu tháng năm học (tháng 9) nhà
trường tổ chức họp Ban lãnh đạo nhà trường và Ban đại diện cha mẹ trẻ thống
nhất về chế độ ăn uống, xây dựng thực đơn. Sau đó mời các nhà cung cấp thực
phẩm (Rau, thịt, gạo, trứng, sữa ) về ký hợp đồng. Nguồn thực phẩm cung cấp
phải đủ về số lượng, đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý
theo thị trường địa phương.
Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an
toàn thực phẩm, các công văn hướng dẫn nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và Đào
tạo và của ngành học Mầm non về các hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc nuôi
6
dưỡng giáo dục trẻ
Đưa nội dung vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm vào chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, tăng cường giám sát công tác vệ sinh nói
chung và vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng.
Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất đồ dùng, thiết bị cho việc tổ
chức nuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục trẻ
Về chất lượng giáo dục: Chỉ đạo các lớp thực hiện đúng quy chế nuôi
dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ. Thực hiện tốt các chuyên đề, đổi mới phương
pháp giảng dạy tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực
phẩm vào các giờ học, các hoạt động khác trong ngày.
Làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về công tác thực
hiện chuyên đề.
Thực hiện tốt các biện pháp phòng nhiễm bẩn vệ sinh an toàn thực phẩm,
vệ sinh nơi chế biến. Nhà bếp luôn luôn sạch sẽ, không để bụi bẩn, có đủ dụng
cụ cho nhà bếp chế biến và đồ dùng ăn uống cho trẻ. Ngoài ra trong nhà bếp có
bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi
người thực hiện. Phân công cụ thể ở các khâu: Chế biến theo thực đơn, theo số
lượng trẻ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh.
Đối với nhân viên nấu ăn phải kiểm tra sức khỏe 2lần/năm (vào đầu năm

nghiệm để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Với chức năng là một hiệu phó quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng bán
trú trong nhà trường tôi tham mưu với ban giám hiệu đưa nội dung tuyên truyền
các tài liệu về vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm lồng ghép trong các
cuộc họp, trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, đối với các cháu suy dinh
dưỡng nhà trường phối hợp với các phụ huynh tăng cường nguồn dinh dưỡng
trong các bữa ăn hàng ngày của trẻ để trẻ phát triển tốt.
Mặt khác tuyên truyền qua tranh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm của các
cơ quan chức năng cung cấp.
Bên cạnh đó chỉ đạo giáo viên tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng vào
chương trình giảng dạy theo các chủ đề.
Ví dụ 1: Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe vào chủ đề
8
trường mầm non. Ở chủ đề này chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp những
nội dung sau:
- Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi
văn minh trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay
ngắn, không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng, tránh
đổ vãi, ăn từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.
- Tập tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường: Tự cất, dọn đồ dùng
ăn uống sau khi ăn, lấy gối lên giường đi ngủ.
- Tập luyện thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, đi vệ sinh đúng nơi qui
định. Giữ gìn vệ sinh môi trường như không khạc nhổ nơi công cộng, vứt
rác đúng nơi qui định
Ví dụ 2: Khi tổ chức hoạt động góc qua trò chơi “Cửa hàng rau quả” khi mua
hàng các cháu phải biết chọn thực phẩm tươi ngon, thực phẩm không bị rập nát.
Còn qua trò chơi “Nấu ăn” các cháu biết rửa tay và vệ sinh đồ dùng, rửa sạch
thực phẩm trước khi chế biến, phải biết ăn chín uống sôi.
Với trò chơi học tập: “Xếp nhanh theo nhóm” thì cần phải chuẩn bị những
lô tô về các loại thực phẩm (đủ 4 nhóm dinh dưỡng) và trò chơi“Thi xem ai

Kiểm soát chặt chẽ nguồn cung cấp thực phẩm: Nguồn gốc, thực phẩm,
nguyên liệu thực phẩm, khâu chế biến nấu nướng, khâu bảo quản vận chuyển.
Phối hợp với chính quyền địa phương kiểm soát các cơ sở kinh doanh, dịch vụ
ăn uống, cấm các loại hàng rong bán quà xung quanh trường học khi không đủ
điều kiện vệ sinh theo quy định.
Đào tạo bồi dưỡng kiến thức, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm
cho cán bộ - giáo viên - nhân viên và học sinh.
Đưa nội dung giáo dục vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm vào các
hoạt động hàng ngày cho trẻ tại nhà trường
Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát,
đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
trong trường mầm non.
4. Xây dựng thực đơn dinh dưỡng cho trẻ phù hợp với thực tế nhà trường và
địa phương
10
Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ là một công trình lớn lao đòi hỏi các cô giáo,
cô nuôi phải có thời gian, vốn hiểu biết về dinh dưỡng và tâm sinh lý trẻ. Để trẻ
phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ thì cần phải có những bữa ăn ngon
miệng đầy đủ dinh dưỡng.
Một bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng phải đủ 3 nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc 1: Thức ăn phải có đủ 4 nhóm chất: Bột đường, chất đạm,
chất béo, chất xơ.
Chất bột đường có trong thức ăn chế biến từ gạo như: Bột, cháo, cơm,
mỳ chất này cung cấp năng lượng cho trẻ và giúp chuyển hoá chất trong cơ thể.
Chất đạm có trong thịt, cá, tôm, cua các loại đậu giúp xây dựng cơ bắp,
tạo kháng thể.
Chất béo có trong mỡ, dầu, bơ dự trữ, cung cấp cho bé năng lượng và
các vitamin.
Chất xơ có trong các loại rau củ, trái cây, giúp cơ thể bé chuyển hoá chất
và tăng cường chất đề kháng cung cấp vitamin, khoáng chất.

Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu
SÁNG (Bữa chính)
- Trứng rán
- Cháo trứng
- Canh củ
quả

- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh rau
- Thịt bò rim
- Cháo thập
cẩm
- Canh đậu thịt
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh củ quả
- Thị lợn rim
- Cháo thập
cẩm
- Canh rau
CHIỀU
( bữa phụ)
- Thịt lợn rim
- Cháo thịt
- Canh rau
- Bánh mỳ +
sữa(MG)
- Thịt gà rim
- Cháo gà

- Canh củ
quả
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh rau
- Thịt bò rim
- Cháo thịt bò
- Canh rau
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh củ quả
- Thị lợn rim
- Cháo thịt
- canh rau
CHIỀU
( bữa phụ)
- Trứng rán
- Cháo trứng
- Canh đậu
- Chè thập
cẩm + quả
(MG)
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh rau
- Phở gà
(MG)
- Thịt lợn rim
- Cháo thập
cập

quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mọi người. Xây dựng kế hoạch, chủ động tiến
hành nội dung hoạt động xã hội hóa giáo dục, biết tận dụng vai trò của hội đồng
13
giáo dục biến nghị quyết của hội đồng giáo dục thành thực tế trong giáo dục
mầm non. Mặt khác đa dạng hóa, chú trọng đến hiệu quả nuôi dưỡng chăm sóc
giáo dục trẻ tại trường mầm non .
Đối với các bậc phụ huynh thì phải nhận thức thấy rõ việc ăn uống là một
nhu cầu cấp bách hàng ngày của trẻ ăn uống theo đúng yêu cầu dinh dưỡng thì
thể lực, trí tuệ phát triển tốt giúp gia đình đạt được ước mơ con cái khoẻ mạnh,
thông minh, học giỏi.
Thực hiện 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho các bậc cha mẹ trong việc
chăm sóc nuôi dưỡng.
Có kế hoạch xây dựng cải tạo cơ sở vật chất ngay từ đầu năm học, làm mới 1
nhà kho để cơ sở vật chất với tổng kinh phí là 40.000.000đ, làm mới sân để đồ
chơi ngoài trời với số tiền là: 6.500.000đ mua một máy lọc nước với trị giá
5.000.000đ, mua giá phơi khăn mặt bằng Inox số tiền : 7.000.000đ
Nhà trường có kế hoạch mua sắm sửa chữa trang thiết bị phục vụ cho
việc chế biến thực phẩm đảm bảo cho việc nuôi dưỡng chăm sóc nuôi dưỡng
các cháu hàng ngày, hàng tháng có kiểm kê đánh giá chất lượng đồ dùng thiết bị
nhà bếp có đảm bảo an toàn, đảm bảo vệ sinh trong các khâu chế biến hay
không, có đánh giá khen thưởng kịp thời.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Hệ thống các biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm kể trên đã thực sự đem lại hiệu quả, sự
chuyển biến rõ rệt trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non số
1 Thị trấn Than Uyên. Kết quả ấy được thể hiện:
100% trẻ ra lớp được tiêm uống đầy đủ các loại vắc xin, đảm bảo an toàn,
được cân đo theo dõi biểu đồ, khám sức khỏe theo định kỳ, vệ sinh cá nhân sạch
sẽ gọn gàng. Số trẻ được ăn tại lớp tăng 15 cháu so với năm học trước giảm tỷ
lệ trẻ suy dinh dưỡng so với đầu năm là 5 %.

độ 2
Nhà trẻ 74 74 0 0 74 0 0
Mẫu giáo 226 221 5 0 221 5 0
Cộng: 300 295 5 0 295 5 0 PHẦN KẾT LUẬN
I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Qua nghiên cứu, tìm tòi, trao đổi và trải nghiệm thực tế đã chỉ ra một số
15
biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an
toàn thực phẩm ở trường mầm non số 1 Thị trấn Than Uyên. Xin mạnh dạn đề
xuất một số kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh
dinh dưỡng an toàn thực phẩm ở trường mầm non như sau:
Vận dụng linh hoạt giữa lí thuyết và thực tiễn, phát huy tính trách nhiệm,
điều chỉnh sai lệch kịp thời, giúp cho sự chỉ đạo nhà trường đi đúng hướng và
có nề nếp.
Đầu tư trang thiết bị xây dựng cơ sở vật chất, đồ dùng dụng cụ phục vụ
nhu cầu công tác tổ chức bán trú tại nhà trường đầy đủ.
Xây dựng nội quy, quy chế chi tiêu khẩu phần thực đơn cụ thể, yêu cầu tất
cả các thành viên trong nhà trường thực hiện nghiêm túc.
Thực hiện nghiêm túc các điều kiện đã đưa ra ở phần giải pháp thực hiện
trong bài viết này.
Thường xuyên kiểm tra mọi hoạt động của công tác tổ chức nấu ăn bán trú:
Chế biến, chọn mua bảo quản thực phẩm, sử dụng nguồn nước, địa điểm chế biến
II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN:
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng an
toàn thực phẩm” của bản thân tôi qua một năm thực hiện bước đầu đã đạt được
những kết quả đáng kể đây chính là động lực thúc đẩy đội ngũ trong nhà trường
cần cố gắng nhiều hơn nữa, đồng thời cũng là địa chỉ đáng tin cậy để các bậc

Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất
lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm trong trường mầm non”
trong lĩnh vực quản lý chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp chia xẻ của các đồng nghiệp để sáng kiến áp được áp
dụng rộng rãi trong các trường mầm non đạt hiệu quả cao vào những năm tiếp theo. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghi quyết Trung ương II (khóa VIII) NXB CTQG Hà Nội/ 1997
17
2. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ QL,I, III, NXB HVQLGD Hà Nội/2007
3. Lê Văn Ất kinh nghiệm GDMN- NXBGD HN/2006
4. Tài liệu bồi dưỡng CBQL. MN năm học 2005- 2006
5. Chiến lược phát triển GD 1998- 2020 của bộ GD –ĐT
6. Một số vấn đề chăm sóc giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường cho trẻ
từ 0-6 tuổi (Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1998-2000)
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
18
PHẦN MỞ ĐẦU
I. lý do chọn đề tài” Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh dinh
dưỡng an toàn thực phẩm” cho trẻ ở trường mầm non số 1 thị trấn Than Uyên
01
II. Phạm vi đối tượng nghiên cứu 02
III. Mục đích nghiên cứu 02
IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status