UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục biển đảo
trong các hoạt động ở trường Tiểu học
1
Năm học 2014 - 2015
Phần 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: "Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục
biển đảo trong các hoạt động ở trường Tiểu học ".
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Tiểu học
3. Đồng tác giả:
3.1. Nguyễn Thị Minh Tân. Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 10/6/1970
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm, Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng - Trường Tiểu học Phả Lại 2.
Điện thoại: 0983 998 548
3.2. Nguyễn Thuý Hài. Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 16/01/1974
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm, Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng - Trường Tiểu học Phả Lại 2.
Điện thoại: 0973 049 675
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Cá nhân hai tác giả
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Phả Lại 2.
6. Điều kiện áp dụng sáng kiến: Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh các
phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức mang tính khu vực và tính toàn cầu. Các
thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất
ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, nhất là
trong tình hình hiện nay vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển đang có nhiều
diễn biến phức tạp. Giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển đảo là một nhiệm
vụ quan trọng của nhà trường Việt Nam, nhiệm vụ này đã được Bộ Giáo dục và Đào
tạo cụ thể hoá trong nhiệm vụ của từng cấp học. Vì vậy việc giáo dục ý thức về chủ
quyền biển, đảo Tổ quốc cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ cần thiết và có ý nghĩa chiến
lược, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà trường, là đòi hỏi cấp thiết của
thực tế đời sống xã hội hiện nay.
Xuất phát từ những lí do trên, trong hai năm học vừa qua, bằng sự nhiệt huyết
và trách nhiệm của người cán bộ quản lí nhà trường, chúng tôi đã thực hiện từ năm
học 2013-2014 và năm học 2014-2015 sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp
nội dung giáo dục biển đảo trong các hoạt động ở trường Tiểu học” với mong muốn
thông qua việc dạy học lồng ghép các môn học, các hoạt động tập thể, các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp của nhà trường góp phần giúp cán bộ, giáo viên và học
sinh có kiến thức cơ bản, nâng cao hiểu biết, ý thức, trách nhiệm của mình về biển
đảo Việt Nam.
3
Cơ sở lí luận đã được chúng tôi nghiên cứu rất kĩ, các giải pháp thực hiện cũng
đều xuất phát từ thực tiễn công tác vì vậy Sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo tích
hợp nội dung giáo dục biển đảo trong các hoạt động ở trường Tiểu học” được áp
dụng rộng rãi đối với tất cả cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh trong các trường tiểu
học trên phạm vi cả nước.
Ngoài phần lý luận chung, Sáng kiến của chúng tôi đã đưa ra 06 biện pháp cơ
bản, đó là:
1. Công tác chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà trường
đi qua. Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải). Khu vực Biển
Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, trong đó eo biển Malacca là
eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz). Biển Đông rất quan
trọng đối với nhiều nước trong khu vực xét về vị trí địa - chiến lược, an ninh, giao
thông hàng hải và kinh tế. Với Mỹ là tuyến hoạt động chính của Hạm đội 7, có 90%
hàng hóa của Mỹ và hàng hóa đồng minh chuyên chở qua Biển Đông. Với Trung
Quốc hàng năm nhập 160 triệu tấn dầu thì 50% dầu nhập và 70% hàng hóa qua Biển
Đông. Với Nhật Bản 70% lượng dầu nhập khẩu và 42% lượng hàng hóa xuất khẩu
chuyên chở qua Biển Đông.
Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng
cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài
nguyên sinh vật (thủy sản), phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản). Biển Đông được coi là
một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có
tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani, Nam
Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa Sông Châu Giang…Các khu vực có tiềm năng
dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài của vịnh Bắc Bộ và bờ
biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng
Mỹ, lượng dầu dự trữ được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỷ thùng với khả năng sản
xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển
Đông khoảng 213 tỷ thùng.
Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con
đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và
Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các
nước trong khu vực. Điều kiện tự nhiên của bờ biển Việt Nam là tiềm năng to lớn
cho ngành giao thông hàng hải Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam có thể xây dựng
cảng biển nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử
5
Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng
dấu ấn không bao giờ mờ phai trong lịch sử dân tộc.
Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam có
vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển. Do đặc
điểm lãnh thổ đất liền nước ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vào Nam, chiều
6
ngang hẹp (nơi rộng nhất khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50 km), nên chiều
sâu đất nước bị hạn chế. Hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế xã hội của ta đều
nằm trong phạm vi cách bờ biển không lớn, nên rất dễ bị địch tấn công từ hướng
biển. Nếu chiến tranh xảy ra thì mọi mục tiêu trên đất liền đều nằm trong tầm hoạt
động, bắn phá của vũ khí trang bị công nghệ cao xuất phát từ hướng biển. Nếu các
quần đảo xa bờ, gần bờ được củng cố xây dựng căn cứ, vị trí trú đậu, triển khai của
lực lượng Hải quân Việt Nam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biển đảo có
vai trò quan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước.
Đánh giá vai trò của biển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp đã tổng kết: “…Do Việt Nam có vị trí quan trọng, lại có bờ biển dài,
nhiều sông lớn, nên từ xưa đến nay kẻ địch bên ngoài thường lợi dụng biển và sông
để xâm lược Việt Nam. Và cũng ở trên biển, trên sông, trong từng giai đoạn lịch sử,
dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống anh hùng, bất khuất chống giặc
ngoại xâm…”. Từ sự nghiên cứu trên, có thể thấy: Biển Đông là một biển lớn trên
thế giới. Biển Đông không những gắn liền với sự phát triển của Việt Nam mà Biển
Đông còn là nút giao thông thương mại chiến lược của khu vực và thế giới, là nguồn
nguyên liệu và thực phẩm quan trọng, là nơi chứa đựng các triển vọng phát triển,
đồng thời cũng đứng trước nguy cơ bất ổn, do sự cọ sát về lợi ích của các quốc gia
ven biển. Vươn ra biển, làm giàu từ biển là định hướng đúng đắn phù hợp trong điều
kiện hiện nay. Việt Nam là một quốc gia có biển, một nhân tố mà thế giới luôn xem
như một yếu tố đặc lợi. Chúng ta cần tăng cường hơn nữa những khả năng quản lý,
làm chủ vươn ra biển làm động lực thúc đẩy các vùng khác trong đất liền phát triển.
Từ nhiều năm nay, nhất là những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến
đảo Việt Nam với những nội dung thiết thực, hun đúc thêm ý chí bảo vệ chủ quyền
Tổ quốc trên biển của thanh thiếu niên trong cả nước.
Tiếp theo, các cơ sở giáo dục đã lồng ghép các nội dung giáo dục chủ quyền
biển đảo vào nội dung sinh hoạt thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Bên
cạnh đó, hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có công văn hướng dẫn các Sở Giáo
dục và Đào tạo tổ chức các hoạt động hưởng ứng tuần lễ “Biển và Hải đảo Việt
Nam". Năm học 2011-2012, Bộ đã tổ chức tập huấn cho hơn 400 giáo viên cốt cán
về các nội dung: Biển Đông và vùng biển nước ta; Tài nguyên thiên nhiên biển, đảo
đa dạng, phong phú; Bảo vệ môi trường biển, đảo. Năm học 2012-2013, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã chỉ đạo các nhà trừờng tổ chức các hoạt động giáo dục về nội dung bảo
vệ môi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; giáo dục về tài nguyên và
môi trường biển đảo.
Trong suốt những năm qua, ở nhà trường phổ thông nói chung, trường tiểu
học nói riêng, với chức năng và nhiệm vụ của mình đã góp phần quan trọng trong
chiến lược chung của quốc gia về giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho
học sinh - những người làm chủ tương lai của đất nước thông qua nội dung giáo dục
lồng ghép trong các môn học, các hoạt động giáo dục.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị
Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam;
8
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác giáo dục ý thức, trách nhiệm, bồi
dưỡng tình cảm và lòng tự hào về biển đảo quê hương cho thể hệ trẻ Việt Nam nói
chung, xuất phát từ thực tiễn công tác, bằng tinh thần, trách nhiệm và cả tấm lòng của
mình đối với biển đảo quê hương, chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện Sáng kiến "Một
số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục biển đảo trong các hoạt động ở
trường Tiểu học” tại đơn vị mình từ năm học 2013 - 2014.
1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp đàm thoại;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1. Cơ sở lí luận
Giáo dục biển, đảo là sự truyền đạt và lĩnh hội các kiến thức về biển, đảo cho
người dân Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho người dân biết và hiểu sâu sắc hơn nữa
về các vấn đề biển, đảo quê hương. Từ đó góp phần củng cố và phát huy truyền
thống yêu nước của dân tộc.
“Khi nhắc đến diện tích quốc gia, nhiều người vẫn đơn giản nghĩ tới vùng đất
liền chứ ít chú ý tới vùng biển. Nguyên nhân của sự thiếu sót trong nhận thức này
một phần bắt nguồn từ việc những nội dung về biển, đảo ít được đề cập một cách bài
bản, nghiêm túc trong chương trình giáo dục ở tất cả các cấp. Chúng ta có thiếu sót
thì phải thẳng thắn thừa nhận và nhanh chóng sửa đổi”. Đó là quan điểm của Giáo sư,
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Cơ - nguyên Phó chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội khi trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân xoay quanh nội
dung: Làm gì để tăng cường kiến thức, tình yêu quê hương, biển, đảo cho học sinh,
sinh viên hiện nay.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Thực hiện Quyết định số 373/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1461/QĐ-BGDĐT về việc giao
nhiệm vụ “Xây dựng và thực hiện đề án tăng cường công tác giáo dục về tài nguyên
và môi trường biển, hải đảo vào chương trình giáo dục các cấp học và các trình độ
đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2010 - 2015”.
Góp phần thực hiện nhiệm vụ trên, từ năm 2010 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã chỉ đạo các Vụ bậc học, Trường Đại học và Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam nghiên cứu biên soạn tài liệu về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cho giáo
lục 1) gồm 10 câu hỏi liên quan đến biển đảo Việt Nam, tổ chức cho 100% cán bộ,
giáo viên nhà trường cùng tham gia.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đã có sự quan tâm về
biển đảo, trong quá trình giảng dạy đã tích hợp nội dung giáo dục trong một số môn
học, một số hoạt động ngoài giờ lên lớp và đã có ý thức tìm hiểu về biển đảo từ các
nguồn tư liệu như tài liệu, sách báo trong thư viện nhà trường, qua các phương tiện
thông tin đại chúng và qua mạng internet. Tuy nhiên, kiến thức về biển đảo về Việt
Nam của giáo viên còn hạn chế. Việc cập nhật thông tin và tìm tòi, nghiên cứu chưa
thường xuyên. Giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng nội dung
11
kế hoạch dạy học tích hợp và đặc biệt còn lúng túng về phương pháp. Vì vậy hiệu
quả việc tích hợp nội dung giáo dục biển đảo chưa cao.
Ngoài ra, chúng tôi phỏng vấn trực tiếp các giáo vên, đa số ý kiến đều cho
rằng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích hợp nhằm giáo dục ý thức về chủ
quyền biển, đảo tổ quốc cho học sinh là cần thiết song chưa có phương pháp hiệu
quả để nâng cao việc giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh.
3.3. Thực trạng về học sinh
Ngay từ tuần học đầu tiên của năm học, chúng tôi đã tổ chức khảo sát
đối với 100% học sinh từ lớp 2 đến lớp 5. Phiếu khảo sát gồm 11 câu hỏi liên
quan đến các vấn đề về biển đảo (phụ lục 2).
Kết quả khảo sát cho thấy có đến trên 90% số học sinh tỏ ra rất hứng thú với
chủ đề biển, đảo; thích thú khi được giáo viên lồng ghép kiến thức kết hợp với đồ
dùng trực quan và mong muốn nhà trường tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa để
các em được tìm hiểu thêm nhiều kiến thức về biển đảo cũng như thể hiện tình cảm
của mình với quê huơng, đất nước.
Điều này cho thấy nhu cầu tìm hiểu về thông tin biển, đảo của giáo viên, học
sinh ta là rất cao. Cần có tài liệu về biển, đảo Việt Nam cũng như các hoạt động giáo
dục thích hợp đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của cán bộ giáo viên và học sinh. Chính vì
Như chúng ta đã biết, giáo viên là người tham gia trực tiếp vào quá trình giáo
dục. Do vậy, muốn có chất lượng giáo dục tốt đòi hỏi trước tiên là đội ngũ giáo viên
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cao, tinh thần trách nhiệm và lòng tâm
huyết với nghề nghiệp. Chính vì thế, ngoài việc tạo điều kiện cho giáo viên tham gia
học các lớp đào tạo nâng cao trình độ trên chuẩn (hiện nay 100% giáo viên nhà
trường đạt trình độ trên chuẩn, trong đó 62,7% Đại học; 37,3% Cao đẳng), nhiệm vụ
của mỗi nhà trường, tổ chuyên môn trong công tác bồi dưỡng tại chỗ là rất quan
trọng. Để giáo viên có thêm kiến thức về biển đảo, nhà trường yêu cầu mỗi giáo viên
tích cực trang bị kiến thức bằng nhiều hình thức:
- Tham gia các lớp tập huấn kiến thức về biển đảo: Yêu cầu 100% giáo viên
tham gia tích cực các lớp tập huấn nói chung và về biển đảo nói riêng do các cấp tổ
chức, qua đó nắm chắc các kiến thức như: Khái quát về vùng biển, hải đảo nước ta;
Tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; Chủ quyền biển, hải đảo Việt Nam; Vai trò
của biển, hải đảo đối với an ninh quốc phòng, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và
đời sống nhân dân; Tình hình khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo; Giáo dục ý thức về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo của
Tổ quốc; Ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo. Nội dung kiến thức liên
quan đến giáo dục biển đảo đang được cập nhật theo công ước Liên hợp quốc về
Luật biển kí kết năm 1982, có hiệu lực vào năm 1984; Hiệp định về phân định vịnh
Bắc Bộ được Việt Nam và Trung Quốc kí ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh. Những nội
dung giáo dục về biển đảo đã được Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ ngoại giao đọc và
cho ý kiến góp ý.
13
- Tìm hiểu các nội dung qua mạng Internet: Mạng Internet là một kho tư
liệu vô cùng rộng lớn giúp giáo viên có đầy đủ các thông tin cần thiết. Chính vì vậy
trong các chuyên đề hướng dẫn giáo viên về công nghệ thông tin, nhà trường luôn
yêu cầu giáo viên được thực hành cách khai thác các thông tin trên mạng. Ngoài các
với 125 thắng cảnh. Biển đảo Việt Nam có vai trò to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ và
14
xây dựng đất nước hiện nay. Vì vậy tuyên truyền, giáo dục chủ quyền về biên giới,
biển đảo là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường. Đó cũng là đòi
hỏi cấp thiết của thực tế đời sống xã hội hiện nay.
Đối với bậc tiểu học, theo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH năm học
2013 - 2014 cũng như năm học này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường
tiểu học phải “Tiếp tục thực hiện tích hợp dạy học Tiếng Việt và các nội dung giáo
dục (bảo vệ môi trường; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, hải đảo …) vào các môn
học và hoạt động giáo dục. Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo, việc tích hợp
cần đảm bảo tính hợp lí, hiệu quả. Ở bậc tiểu học, giáo dục về biển, đảo Việt Nam có
thể thực hiện trong giờ chính khóa của nhiều bộ môn như Tiếng Việt, Tự nhiên & Xã
hội, Lịch sử, Địa lí, Khoa học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Giáo dục
về biển, đảo thông qua những nội dung có liên quan đến biển đảo trong từng môn
học. Tùy theo nội dung, đặc điểm, khả năng tích hợp giáo dục biển đảo mà lựa chọn
mức độ tích hợp tích hợp với hai cấp độ: toàn phần (có chủ đề riêng về biển đảo Việt
Nam); bộ phận (bài có nội dung lồng ghép về biển đảo Việt Nam) nhằm mục đích
giúp học sinh hiểu được vị trí địa lí, chủ quyền của biển đảo nước ta, nêu được tầm
quan trọng của biển đảo đối với chủ quyền lãnh thổ, đối với sự phát triển kinh tế của
đất nước cũng như giáo dục các em lòng yêu nước, yêu biển đảo quê hương, có thái
độ vào việc đúng đắn góp phần bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc.
Chính vì vậy, khi tổ chức triển khai nhiệm vụ năm học, Ban giám hiệu nhà
trường đã nhấn mạnh yêu cầu và nội dung tích hợp giáo dục biển đảo tới toàn thể
cán bộ, giáo viên để mỗi đồng chí nhận thức một cách sâu sắc nhiệm vụ của mình,
thực hiện nghiêm túc trong giảng dạy và giáo dục học sinh.
4.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên nắm chắc nội dung,
phương pháp và các địa chỉ tích hợp giáo dục biển đảo trong các môn học.
Đầu mỗi năm học, chúng tôi đã chỉ đạo các tổ chuyên môn rà soát nội dung,
trong soạn, giảng và sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học.
* Chỉ đạo xây dựng và khai thác kho tư liệu dùng chung:
Việc xây dựng kho tư liệu dùng chung có ý nghĩa quan trọng. Nó giúp giáo
viên có vốn tư liệu phong phú, tiện sử dụng, không tốn kém nhiều về kinh phí, có thể
lựa chọn để giảng dạy có hiệu quả cao nhất.
Cùng một tư liệu có thể sử dụng vào giảng dạy nhiều môn học, nhiều lớp học,
tùy thuộc vào cách khai thác cho phù hợp. Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên xây dựng
kho tư liệu dùng chung, các tư liệu được chia thành hai loại:
- Đồ dùng, phương tiện vật chất như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, mô hình,...
được sắp xếp trong phòng thiết bị.
16
- Tư liệu điện tử được lưu trong máy tính, trên các đĩa CD của phòng Thiết bị
của Nhà trường. Việc lưu tư liệu được tổ chức thành các thư mục, theo lớp, theo môn
học.. Những hình ảnh, video, clip được đặt tên để tiện cho việc tìm kiếm.
Để xây dựng kho tư liệu điện tử, chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên tự chụp ảnh,
quay video qua những lần đi tham quan, du lịch như biển Hạ Long, Đồ Sơn, Nha
Trang, Cửa Lò, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Lăng Cô,... sau đó xử lý để đảm bảo chất lượng
sử dụng. Ngoài ra một nguồn tư liệu quan trọng được sưu tầm từ mạng Internet, các
video, các bộ phim tài liệu về biển, đại dương, các tài nguyên trên biển, các ngành
khai thác tài nguyên của biển,.... cũng được tập hợp theo các tháng về kho tư liệu để
mọi người cùng sử dụng chung.
4.6. Biện pháp 6: Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức chuyên đề dạy học, tổ
chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp có tích hợp nội dung giáo dục biển đảo.
* Tổ chức chuyên đề dạy học có tích hợp nội dung giáo dục biển đảo:
Để giáo viên nắm chắc hơn phương pháp dạy học tích hợp giáo dục biển đảo,
ban giám hiệu đã chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức các chuyên đề theo đúng quy
trình, sau các tiết dạy thực hành, tổ chuyên môn rút kinh nghiệm, thống nhất phương
pháp và có kế hoạch kiểm tra việc thực hiện của giáo viên.
Tổ chức trò chơi “ đưa tôi về đúng địa chỉ”, trò chơi hái hoa dân chủ, đố vui về
biển đảo. Các hội thi: kể chuyện về biển đảo, thi đố vui, thi mở rộng vốn từ về biển
đảo, vẽ tranh, hát múa, hùng biện về biển đảo. Tổ chức tham quan, dã ngoại để tìm
hiểu về biển đảo thân yêu xoay quanh các chủ đề: các thắng cảnh, các đảo và quần
đảo, huyện đảo, thành phố ven biển, tài nguyên biển đảo,... nhằm tạo sân chơi sôi nổi,
hấp dẫn và lôi cuốn đa số học sinh toàn trường tham gia.
- Các hoạt động ngoài giờ lên lớp bổ trợ:
Ngoài việc dạy - học các kiến thức về giáo dục biển đảo qua các tiết học, các
buổi sinh hoạt tập thể toàn trường, các hoạt động khác cũng có tác dụng bổ trợ kiến
thức về biển đảo cho giáo viên, học sinh đã được chúng tôi chỉ đạo làm tốt như sau:
+ Xây dựng tủ truyện dùng chung (Thư viện lớp học) và tổ chức tốt công tác
tuyên truyền sách, tổ chức đọc sách của thư viện nhà trường trong đó có các tư liệu,
câu chuyện về biển đảo.
+ Tận dụng không gian các sảnh hành lang, tường bao để treo tranh cổ động
có nội dung tuyên truyền, giới thiệu về biển đảo vừa có tác dụng làm sinh động thêm
không gian trường học, vừa giáo dục học sinh lòng tự hào và ý thức, trách nhiệm giữ
gìn vào bảo vệ biển đảo quê hương.
+ Tổ chức cho giáo viên, học sinh tham gia các hội thi có nội dung về biển
đảo.
Đối với giáo viên: Năm học 2013 - 2014, nhà trường có 100% giáo viên tham
gia Hội thi Tìm hiểu về Luật biển Việt Nam, đây là cơ hội để các đồng chí giáo viên
tìm hiểu kĩ hơn về Luật biển đảo, các kiến thức liên quan đến biển đảo. Kết quả có 2
bài thi giáo viên đạt giải cấp huyện, 1 bài đạt giải cấp tỉnh ( là 1 trong số 4 bài của
huyện đạt giải cấp tỉnh).
18
Đối với học sinh: Sản phẩm “Con tàu mơ ước” của nhóm học sinh lớp 4,5 đã
đạt Huy chương Đồng trong Hội thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng toàn quốc lần
Sau hơn 1 năm thực hiện, cuối kỳ 1 năm học 2014 - 2015, Ban Giám hiệu đã
có 1 bài khảo sát nhỏ đối với giáo viên và học sinh khối lớp 3,4,5 về kiến thức có liên
quan đến biển đảo ( đề bài - Phụ lục 6).
19
Sau khi khảo sát, chúng tôi thấy kiến thức chung về biển đảo Việt Nam cũng
như ý thức trách nhiệm, lòng tự hào về biển đảo quê hương của cả giáo viên và học
sinh được nâng lên rõ rệt. Kết quả cụ thể qua phân loại chất lượng bài như sau:
Đối tượng
Tổng
Tốt
Khá
Đạt yêu cầu
Chưa đạt
số bài
yêu cầu
Giáo viên
45
2/151= 1,3%
Khối 5
127
65/127=51,0%
46/127 = 36,1%
15/127 = 12,1%
1/127=0,8%
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
Sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục biển đảo
trong các hoạt động ở trường Tiểu học’’ của chúng tôi được nảy sinh từ thực tiễn
công tác, Sáng kiến này đã được áp dụng đem lại hiệu quả thiết thực cho nhà
trường. Các giải pháp trong sáng kiến chính là những việc làm thực tế nên dễ vận
dụng. Vì vậy Sáng kiến của chúng tôi có thể được nhân rộng đối với tất cả cán
bộ quản lý, giáo viên và học sinh trong tất cả các trường tiểu học trong toàn
quốc.
20
Phần 4: KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1. Khuyến nghị
* Đối với ngành giáo dục:
truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, những chiến công lịch sử Bạch
Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí Minh trong kháng
chiến chống Mỹ… Biển nước ta cũng là nơi sinh sống của hàng chục triệu
người dân đất Việt, là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược
trong bảo vệ và phát triển đất nước. Do vậy bảo vệ chủ quyền và phát huy tiềm
năng biển đảo là mệnh lệnh của Tổ quốc cho mỗi người Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam luôn ý thức được rằng biển đảo luôn là một phần
máu thịt rất thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc thân yêu. Vì vậy, vấn
đề giáo dục về chủ quyền biển đảo cho thế hệ trẻ hiện nay là vô cùng cần thiết
vì thế hệ trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước, hơn ai hết họ phải biết,
phải hiểu về lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử khẳng định chủ quyền biển
đảo nói riêng để từ đó khơi dậy, củng cố tình yêu Tổ quốc. Đây là nhiệm vụ vô
cùng quan trọng đối với giáo dục nước nhà.
Thực tế những năm qua, tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của mình, mỗi bậc
học trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân đã có những giải pháp thiết thực
trong chỉ đạo, thực hiện với mục đích nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức,
hun đúc tình cảm, củng cố niềm tin, lòng tự hào về biển đảo Việt Nam.
Cùng với các trường tiểu học trên toàn quốc, trong gần 2 năm qua, chúng
tôi đã mạnh dạn đi đầu trong việc tổ chức thực hiện nội dung giáo dục biển đảo
trong đơn vị mình trên cơ sở biết khai thác thế mạnh và tình hình thực tế của
nhà trường, địa phương. Với những giải pháp sáng tạo có tính thực tiễn cao,
sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục biển đảo trong
các hoạt động ở trường Tiểu học’’ đã đem lại hiệu quả đáng khích lệ. 100% cán
bộ giáo viên nhà trường có ý thức tìm tòi, nâng cao kiến thức về biển đảo,
thường xuyên nghiên cứu tài liệu, vận dụng sáng tạo các phương pháp, hình
thức để mỗi tiết học có nội dung tích hợp giáo dục biển đảo được sinh động,
hấp dẫn và có hiệu quả cao hơn.
Các em học sinh yêu thích các hoạt động, hứng thú học tập, tự hào về
quê hương đất nước. Đặc biệt cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường luôn
tích cực tham gia các việc làm thiết thực thể hiện trách nhiệm và tình yêu của
1.5
2
2.1
2.2
3
3.1
3.2
Nội dung
Phần 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
Phần 2: TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Phần 3: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Tổng quan về vấn đề
Lý do viết sáng kiến
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi sáng kiến
Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của vấn đề
Cơ sở lý luận
Cơ sở thực tiễn
Thực trạng về giáo dục biển đảo trong trường tiểu học
Công tác chỉ đạo của nhà trường
Đối với giáo viên
3.3 Đối với học sinh
Trang
2
3
4.4 Chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên nắm chắc nội dung, phương pháp
và các địa chỉ tích hợp.....
15
4.5 Chỉ đạo giáo viên chuẩn bị và sử dụng hiệu quả phương tiện, đồ
dùng dạy học; xây dựng kho tư liệu dùng chung
16
4.6 Chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức chuyên đề, các HĐNGLL
17
5 Kết quả thực hiện
19
24
5.1 Về thái độ của giáo viên và học sinh
5.2 Về kết quả giờ dạy và chất lượng học tập của học sinh
6 Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
Phần 4: KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1 Khuyến nghị
2 Kết luận và khẳng định giá trị của sáng kiến
25