1
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC
DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA CÁC HOẠT
ĐỘNG Ở TRƯỜNG MẦM NON HỒNG THÁI TÂY
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là nhân tài của xã hội. trẻ em là
nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, mỗi người cha người mẹ sẽ hạnh phúc biết bao
khi con cái họ là đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn. Tương lai của xã
hội sẽ rạng rỡ biết bao khi có một thế hệ trẻ có sức khỏe dồi dào, có đức, có tài, sẽ
là người kế cận tiếp tục gánh vác sự nghiệp, giang sơn, giúp cho đất nước phồn
vinh và giàu mạnh, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước, sánh vai
với các cường quốc năm Châu để thực hiện lời dạy của Bác:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Vì vậy ngành học Mầm Non có nhiệm vụ phối hợp giữa gia đình và nhà
trường và xã hội trong việc chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 - 6 tuổi phát triển một cách
toàn diện, đặt nền tảng đầu tiên cho sự hình thành những phẩm chất, nhân cách con
người mới xã hội chủ nghĩa. Ở lứa tuổi Mầm non thì việc chăm sóc giáo dục là hai
mặt của một quá trình giáo dục được tiến hành đông thời và song song với nhau.
Song để phát triển toàn diện về đức trí thể mỹ thì việc đầu tiên đó là giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ vì dinh dưỡng là những chất cần thiết cho cuộc sống của con người
nói chúng và ở trẻ nói riêng. Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng quyết định đến sự
sinh trưởng và phát triển của cơ thể trẻ, trạng thái tinh thần, năng suất lao động và
học tập, qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân, đến chất lượng giống nòi.
Vì vậy, việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo là vô cùng quan trọng và
cấp bách, là bước khởi đầu cho một con người có sức khỏe và trí tuệ, cho nên cần
chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non. Nếu chăm sóc cho trẻ một cách
3
nhóm thực phẩm trong một ngày. Nhu cầu ngủ, nhu cầu hoạt động của trẻ cũng rất
cao, trẻ thường hiếu động thích chạy nhảy. Đặc biệt hoạt động vui chơi đóng vai trò
rất cao, nó là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non. Nếu như trẻ được người lớn
chăm sóc nuôi dưỡng tốt ngay từ đầu, ngay từ khi rất nhỏ thì khi trẻ mới được vào
trường mầm non thì trẻ luôn được khoẻ mạnh thông minh, hồn nhiên, ít ốm đau.
Tạo điều kiện cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh cũng là tiền đề tốt cho
trẻ bước vào ngưỡng cửa của trưòng tiểu học.
Việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo có tác dụng to lớn và có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, được tiến hành đồng bộ, kịp thời, thống nhất giữa gia đình, nhà
trường và xã hội. Một điều hết sức quan trọng trong việc giáo dục dinh dưỡng cho
trẻ là có tác dụng trong hoạt động trí tuệ, góp phần quyết định vào kết quả học tập,
kích thích tính tò mò, óc sáng tạo, thích tư duy khám phá cái hay cái đẹp, nó còn
quyết định đến chất lượng con người. Một điều không thể thiếu khi nhắc đến tác
dụng lớn của chế độ dinh dưỡng và việc giáo dục dinh dưỡng, đó là góp phần hạn
suy dinh dưỡng ở trẻ, hạn chế bệnh tật, cơ thể khỏe mạnh, có sức đề kháng tốt hơn
và nguy cơ nhiễm bệnh thấp hơn nhờ có giáo dục dinh dưỡng. Từ đó trẻ ý thức
được bản thân biết ăn hết khẩu phần, biết vệ sinh trước và sau khi ăn, trong khi ăn
không nói chuyện, ăn chậm nhai kỹ không làm rơi vãi thức ăn, biết thi đua với bạn
bè ăn hết suất trong bữa ăn hằng ngày.
Một cơ thể khỏe mạnh không phải cứ ăn uống các loại lương thực thực phẩm
một cách tràn lan, thiếu khoa học. Nếu chỉ ăn no thì chưa đủ mà phải ăn uống đúng
khoa học để đáp ứng cho cơ thể đầy đủ chất dinh dưỡng. Nếu như trẻ không nhận
thức được tác dụng của việc ăn uống một cách khoa học thì sẽ dẫn đến hậu quả khó
lường. Thiếu hoặc thừa các chất đinh dưỡng có thể gây bệnh và ảnh hưởng đến sức
khỏe. Nếu chế độ ăn của trẻ thiếu về số lượng và không cân đối về chất trẻ sẽ bị sút
cân suy dinh dưỡng gây còi xương... Ngược lại, nếu trẻ ăn nhiều, quá thừa chất
dinh dưỡng sẽ gây béo phì và các bệnh như rối loạn tiêu hóa...
5
Là một trường nằm ở vùng nông thôn, tuy điều kiện khó khăn về kinh tế
nhưng được sự quan tâm của ngành, các cấp lãnh đạo địa phương, của phụ huynh
nên các lớp có đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy học cho cô và trẻ và đủ đồ dùng
phục vụ cho trẻ ăn bán trú tại trường.
* Đội ngũ giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên: 23 đồng chí
+ BGH: 3 đ/c – trình độ ĐH: 3
+ Giáo viên: 16 đ/c – trình độ ĐH : 3; CĐ: 4; TC: 9
+ Nhân viên: 4 đ/c - Trình độ Trung cấp trở lên
* Số trẻ theo học :
- Tổng số trẻ đi học: 184 cháu.
+ Trong đó: trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 48 cháu, 4-5 tuổi 95 cháu.
+ Trẻ nhà trẻ 24-36 tháng 41 cháu.
* Khảo sát xác định khả năng của trẻ:
- Tổng toàn trường: 184 trẻ
- Số trẻ 5-6 tuổi được khảo sát: 48 cháu
- Nội dung khảo sát:
Thông qua các môn học, các trò chơi, các hoạt động vui chơi, hoạt động góc,
hoạt động ngoài trời... chiều cao, cân nặng, sức khỏe trên biểu đồ.
+ Số trẻ kênh cân nặng bình thường là: 39 cháu, đạt 81.3 %
+ Số trẻ suy dinh dưỡng vừa là: 9 cháu, đạt 18.7 %
+ Số trẻ nhận biết và phân biệt được 4 nhóm thực phẩm là: , 30 cháu đạt 62.5
%
+ Biết ích lợi của thực phẩm với sức khỏe con người là: 35 cháu, đạt 72.9%
+ Biết kể tên các loại thực phẩm và biết các thành phần của những món ăn
đơn giản quen thuộc là: 38 cháu, đạt 79 %
+ Có hành vi văn minh trong ăn uống là: 36 cháu, đạt 75 %
+ Có hứng thú ăn trong bữa ăn là: 40 cháu, đạt 83.3%
Khá
ĐYC
3
1
1
2
2
1
5
Yếu
0
*Đánh giá:
Đối với giáo viên: Do một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến vấn đề
dinh dưỡng và một số giáo viên mới ra trường còn hạn chế về kinh nghiệm truyền
đạt cho trẻ hiểu kiến thức về dinh dưỡng.
Đối với trẻ: Việc nhận thức về dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo ở trường còn
hạn chế, nhiều trẻ còn chưa kể được nhiều món ăn trong gia đình cung cấp những
gì, chưa biết cách chọn và bảo quản thực phẩm, chưa hiểu được gia đình cần ăn đầy
đủ chất dinh dưỡng để mọi người cùng khỏe mạnh, ít ốm đau bệnh tật. Ở trong giờ
Chủ đề
Nội dung giáo dục dinh dưỡng
Biện pháp
- Công việc của cô, bác cấp - Đàm thoại
Tháng 9
Trường
dưỡng.
mầm non
- Làm bánh bày mâm ngũ quả - Thực hành
Tháng 10 Bản thân
Tết Trung thu
- Nhu cầu dinh dưỡng của bé
- Trò chuyện
- Đàm thoại
- Nhu cầu dinh dưỡng trong gia - Quan sát
Tháng 11 Gia đình
đình của bé
Tháng 3
Tháng 4
phẩm có gốc động vật
- Các món ăn ngày tết
- Thực hành
- Đàm thoại
- Vận chuyển các loại thực phẩm - Trò chơi
và quy định
- Đàm thoại
giao thông
Các hiện
- Chế biến món ăn truyền thống - Thực hành
tượng tự
của quê hương
nhiên
Quê hương
đất nước,
Bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn, tôi còn chỉ đạo biết tự tạo đồ dùng đồ chơi để
phụ vụ cho môn học ngoài ra tôi chỉ đạo giáo viên nghiên cứu ứng dụng công nghệ
thông tin sử dụng phần mềm Powr Point để soạn giáo án trình chiếu gây được hứng
thú cho trẻ, áp dụng phần mền nutriskid để tính khẩu phần ăn cho trẻ và nghiên cứu
những kiến thức về dinh dưỡng để từ đó vận dụng những kiến thức đó vào nội dung
bài dạy qua các tiết có liên quan đến vấn đề dinh dưỡng.
2.3: Những biện pháp tổ chức bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5-6 tuổi:
a. Hình thức trong tiết học:
Thông qua các tiết học có rất nhiều đề tài để giáo dục dinh dưỡng cho trẻ, ví
dụ như tiết THMTXQ, đề tài “Một số rau quả, một số vật nuôi sống trong gia đình,
một số động vật sống dưới nước”. Khi dạy tiết học này qua tranh ảnh, vật thực,
giáo viên cho trẻ quan sát và đàm thoại, đặt ra những câu hỏi phù hợp để trẻ tư duy
và trả lời câu hỏi theo nội dung trong bài. Ngoài việc cung cấp kiến thức giáo dục
cho trẻ, cô cần khai thác, mở rộng kiến thức, cung cấp tầm quan trọng về dinh
dưỡng cho trẻ trong tiết học như: lợi ích của thực phẩm đối với cơ thể con người
như thế nào? các chất dinh dưỡng có trong từng loại thực phẩm như rau củ quả, thịt
động vật. Cách chế biến một số loại thực phẩm để đảm bảo VSATTP ta cần làm gì?
Muốn có thực phẩm để ăn thì ta phải chăm sóc, bảo vệ chúng ra sao.
Qua tiết văn học, giáo viên cho trẻ đọc, kể về các câu chuyện, bài thơ, giải
các câu đố có nội dung về dinh dưỡng, cho trẻ kể về các món ăn hàng ngày của gia
đình.
Qua tiết tạo hình, âm nhạc, có những bài hát, vẽ, nặn về các loại rau quả, con
vật, những bài học cô đều nêu ra những câu hỏi cụ thể để lồng ghép nội dung giáo
dục dinh dưỡng cho trẻ hiểu sâu sắc hơn.
10
*Thiết kế giờ dạy mẫu có nội dung tích hợp giáo dục dinh dưỡng, tổ chức
cho giáo viên dạy.
Cụ thể xây dựng mô hình phòng chống suy dinh dưỡng tại lớp điểm do 2
đồng chí Đồng chí Hoàng Hương Giang- Hoàng Thị Xoa chủ nhiệm lớp 5 - 6 tuổi
thôn 4 phụ trách.
Những giáo viên được phân công lớp điểm, tôi dựa trên cơ sở nhiều năm giáo
viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi các cấp.
Hàng tháng tiết dạy xếp loại khá, giỏi.
Có kinh nghiệm, linh hoạt trong cách tổ chức tiết dạy có nghệ thuật thu hút
trẻ và đặc biệt có năng lực chuyên môn khi tích hợp các nội dung giáo dục dinh
dưỡng cho phù hợp với tiết dạy.
Từ đó giáo viên đến quan sát và học hỏi được những điều bản thân mình
chưa làm được để áp dụng vào lớp của mình.
b. Hình thức ngoài tiết học
* Thông qua các bữa ăn:
Qua các bữa ăn, chỉ đạo giáo viên cần giới thiệu cho trẻ biết tên các món ăn
trong bữa ăn được chế biến từ loại thực phẩm gì? Cung cấp cho ta chất gì? Có tác
dụng như thế nào? Ở nhà bố mẹ các con có chế biến các món ăn này cho con ăn
không? Nên giáo dục cho các cháu phải ăn hết suất ăn để cho cơ thể khỏe mạnh,
thông minh, học giỏi. Giáo dục các cháu có thói quen văn minh lịch sự trong bữa
ăn, Trước và sau khi ăn cần vệ sinh sạch sẽ, trong khi ăn không nói chuyện, ăn
chậm, nhai kỹ…
* Thông qua hoạt động vui chơi:
Giáo viên tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi “Lô tô dinh dưỡng ”, cái túi kỳ
lạ, bé tập làm nội trợ, cửa hàng giải khát... qua những trò chơi này, trẻ tạo được
hứng thú tích cực tham gia khám phá, tư duy về dinh dưỡng.
* Thông qua hoạt động lao động:
Tổ chức cho trẻ lao động trồng rau, củ, quả, cách chăm tưới bảo về cây cối…
12
* Thông qua đi dạo, đi thăm:
13
Chế biến trưng bày món ăn, thuyết trình cách chế biến và
thành phần dinh dưỡng trong món ăn đó.
Qua hội thi này đã thu được kết quả đáng kể với giải nhất phần thi dinh
dưỡng của bé cháu Phạm Mai Hoa lớp mấu giáo 4 tuổi, hai giải nhì cháu Nguyễn
Hoàng Anh lớp 5 tuổi, Hoàng Minh Hà lớp 4 tuổi. Phần thi chế biến món ăn đạt
giải nhất thuộc về đội 5 tuổi, giải nhì đội 4 tuổi, giải ba đội nhà trẻ, qua hội thi nhà
trường đã tuyên truyền cho các bậc phụ huynh hiểu rõ về dinh dưỡng và cách chế
biến các món ăn cho trẻ. Đặc biệt là các cô nuôi hiểu rõ hơn về dinh dưỡng, tạo
điều kiện học hỏi lẫn nhau và nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng cho cá nhân còn
hạn chế để tay nghề được nâng cao.
2.5. Đầu tư đồ dùng dạy và học:
Qua nghiên cứu kế hoạch xây dựng nội dung lồng ghép giáo dục dinh dưỡng
vào các chủ điểm trong năm và mục đích yêu cầu của mỗi tiết học, căn cứ vào đồ
dùng, đồ chơi hiện có, trường tiếp tục bổ sung thêm đồ dùng, đồ chơi còn thiếu để
phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng của cô và trẻ phong
phú, đa dạng hơn.
Khuyến khích giáo viên sưu tầm những nguyên liệu sẵn có ở địa phương làm
thêm đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học.
Kết hợp với phụ huynh học sinh sưu tầm nguyên liệu, đóng góp mua sắm
thêm đồ dùng cho trẻ học tập.
2.6. Chỉ đạo giáo viên tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng
dạy.
Nhà trường đã khuyến khích đội ngũ CBCNV đi học vi tính để đưa công nghệ
thông tin áp dụng vào dạy học đổi mới và khai thác qua mạng internet một cách
tích cực, đến nay đã có 100% số CBCNV có chứng chỉ B tin học và 100% sử dụng
thành thạo máy vi tính biết khai thác mạng, soạn giáo án điện tử.
Trường đã áp dụng các phần mềm Nutrikisd để tính khẩu phần ăn cho trẻ được
đảm bảo để chất dinh dưỡng, có khoa học, để nâng cao chất lượng và cải tiến công
15
- Từ kết quả dự giờ thăm lớp của giáo viên đạt được tôi phân loại giáo viên theo
mức: Tốt, khá, đạt yêu cầu và chưa đạt để có biện pháp cụ thể, nhằm bồi dưỡng cho
giáo viên biết cách tích hợp so cho phù hợp nội dung tránh nội dung tích hợp quá
nhiều.
+ Nếu giáo viên có nhiều giờ dạy khá, tốt, tôi có hình thức nêu gương trước tập
thể động viên khích lệ họ. Mặt khác giúp giáo viên còn hạn chế chuyên môn tìm
đến học hỏi kinh nghiệm của họ và giao cho giáo viên đó có trách nhiệm kèm cặp
1 đồng nghiệp của mình còn yếu và hàng tháng tôi trực tiếp kiểm tra xem sự tiến
triển của đồng chí giáo viên đấy có tiến bộ không.
+ Đối với giáo viên có 1 số giờ đạt yêu cầu tôi có kế hoạch dự nhiều lần hơn, để
họ luôn có hướng phấn đấu, tìm tòi sáng tạo để có được giờ dạy đạt chất lượng cao
hơn.
+ Đối với nhóm giáo viên có giờ không đạt yêu cầu thì đề nghị giáo viên đó,
xem xét lại qúa trình tự học tập của bản thân, nhắc nhở họ luôn có ý thức cố gắng
hơn nữa, trong công tác giảng dạy. Đối với đối tượng này tôi cần có sự quan tâm
hơn cả, dự nhiều lần cho họ rút kinh nghiệm một cách cụ thể, tỉ mỉ để giáo viên
nhận ra những tồn tại của mình, từ đó dần dần khắc phục điểm yếu đó.
Về hình thức kiểm tra: dự giờ có báo trước, đột xuất về các tiết dạy cũng như
hoạt động góc, hoạt động ngoài trời. thể dục sáng…
Thời gian kiểm tra:Trong 1 tháng ít nhất mỗi giáo viên phải được dự ít nhất 1
giờ dạy hoặc một hoạt động, trong một học kỳ mỗi giáo viên phải được kiểm tra 4
đến 5 lần. Ngoài ra tôi còn kiểm tra hàng ngày, hàng tuần để kịp thời nhắc nhở giúp
đỡ giáo viên về chuyên môn và nắm bắt được phương pháp dạy đổi mới một cách
nhanh nhất và kịp thời.
Tổng số dự giờ các tiết dạy và hoạt động của giáo viên từ tháng 9 cho đến
nay : riêng tổ 5 tuổi 45 tiết
+ Xếp loại tốt : 15 tiết
a.Kết quả:
17
Qua những kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện “Tích hợp giáo dục dinh dưỡng
cho trẻ mẫu giáo nói chung và mẫu giáo 5 tuổi nói riêng thông qua các hoạt động”
như trên, trường đã thu được kết quả như sau:
* Giáo viên:
- 100% giáo viên dạy lớp 5 tuổi đã vận dụng linh hoạt sáng tạo nội dung dinh
dưỡng ở bài dạy.
- Có 2/5 giáo viên dạy lớp 5 tuổi xếp loại tốt.
- 3/5 giáo viên dạy lớp 5 tuổi xếp loại khá.
* Đối với trẻ:
- Số trẻ nhận biết và phân biệt 4 nhóm thực phẩm là 48 cháu, đạt 100%.
- Số trẻ biết ích lợi của thực phẩm đối với sức khỏe con người là 48 cháu, đạt
100%.
- Biết kể tên các loại thực phẩm và các thành phần dinh dưỡng của những
món ăn đơn giản là 48 cháu, đạt 100%.
- Có hành vi văn minh trong ăn uống là 48 cháu, đạt 100%.
- Có hứng thú ăn trong các bữa ăn là 48 cháu, đạt 100%.
- Các cháu có sức khỏe kênh nặng bình thường là 47 cháu, đạt 97.9%.
Phụ huynh yên tâm cho trẻ đến trường nên trường vẫn duy trì được huy động
trẻ 5 tuổi ra lớp đat 100%.
b.Bài học kinh nghiệm:
Qua quá trình chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi thông qua các hoạy động tôi rút ra bài học kinh nghiệm cho mình
trong chỉ đạo chuyên môn như sau :
-Tôi phải thường xuyên học tập tu dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trách
nhiệm của người quản lý .
- Phối hợp với ban giám hiệu, phụ huynh, các ban ngành đoàn thể làm tốt
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non nói riêng và cộng đồng nói chung.
Để làm tốt công tác dinh dưỡng này cần có các hình thức triển khai phù hợp với trẻ
19
ở độ tuổi mầm non là tích hợp các nội dung giáo dục vào các chủ đề phù hợp.
Trong quá trình nghiên cứu thực trạng tôi nhận thấy rằng. Nhận thức về dinh dưỡng
của trẻ còn hạn chế. Nguyên nhân này hoàn toàn không thuộc về phía trẻ, không
phải trẻ không có khả năng lĩnh hội những kiến thức, khă năng cơ bản và mở rộng
về nội dung giáo dục dinh dưỡng mà do chúng ta chưa giúp trẻ ghi nhớ sâu sắc và
mở rộng những kiến thức về dinh dưỡng.
Chính vì vậy công việc nghiên cứu
tìm tòi những biện pháp dạy học có hiệu quả để hỗ trợ phương pháp giáo dục cho
trẻ là rất cần thiết và luôn luôn mới đối với những người tâm huyết với nghề, với
trẻ. Một lần nữa chúng ta cần nhấn mạnh trong công tác giáo dục trẻ mầm non việc
tích hợp dinh dưỡng thông qua mọi hoạt động cho trẻ mầm non nói chung và trẻ
mẫu giáo nói riêng là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết là bước khởi đầu cho một
con người có sức khỏe và trí tuệ.
V: ĐỀ NGHỊ:
Để chỉ đạo thực hiện giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non được tốt hơn tôi
xin đề xuất một số ý kiến sau :
* Đối với phòng giáo dục :
Tôi rất mong các cấp lãnh đạo phòng giáo dục thường xuyên bồi dưỡng
giáo viên, tổ chức các chuyên đề giáo dục dinh dưỡng cho trẻ, đặc biệt về các
phương pháp để học hỏi và áp dụng, cung cấp thêm các sách báo, tập san có liên
quan đến dinh dưỡng.
Cần tổ chức cho giáo viên thăm quan học tập trao đổi kinh nghiệm với các
đồng nghiệp ở các trường chuẩn để bổ sung về các phương pháp, cách tổ chức cho
21
2 .Tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình CSGD trẻ 4 - 5 tuổi , 5 -6 tuổi BGD&ĐT- Nhà xuất bản Hà Nội
3. Tài liệu bồi dưỡng GVMN (hè 2003- 2004 - 2007)BGD&ĐT-Vụ GDMN
4. Tài liệu BDTX cho GVMN chu kỳ II (2004 -2007 )
5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non chu kỳ II (20042007) dành cho địa phương . Của sở GD& ĐT Quảng Ninh .
VII. MỤC LỤC:
Nội dung
Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
1
2
2. Cơ sở thực tiễn
3
22
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
5
1: Thực trạng
2.7. Làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng CS-GD
14
2.8. Phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc chăm sóc giáo dục
16
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
17
IV.KẾT LUẬN
18
V. ĐỀ NGHỊ
19
VI. PHẦN PHỤ LỤC
21
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
VIII. MỤC LỤC
BÁO CÁO THÀNH TÍCH
ĐỀ NGHỊ TẶNG THƯỞNG CSTĐ CẤP CƠ SỞ
24
I. SƠ YẾU LÝ LỊCH
Họ và tên: Nguyễn Thị Miền
Ngày Tháng năm sinh: 17/07/1980
Quê quán: Hồng Thái Tây – Đông Triều – Quảng Ninh.
Nơi thường trú: Thôn 2- Hồng Thái Tây - Đông Triều – Quảng Ninh,
Đơn vị công tác: Trường mầm non Hồng Thái Tây,
Trình độ chuyên môn: Đại học Giáo dục mầm non.
Ngày vào Đảng: 03 tháng 11 năm 2004, chính thức 03 tháng 11 năm 2005
Nhiệm vụ được giao hiện nay: Phụ trách chuyên môn nuôi dưỡng
* Quá trình công tác
- Từ tháng 09 năm 1999 đến tháng 07 năm 2008 giáo viên trường mầm non
Hồng Thái Tây.
- Từ tháng 07 năm 2008 đến nay là phó hiệu trưởng trường mầm non Hồng
Thái Tây.
* Những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ:
- Thuận lợi: Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo về đầu tư trang thiết bị, cơ
sở vật chất, Bản thân có trình độ, nhiệt tình trong công tác, phụ huynh phần nào đã
nhận thức được tầm quan trọng của trẻ trong lứa tuổi mầm non.
- Khó khăn: Là trường miền núi điều kiện cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó
khăn, kinh tế của nhân dân nghèo, thu nhập thấp dẫn tới việc huy động trẻ còn gặp
nhiều khó khăn đặc biệt ở độ tuổi nhà trẻ và 4-5 tuổi.
II. THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC
* Về phẩm chất chính trị: