STT
I
1
2
3
4
II
1
2
3
MỤC LỤC
NỘI DUNG
MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trang
1
1
2
2
2
Giải pháp 7: Tăng cường công tác kiểm tra chế độ ăn và nuôi
dưỡng- chăm sóc trẻ:
Hiệu quả của SKKN
9
8
9
10
11
III
1
2
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị
I. MỞ ĐẦU
12
13
15
16
17
17
18
bước vào bậc học phổ thông một cách vững chắc nhất.
Song thực tế hiện nay vẫn còn một số giáo viên và phụ huynh chưa quan tâm
đúng mức đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, kiến thức nuôi dạy trẻ còn hạn chế,
do đó tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng, thấp còi mắc các loại bệnh như: viêm phế
quản, sâu răng…còn quá nhiều.
Với tầm quan trọng đó đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ văn hoá, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có phẩm chất đạo đức như một người mẹ yêu con.
Họ chính là lực lượng lao động nâng cao hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ của nhà
trường. Người cán bộ quản lý phải biết phát huy được nội lực đội ngũ, tạo điều kiện
cho họ được cống hiến sức mình, biết động viên khích lệ và xây dựng các phong trào
thi đua thường xuyên, có hiệu quả cao. Đồng thời xây dựng khối đoàn kết để tạo nên
sức mạnh tổng hợp của một tập thể sư phạm, xây dựng nhà trường phát triển vững
mạnh. Chính vì vậy, năm học 2015 - 2016 tôi đã chọn cho mình đề tài đi sâu vào
2
nghiên cứu đó là “Một số giải pháp chỉ đạo thực hiện hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Thiệu Thành”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Mục đích của đề tài là nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường
Mầm non Thiệu Thành đạt kết quả cao và phát triển toàn diện về mọi mặt.
Giúp cho đội ngũ cán bộ giáo viên nâng cao kiến thức dinh dưỡng và công tác
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non đạt kết quả cao hơn.
Đề cập đến một số cơ sở khoa học của công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của
trường MN Thiệu Thành
Chỉ ra thực trạng về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của trường MN Thiệu
Thành. Đề xuất một số kinh nghiệm để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc
nuôi dưỡng tại trường MN Thiệu Thành.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu “Một số giải pháp chỉ đạo thực hiện hoạt động nhằm nâng cao chất
dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi cô nuôi phải luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá ra những
món ăn ngon, mới lạ, hấp dẫn và phù hợp với trẻ để chế biến cho trẻ ăn tại trường.
Phải tuyên truyền và phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh về công tác chăm
sóc, giáo dục và nuôi dưỡng trẻ.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
a. Tình hình nhà trường:
Trường Mầm non Thiệu Thành là trường đã được qui hoạch thành một khu
trung tâm thuận tiện cho việc phụ huynh đưa đón trẻ đến trường.
Phòng học có diện tích đủ để trẻ hoạt động theo điều lệ trường mầm non, nhà
trường mua sắm thiết bị đồ dùng phục vụ bán trú tương đối đầy đủ.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn quan tâm đến giáo dục đặc biệt là giáo dục
Mầm non. Bên cạnh đó còn được sự quan tâm của các cấp các nghành luôn kề vai,
sát cánh ủng hộ nhà trường trong mọi lĩnh vực, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể
dục thể thao...
Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có: 24 đồng chí.
Trong đó: CB quản lý 03 đ/c; giáo viên 14đ.c; nhân viên 07 đ/c
Đại học: 11 đ/c; Cao đẳng: 02 đ/c; Trung cấp: 11đ/c.
Số lượng học sinh trong độ tuổi được huy động ra lớp cuối năm học: 274 cháu.
100% giáo viên có trình độ chuẩn trở lên, nhiệt tình, tâm huyết với nghề luôn
giúp đỡ lẫn nhau tạo điều kiện cho việc học hỏi kinh nghiệm từ các bạn đồng nghiệp.
Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ để thuận lợi cho việc dạy và học. Cảnh quan
nhà trường thoáng mát, có cây che bóng mát.
Một số phụ huynh đã quan tâm đến giáo dục mầm non, luôn phối hợp chặt chẽ
trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
Giáo viên trong trường đã đạt chuẩn và trên chuẩn, yêu nghề mếm trẻ, luôn
quan tâm đến chất lượng giáo dục của nhà trường
b. Thuân lợi:
Nhà trường có qui mô rộng rãi thoáng mát, môi trường xanh, sạch, đẹp cơ sở
vật chất trang thiết bị phục vụ chuyên môn và công tác nuôi dưỡng tương đối đầy đủ
như bếp một chiều, có hệ thống nước sạch, có vuờn rau sạch phục vụ trẻ ăn bán trú
Cân nặng
Cao
Kênh
Kênh
hơn
SDD
bình
so
(Dưới
thường -2 và
với
-3)
tuổi
32
08
0
Chiều cao
Kênh
Cao
Kênh
bình
hơn
thấp còi
thường
tuổi
Trẻ
mắc
bệnh
0
89.4% 10.6%
0
18
Kết quả trên ta thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng và mắc các loại bệnh đầu năm còn
rất cao, các cháu mắc bệnh phần đa là bị sâu răng và viêm phế quản.
3. Các giải pháp để thực hiện:
*Giải pháp 1: Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, nhân viên:
Để nâng cao chất lượng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh thì
việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên có kiến thức sâu rộng về dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm là cần thiết, từ những chăn trở dó bản thân tôi được phân công phụ
trách công tác nuôi dưỡng vì vậy tôi đã tham mưu với hiệu trưởng chú trọng trong
công tác bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên với các nội dung về
công tác nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh phòng bệnh- phòng dịch, đảm bảo
an toàn tuyệt đối cho trẻ.
* Đối với giáo viên:
Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng chăm sóc trẻ ăn các cô giáo chuẩn bị
giờ ăn cho trẻ phải đảm bảo yều cầu sau:
Chuẩn bị bàn ăn phải sạch sẽ, gọn gàng, đủ cho trẻ ngồi, trên bàn phải có đĩa
đựng cơm rơi, khăn ẩm để lau tay, bát thìa phải đủ so với trẻ.
Khi ăn các cô giáo phải đeo khẩu trang, trong khi cho trẻ ăn cô cần chú ý đến
những trẻ biếng ăn để động viên cháu ăn hết suất.
Thông qua giờ ăn các cô giáo dục cho trẻ phát triển về nhận thức, ngôn ngữ.
Ví dụ: Về nhận thức giúp trẻ nhận biết được những thức ăn như thịt, cá, trứng,
trẻ ăn sạch uống sạch
5
Về ngôn ngữ: Trẻ biết kể tên các thực phẩm mà trẻ được ăn như: Thịt, cá,
trứng….
họp, trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, đối với các cháu suy dinh dưỡng nhà
trường phối hợp với các phụ huynh tăng cường nguồn dinh dưỡng trong các bữa ăn
hàng ngày của trẻ để trẻ phát triển tốt.
6
Mặt khác tuyên truyền qua tranh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm của các cơ
quan chức năng cung cấp.
Ví dụ 1: Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe vào chủ đề Gia
đình. Ở chủ đề này chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp những nội dung sau:
Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi văn minh
trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay ngắn, không co
chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng, tránh đổ vãi, ăn từ tốn, nhai
kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.
Nhà trường phối hợp với trạm y tế xã khám sức khỏe định kỳ cho các cháu cụ
thể:
Khám sức khỏe cho các cháu 2 lần/năm, tẩy giun cho các cháu mỗi năm 1lần,
tổ chức cho các cháu suy dinh dưỡng uống vitamina. Qua khám sức khỏe phát hiện
cháu nào mắc bệnh, giáo viên thông báo ngay với phụ huynh biết để điều trị kịp thời
cho trẻ.
Kiểm tra sổ y tế: Theo dõi sức khỏe của cháu trên biểu đồ tăng trưởng, đối chiếu so
sánh rút kinh nghiệm cho việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Theo dõi sức khỏe trẻ theo đúng qui định: Các cháu đến trường được cân – đo 3
tháng/lần, các cháu suy dinh dưỡng tổ chức theo dõi biểu đồ hàng tháng. Sau mỗi lần
cân- đo các lớp đều ghi danh sách và thông báo kết quả để phụ huynh nắm được tình
hình sức khỏe của con em mình. Đối với trẻ sụt cân, đứng cân, chúng tôi yêu cầu giáo
viên tìm hiểu nguyên nhân từ cha mẹ trẻ để có sự phối hợp và có hướng khắc phục
trong cách chăm sóc trẻ tốt hơn.
Đặc biệt là tập luyện bồi dưỡng và chỉ đạo thực hiện tốt các công tác nâng
Hàng tuần hàng tháng họp lấy ý kiến đóng góp của giáo viên và mọi người xung
quanh để đúc kết kinh nghiệm cho những lần chế biến sau.
Kiểm soát chặt chẽ nguồn cung cấp thực phẩm: Nguồn gốc, thực phẩm, nguyên
liệu thực phẩm, khâu chế biến nấu nướng, khâu bảo quản vận chuyển. Phối hợp với
chính quyền địa phương kiểm soát các cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, cấm các
loại hàng rong bán quà xung quanh trường học khi không đủ điều kiện vệ sinh theo
quy định.
*Giải pháp 3: Phối hợp tuyên truyền kiến thức về nuôi dưỡng, chăm sóc sức
khỏe trẻ theo khoa học cho các bậc phụ huynh.
Công tác tuyên truyền huy động trẻ ăn bán trú tại trường góp phần giải phóng sức
lao động nói chung và phụ nữ nói riêng, yên tâm công tác đảm bảo thời gian lao động
và thời gian nghỉ ngơi, trẻ được ăn ngủ tại trường không phải đi lại mệt nhọc, vất vả,
đảm bảo an toàn trên đường đi, tạo điều kiện cho trẻ học tập, vui chơi, tham gia vào
các hoạt động được tốt hơn.
Công tác phối hợp tuyên truyền là một việc làm thường xuyên và rất cần thiết.
Giúp cho các bậc phụ huynh nắm được những phương pháp chăm sóc, nuôi dạy trẻ
theo khoa học. Vì vậy ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng một số nội dung kiến
8
thức cơ bản trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ để truyền đạt đến các bậc phụ huynh
học sinh cụ thể:
* Đối với phụ huynh:
Tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bậc phụ huynh đóng vai trò quan
trọng trong việc huy động trẻ ăn bán trú và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục
trẻ ở trường mầm non cũng như trong cộng đồng, tôi đã thực hiện nhiều hình thức đa
dạng, phong phú như: Họp phụ huynh, bảng thực đơn, góc trao đổi với phụ huynh
tầm quan trọng và sự cần thiêt của việc tổ chức cho trẻ ăn ngủ tại trường mầm non.
Để các bậc phụ huynh nắm bắt được kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khoẻ của
trẻ như phổ biến kiến thức nuôi con theo khoa học, nuôi con khoẻ dạy con ngoan,
Phụ huynh, giáo viên đăng ký bán thực phẩm sạch cho nhà trường theo giá thị
trường của từng thời điểm.
* Đối với giáo viên, nhân viên :
Hướng dẫn giáo viên thông tin bảng tuyên truyền tại lớp, thông qua giờ đón
trẻ, trả trẻ trao đổi với phụ huynh về tinh hình sức khoẻ, chế độ ăn uống, chăm sóc để
thống nhất phương pháp chăm sóc giáo dục, đề phòng một số bệnh theo mùa, bệnh
thông thường, trao đổi kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ trẻ và hinh thành nề nếp thói
quen cho trẻ trong ăn, ngủ, nề nếp sinh hoạt, chế độ luyện tập.
Tuyên truyền vận động tổ chức phong trào làm "Vườn rau của Bé", tại các
khoảng đất của trường. Các cô giáo tranh thủ giờ nghỉ trưa, cuối giờ tăng gia trồng
rau tại trường (Rau muống, rau ngót, rau cải, rau bắp cải, mướp, rau mồng tơi… theo
từng mùa vụ ) để tăng thêm khẩu phần ăn cho trẻ, đồng thời cũng làm cho cảnh quan
môi trường đẹp và xanh mát hơn.
Hàng ngày các cô giáo gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với phụ huynh trong lớp để
nắm tình hình sức khỏe của trẻ ở nhà trường qua giờ đón và trả trẻ. Qua đó cô giáo
tuyên truyền với phụ huynh cách chăm sóc trẻ ở nhà trường để gia đình và nhà trường
có sự phối kết hợp chăm sóc trẻ đạt hiệu quả.
Xây dựng các góc trao đổi phụ huynh và thông qua các hội thi như: “Trang trí
phòng nhóm”, “Tuyên truyền về dinh dưỡng”... tại trường để tuyên truyền kiến thức
cho các bậc cha mẹ để hiểu được tầm quan trọng của việc đưa trẻ ra trường mầm non
để học.
Đối với lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình
thường của trẻ rất quan trọng. Giáo viên của Trường Mầm non Thiệu Thành
thường xuyên cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát
triển bình thường của trẻ và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để
có thể phát hiện và can thiệp sớm.
*Giải pháp 4: Xây dựng thực đơn dinh dưỡng phù hợp với thực tế nhà trường,
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ:
Việc xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn cân đối hợp lý rất quan trọng. Được
sự quan tâm của Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thiệu Hoá đã tổ chức những buổi
- Nhóm chất bột đường: Bột, cơm cháo, mì, nui... giúp cung cấp năng lượng và
chuyển hóa chất trong cơ thể.
- Nhóm chất đạm: Thịt cá, tôm, cua, tàu hũ, các loại đậu... giúp xây dựng cơ bắp, tạo
kháng thể.
- Nhóm chất béo: Mỡ, dầu, bơ... giúp cung cấp dự trữ năng lượng và các vitamin tan
trong chất béo như vitamin A, D, E, K.
- Nhóm chất xơ: Rau củ, trái cây giúp chuyển hóa các chất và tăng cường chất đề
kháng, cung cấp vitamin.
Nước:
- Trẻ em cần nhiều nước hơn người lớn để chuyển hóa và đào thải chất bã, để điều
chỉnh nhiệt độ cơ thể... Vì vậy, nếu thức ăn quá cô đặc hoặc trẻ không được uống đủ
nước thì sự tiêu hóa và hấp thu của trẻ cũng sẽ bị kém đi.
- Nhu cầu nước của trẻ từ 10-15% tính theo trọng lượng cơ thể. Mùa nóng trẻ cần
lượng nước nhiều hơn mùa lạnh. Ví dụ: Trẻ cân nặng 10kg cần một lượng nước 1-1.5
lít/ngày.
An toàn thực phẩm - Đảm bảo dinh dưỡng:
- Thịt cá phải tươi sống, nhất là hải sản.
- Rau, trái cây phải tươi, sạch, đảm bảo an toàn không thuốc trừ sâu hay hóa chất.
11
- Thức ăn chế biến sẵn như: xúc xích, cá mòi, thị chà bông, phô mai, yaourt... nên lựa
chọn thương hiệu uy tín về chất lượng cũng như về an toàn thực phẩm.
- Thức ăn nấu chín nên ăn ngay. Nếu chưa dùng phải đậy nắp và để tủ lạnh, khi dùng
phải nấu lại vì có một số vi khuẩn vẫn phát triển ở nhiệt độ 5-100C.
- Rau và trái cây để tủ lạnh càng lâu càng mất chất dinh dưỡng.
- Thịt, cá, rau, trái cây rửa sạch dưới vòi nước. Không nên cắt nhỏ và ngâm trong
nước vì sẽ làm mất đi một số vitamin ta trong nước (vitamin C, nhóm B, axit folic...).
Riêng các loại củ (như khoai tây, cà rốt.v.v...) thì nên rửa nhẹ nhàng trong chậu nước
sau khi đã gọt sạch vỏ để giảm thiểu việc mất vitamin (vì các vitamin nằm ngay dưới
mua bán chặt chẽ.
Tổ chức giờ ăn phải đúng theo giờ quy định, giáo viên bao quát lớp, không dọa
nạt, quát mắng trẻ ,luôn theo dõi khuyến khích, động viên trẻ ăn ngon miệng, hết suất
12
ăn của mình,đặc biệt chú ý quan tâm đến những trẻ suy dinh dưỡng, ăn chậm, hay
ngậm thức ăn…
*Giải pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và xã hội hóa giáo dục nhằm xây
dựng mua sắm, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh dinh
dưỡng an toàn thực phẩm:
Tuyên truyền rộng rãi với các cấp các ngành mọi tầng lớp nhân dân về chủ
trương xã hội hóa giáo dục. Để họ nhận thức được xã hội hóa giáo dục vừa là quyền
lợi, vừa là nghĩa vụ của mọi người. Tham mưu với hiệu trưởng xây dựng kế hoạch,
chủ động tiến hành nội dung hoạt động xã hội hóa giáo dục, biết tận dụng vai trò của
hội đồng sư phạm biến Nghị quyết của hội đồng sư phạm thành thực tế trong giáo dục
mầm non. Mặt khác đa dạng hóa, chú trọng đến hiệu quả nuôi dưỡng chăm sóc giáo
dục trẻ tại trường mầm non .
Hàng năm nhân các buổi họp đầu năm nhà trường tổ chức tuyên truyền cho các
bậc phụ huynh về công tác phòng chống dịch bệnh và trong năm học 2015 -2016 dịch
bệnh thủy đậu và dịch Sởi bùng phát nhà trường phối hợp với trạm y tế xã tuyên
truyền đến phụ huynh về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống bệnh thủy đậu và
dịch Sởi, về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường.
Nhà trường cũng đã chủ động phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương
nhất là với trạm y tế xã để xây dụng nội dung và hình thức tuyên truyền cho hiệu quả.
Ban giám hiệu nhà trường cũng thường xuyên chỉ đạo các lớp trang trí thực hiện
bảng tin ở lớp học bằng các hình thức phù hợp, nội dung phong phú về công tác chăm
sóc sức khỏe của trẻ
Trao đổi trực tiếp với phụ huynh hàng ngày vào giờ đón và trả trẻ về tình hình
của bé. Mọi diễn biến, những khó khăn của trẻ thường được giáo viên trao đổi ngay
ngày, tuần có kế hoạch cụ thể để tổng vệ sinh phòng/ nhóm/lớp như: lau các cửa sổ,
giá đồ chơi, giặt chiếu, gối, phơi chăn, màn….
Sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng tránh bụi bẩn, muỗi ẩn nấp, giày dép để đúng nơi
quy định.
Đồ dùng: Chậu, khăn mặt, xoong nồi, ca cốc…trước khi sử dụng đều được
tráng qua nước sôi, hàng ngày phơi khô ráo.
Hàng tuần vào chiều thức 5 tổ vệ sinh môi trường tổ chức tổng dọn vệ sinh
trong ngoài lớp sạch sẽ, chăm sóc các vườn ra rau, bồn hoa xung quanh trường.
Thực hiện vệ sinh cá nhân cháu được sạch sẽ như: rửa tay, lau mặt trước khi
ăn, sau khi vệ sinh, không để móng tay dài, tắm rửa sạch sẽ chổ kín gió, giữ ấm mùa
đông và mát về mùa hè.
Nguồn nước sạch sẽ (nước máy), 100% trẻ phải được uống nước đảm bảo sạch
sẽ.
Chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ không nhổ bậy, vứt rác bừa bãi, đi tiểu tiện
đúng nơi quy định.
* Vệ sinh an toàn thực phẩm:
Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của
toàn xã hội, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ khâu
sản xuất đến khâu tiêu dùng, trên công tác này đòi hỏi có tính liên ngành cao và là
công việc của toàn dân. Đối với Ngành giáo dục nói chung, trong đó bậc học Mầm
non đóng vai trò rất lớn đến việc tổ chức khâu an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ ăn
bán trú tại trường Mầm non. Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan
trọng đối với sức khoẻ trẻ thơ nó góp phần nâng cao sức học tập, lao động của trẻ
trong xã hội ngày càng phát triển hiện nay.
Vào đầu tháng 9 hàng năm nhà trường tổ chức họp Ban giám hiệu nhà trường
và các đoàn thể thống nhất chế độ ăn uống, thực đơn ăn uống và mời các nhà cung
ứng thực phẩm về ký hợp đồng thực phẩm như: Thịt, rau, sữa, gạo… Nguồn cung cấp
thực phẩm phải có đủ điều kiện cung cấp thường xuyên và có trách nhiệm trước pháp
luật về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định.
Thực phẩm hợp đồng với nhà trường phải tươi sống như: Rau, thịt được nhận
Vệ sinh khi chế biến thực phẩm: Thực phẩm được sơ chế trên bàn, sau khi sơ
chế thì chế biến ngày, đun nấu kỹ đảm bảo chất lượng. Dụng cụ chế biến và phục vụ
ăn uống cho trẻ đầy đủ, dùng cho chế biến sống và chín riêng, đảm bảo vệ sinh.
Bếp nấu ăn đảm bảo đủ ánh sáng và không khí, bếp thực hiện quy trình một chiều để
đảm bảo vệ sinh.
Nhà bếp luôn luôn hợp vệ sinh, đảm bảo bếp không bị bụi, có đủ dụng cụ cho
nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho trẻ, có đủ nguồn nước sạch cho trẻ phục vụ ăn uống.
Phân công cụ thể ở các khâu: chế biến theo thực đơn, theo số lượng đã quy định của
nhà trường, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh.
* Vệ sinh nhân viên nhà bếp:
100% nhân viên nhà bếp được trang bị đầy đủ quần áo, mũ, khẩu trang, tạp dề…
100% được khám sức khỏe theo định kỳ, có sức khỏe tốt, không mắc bệnh
truyền nhiễm.
100% nhân viên không được đeo nhẫn, vòng, đồng hồ trong khi chế biến thức ăn
và rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn đúng quy định thường xuyên.
Đối với nhân viên nấu ăn phải thường xuyên kiểm tra sức khoẻ trước khi làm
việc vào đầu năm học mới, và sau sáu tháng làm việc tiếp theo. Trong quá trình chế
biến thức ăn cho trẻ đầu tóc gọn gàng, móng tay luôn cắt ngắn và sạch sẽ, tuyệt đối
không được bốc thức ăn khi chia cho trẻ.
15
Cọ rửa vệ sinh các dụng cụ chế biến thực phẩm hàng ngày sau khi sử
dụng.Thùng rác thải, nước gạo… luôn được thoát và để đúng nơi quy định, các loại
rác thải được chuyển ra ngoài hàng ngày kịp thời.
Nhân viên phải mặc trang phục trong khi nấu ăn: đeo tạp dề, đội mũ khi chế
biến, đeo khẩu trang, găng tay trước khi chia thức ăn và rửa tay bằng xà phòng tiệt
trùng.
Hàng ngày trước khi bếp hoạt động, nhà trường đã có kế hoạch phân công cụ
thể các nhân viên cấp dưỡng thay phiên nhau đến sớm làm công tác thông thoáng
Tuần 1
0
Nga (b): 24/0-28/08
Quyên: 05/10-09/10
Hòa; 02/11- 06/11
Nga (b):30/11-04/12
Quyên: 04/01- 08/01
Hòa: 01/02 - 05/02
Nga(b): 29/02-04/03
Hằng: 04/04 - 08/04
Yến: 02/05 - 06/05
Tuần 2
0
Hoa: 07/09 -11/09
Hà: 12/10 - 16/10
Hân; 09/11 - 13/11
Hạnh: 07/12-11/12
Hà: 11/01 - 15/01
Hân: 08/02 - 12/02
Hạnh: 07/03-11/03
Nga(a):11/4-15/04
Duyên: 09/05-13/5
Tuần 3
0
Hạnh: 14/09-18/09
Hằng: 19/10- 23/10
Yến: 16/11 - 20/11
Kiểm tra vệ sinh phòng nhóm lớp và vệ sinh nhà bếp (đồ dùng chế biến nấu ăn)
Phối hợp với phụ huynh học sinh cùng giám sát kiểm tra chất lượng ăn của trẻ
thường xuyên trong năm học.
Qua giải pháp trên tôi không chỉ đơn thuần là kiểm tra việc thực hiện giải pháp
chăm sóc – dinh dưỡng cho trẻ đã đề ra mà còn giúp giáo viên trong trường chấn
chỉnh lại việc làm của mình kịp thời và từ đó có ý thức làm việc cẩn thận, có trách
nhiệm, không qua loa chiếu lệ…
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Qua quá trình nghiên cứu và đưa ra các giải pháp trong quản lý chỉ đạo thực
hiên hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sức khoẻ cho trẻ trong trường mầm
non, nhà trường chúng tôi đã thu được rất nhiều kết quả hết sức khích lệ cụ thể như:
Chất lượng bán trú ngày càng được nâng cao. Các cháu được đảm bảo an toàn 100%
tại trường. Trẻ suy dinh dưỡng tỷ lệ giảm xuống còn dưới 5% thể hiện ở kết quả khảo
sát tình hình sức khỏe của 254 trẻ cuối năm học như sau:
KẾT QUẢ KHẢO SÁT CUỐI NĂM
Độ tuổi
Tổng số
trẻ
Nhà trẻ
Mẫu giáo
Cộng
Tỷ lệ
40
214
254
Cao
Kênh
bình
hơn
thấp còi
thường
tuổi
36
205
241
94.8%
04
09
13
5.1%
0
Trẻ mắc
bệnh
Sâu răng
03
43
46
18
* Đối với hoạt động giáo dục:
100% trẻ ra lớp được tiêm uống đầy đủ các loại vắc xin, đảm bảo an toàn, được
cân đo theo dõi biểu đồ, khám sức khỏe theo định kỳ, vệ sinh cá nhân sạch sẽ gọn
Những kết quả đạt được của nhà trường trong năm học 2015 - 2016, đó là bằng
chứng thực tiễn đã chứng minh sự cần thiết mà tôi đã nghiên cứu đưa ra các giải pháp
chỉ đạo thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là rất đúng đắn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong việc chỉ đạo thực hiện hoạt
động nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường Mầm Non Thiệu
Thành. Với những kết quả đã đạt được đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc,
giáo dục trẻ, từng bước xây dựng Nhà trường, chính quyền và nhân dân địa phương
tin tưởng. Sáng kiến kinh nghiệm trên của bản thân tôi đã được áp dụng tại trường
MN Thiệu Thành, thực sự đem lại hiệu quả.
Mặc dù đã cố gắng với tâm huyết của mình nhưng do khả năng có hạn, nên
sáng kiến kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế; rất mong được sự
góp ý, chỉ bảo của lãnh đạo nhà trường, của hội đồng khoa học, để bài viết của tôi
được hoàn thiện hơn.
2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường:
Tham mưu với cấp uỷ và chính quyền địa phương để làm tôt công tác xã hội
hoá giáo dục trong nhà trường.
* Đối với Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Thiệu Hoá:
Tạo nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường.
Mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, giúp cán bộ quản lý làm
giàu tri thức và kinh nghiệm chỉ đạo. Tăng cường mở các lớp bồi dưỡng những
kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, cách lựa chọn thực phẩm đến
cách chế biến, bảo quản thực phẩm, thêm không chỉ cho cán bộ, giáo viên trong
trường mầm non mà cả các bậc phụ huynh đều được nắm bắt. Để phối kết với nhà
trường và gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đạt hiệu quả cao.
18
Đề tài nghiên cứu chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp ở trường mầm non Thiệu
Thành, huyện Thiệu Hóa vì thế một số kinh nghiệm tôi đưa ra không tránh khỏi nhiều