MỤC LỤC
Trang
I.Phần mở đầu...................……………………...……………………….....…...3
1. Lý do chọn đề tài...........……………………………………………………....3
2. Mục tiêu và nhiệm vụ...............………………………………………….....…5
3. Đối tượng nghiên cứu...........……………………………………………….…5
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu....…………………………………………..…..5
5.Phương pháp nghiên cứu...................…………………………………..……...5
II. Phần nội dung..............……………………………………………………...6
1. Cơ sở lí luận.......……………………………………………………....……....6
2. Thực trạng…...............……………………………………………....…...…...6
2.1.Thuận lợi, khó khăn.............................................……………………………6
2.2. Thành công, hạn chế.......................…….…………………………………...7
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu.......................…………………………………….…….7
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động ...………………………………..….8
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra…...…..…..8
3.Giải pháp, biện pháp…...................…………………………………......……..8
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…..............……………………..…......…8
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp…................…….......9
3.3. Điều kiều để thực hiện các giải pháp……................………………..…..…20
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp………....…………….……….21
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu……............21
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm ……………...……..................………...21
III. Phần kết luận, kiến nghị………………......................................………...23
1
1. Kết luận……………………….....................…………………….....……….23
2. Kiến nghị……………………………….................……….....……………...24
Tài liệu tham khảo……………………………….............……………………..26
triển khác của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa
3
quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư
duy ký hiệu tượng trưng ở trẻ.
Sự lĩnh hội ngôn ngữ là rất cần thiết cho việc phát triển tình cảm, xã hội
và nhận thức của trẻ. Sự phát ngôn ngữ của trẻ ảnh hưởng đến khả năng học tập
trong trường Tiểu học, Trung học và cả trong tương lai. Ngôn ngữ và khả năng
đọc viết là rất quan trọng cho những thành công trong tương lai của con người.
Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ và chuẩn bị tiếng Việt
cho trẻ theo nguyên tắc cơ bản của Giáo dục có chất lượng. Trẻ em được học
trong một môi trường học tập thân thiện, phương pháp giảng dạy tích cực, cởi
mở và thân quen gần gũi. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em phụ thuộc rất lớn
vào sự giao tiếp của trẻ em và người lớn và trẻ em với nhau. Trong công tác giáo
dục trẻ mầm non, giáo viên cần phải có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ
cho trẻ một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động với
nhiều biện pháp khác nhau. Biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ 56 tuổi là cách thức thực hiện các nội dung phát triển các kỷ năng ngôn ngữ nhằm
giúp trẻ có khả năng diễn đạt rõ ràng mạch lạc, có văn hóa và chuẩn bị cho trẻ
vào lớp một.
Phát triển khả năng phát âm, rèn ngữ điệu lời nói, hình thành và phát triển
vốn từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, nghệ thuật cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm
non là một trong những hoạt động giáo dục hữu hiệu nhất để phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Trên thực tế có những giáo viên còn cứng nhắc, rập khuôn, máy móc,
chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức cho trẻ hoạt động, hạn chế cho trẻ
thực hành trãi nghiệm. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi. Giúp giáo viên hiểu biết thêm về những
hình thức tổ chức thực hiện, tích cực đổi phương pháp dạy học, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Bản thân tôi chọn đề tài “Một
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp trao đổi đàm thoại
5
+ Phương pháp trải nghiệm thực tiễn.
II. Phần nội dung
1. Cơ sở lý luận
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả phát triển về đạo đức, chuẩn
mực hành vi văn hóa. Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao tiếp cho
phù hợp… không chỉ là sự bắt chước máy móc. Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp trẻ
mở rộng giao tiếp.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong
thơ ca, chuyện kể,trong cuộc sống hàng ngày. Trong cuộc sống hằng ngày sự tác
động của những lời nói nghệ thật nhẹ nhàng của cô giáo khi truyền cảm xúc của
tác phẩm văn học, như một phương tiện hữu hiệu nhất để phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Lứa tuổi Mầm non là giai đoạn phát triển ngôn ngữ siêu tốc.
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng có mục đích, nhiệm vụ, nội
dung, phương pháp cụ thể như các phương pháp hoạt động khác. Phát triển ngôn
ngữ cho trẻ được tích hợp trong tất cả hoạt động giáo dục trẻ. Việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói chung, trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng là rất quan trọng
đối với giáo viên mầm non. Đội ngũ giáo viên cần có những kiến thức, kỷ năng,
biện pháp, thủ thuật, biết tận dụng các cơ hội có được mới có thể nâng cao chất
lượng tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất.
2.Thực trạng
2.1. Thuận lợi, khó khăn
Trường mầm non Krông Ana là một trường trọng điểm của ngành học
mầm non. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi tương đối đầy đủ.
Đội ngũ giáo viên đa số đã có bề dày kinh nghiệm trong công tác giảng dạy. Có
trẻ biết cảm nhận, rung động trước cái hay, cái đẹp của tác phẩm của đời sống xã
hội.
Từ đó trẻ không những thích đọc thơ, đọc ca dao, đồng dao, thích kể
chuyện mà còn biết cách đọc thơ, kể chuyện diễn cảm, lời nói của trẻ rõ ràng,
mạch lạc, nghệ thuật, trẻ tự tin trong giao tiếp. Song nếu giáo viên không chịu
7
khó suy nghĩ, đầu tư xây dựng môi trường hoạt động cho trẻ, không có sự linh
hoạt sáng tạo khi vận dụng các nội dung biện pháp của đề tài thì việc tổ chức
hướng dẫn trẻ hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non vẫn
chưa đạt hiệu quả.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Với nội dung đề tài này đã đưa ra các biện pháp thực tiễn, dễ thực hiện.
Đã có sự lựa chọn nội dung, các phương pháp biện pháp và hình thức phù hợp
cho trẻ thực hành trải nghiệm để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tiến hành phân
tích tổng hợp tìm ra được những ưu điểm, hạn chế của giáo viên hay của trẻ, để
tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ có hiệu quả
hơn.
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Từ những khó khăn bất cập về việc cho phát triển ngôn ngữ trẻ 5 - 6 tuổi
các hoạt động giáo dục. Muốn thành công và hạn chế những vấn đề yếu kém, và
tìm ra được nguyên nhân
Để khắc phục, cần phải thường xuyên phân tích và tổng kết kinh nghiệm
giảng dạy. Cần có sự lựa chọn nội dung phương pháp, biện pháp và các hình
thức cho trẻ tiếp cận với hoạt động giáo dục. Tiến hành phân tích tổng hợp tìm
ra những nguyên nhân ưu điểm hạn chế của cá nhân hay tập thể sư phạm trong
quá khứ, để tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi trong các hoạt động
học tập và vui chơi ở trường mầm non được tốt hơn.
3. Giải pháp, biện pháp
phát âm đúng tất cả các âm vị tiếng Việt trong các từ, câu một cách rành mạch,
rõ ràng. Tiếp tục rèn luyện kỹ năng điều chỉnh giọng nói với cường độ, tốc độ
phù hợp với tình huống giao tiếp.
Nếu ở giai đoạn trước sử dụng rộng rãi biện pháp bắt chước thì giai đoạn
này giáo viên cần sử dụng biện pháp cho trẻ tập phát âm (sử dụng các bài tập –
trò chơi) Tuần tự tập cho trẻ phát âm tất cả các âm vị trong tiếng Việt. Các âm vị
9
khó phát âm như: r, s, x, l, m, n phải chú ý tập cho trẻ thường xuyên liên tục ở
mọi lúc mọi nơi.
Phần lớn trẻ tuổi mẫu giáo lớn đã nắm được và phát âm đúng tất cả các
âm vị của tiếng mẹ đẻ, phát âm đúng hầu hết các thanh điệu, biết phát âm đúng
và rõ các từ, biến đổi cường độ, ngữ điệu phù hợp, sử dụng các phương tiện biểu
cảm phát âm phù hợp…
Có một số trường hợp trẻ yếu không phát âm được hoàn toàn các âm vị,
thanh điệu, và phát âm sai một số từ khó, bỏ sót một số nguyên âm. Một số
không phân biệt được các âm gần giống nhau: s – x, l – m - n, r – d; chưa làm
chủ được cường độ, ngữ điệu.
Giáo viên cần tiếp tục hoàn thiện khả năng nghe lời nói cho trẻ, giáo viên
cần phát âm chuẩn xác, rõ ràng cho trẻ bắt chước phát âm theo, củng cố các kĩ
năng nói rõ đúng các từ, câu, sử dụng đúng ngữ điệu biểu cảm cho trẻ.
Giáo viên cần sử dụng các bài tập, trò chơi ngôn ngữ, các câu chuyện kể,
những bức tranh có chủ đề, những bài tập nói nhanh, câu đố… có chứa các câu
khác nhau để trẻ luyện nghe nói đồng thời rèn luyện ở trẻ tốc độ nói, phát âm, kĩ
năng điều chỉnh giọng nói…
Trẻ hát và nói cùng sử dụng một bộ máy phát âm. Vì thế luyện hát cho trẻ
đồng thời cũng là luyện âm thanh ngôn ngữ. Dạy trẻ hát tức là rèn luyện cho trẻ
khả năng điều khiển bộ máy phát âm của mình.
Các giờ nghe hát luyện tai nghe cho trẻ. Tai nghe âm nhạc khiến cho khả năng
thể nói rằng câu chuyện trở nên hấp dẫn nhờ giọng kể hấp dẫn, biết sử dụng ngữ
điệu thích hợp để diễn tả tính cách nhân vật. Trẻ tập trung chú ý cao độ vào
ngôn ngữ kể chuyện của cô, lắng nghe cách phát âm, ngữ điệu của cô, trên cơ sở
đó trẻ học được cách phát âm, dùng ngữ điệu thích hợp, và kể lại chuyện theo sự
sáng tạo của mình. Khi trẻ kể lại chuyện, cô cần uốn nắn cho trẻ cách phát âm
đúng các âm khó, sử dụng ngữ điệu thích hợp, đúng với tính cách nhân vật,
trong những tình huống cụ thể.
11
Ví dụ: Một số bài thơ, đồng dao có thể dùng để luyện phát âm các âm vị
khó cho trẻ như
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cụt leo ra leo vào
Hoặc: Lúa nếp là lúa nếp làng
Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng
Con kiến mà leo cành đào,
Hay câu đố: Rì rì rà rà
Leo phải cành cụt leo vào leo ra
Cõng nhà đi chơi
Là con gì? Con Rùa
* Biện pháp thứ 2: Hướng dẫn giáo viên hình thành và phát triển vốn từ
cho trẻ.
Có thể nói rằng đến 5 tuổi trẻ đã tích lũy vốn từ khá phong phú, không
+ Cô tiến hành hướng sự quan sát của các cháu vào mục đích đã đặt ra.
Ví dụ: Khi cho trẻ đi tham quan công viên hoặc trường tiểu học.Cô dự
kiến mục đích quan sát có thể là khung cảnh: (Cổng, đường đi, cũng có thể là
các loại cây cối, các loài hoa).
+ Tri giác của trẻ cần được gắn liền với những từ ngữ (cô đã chuẩn bị
trước). Tuy nhiên, cô cũng không hạn chế các từ ngữ do các cháu tự sử dụng.
+ Cô chú ý các cháu quan sát kĩ và được nói nhiều, các từ ngữ mới nêu
được nhắc đi nhắc lại, kết hợp với tri giác các sự vật hiện tượng.
+ Cần lưu ý cung cấp cả những từ thể hiện tính chất của sự vật như: Màu
hoa đỏ rực rỡ, cánh hoa dày, lá cây nhỏ, con đường kéo dài...
- Cũng cố kiến thức: bằng các bài thơ, câu đố, bài hát, cần củng cố các
kiến thức học được ở tiết học sau hoặc ở các hoạt động khác.
Cho trẻ xem tranh
Trẻ nhỏ rất thích xem tranh; những tranh đẹp có nội dung vừa phát triển
vốn từ, vừa giáo dục thẩm mĩ nghệ thuật cho trẻ. Khi miêu tả bức tranh, trẻ tiếp
thu thêm những từ mới, đồng thời huy động cả vốn từ cũ nữa.
13
Khi xem tranh, trẻ thường chú ý một cách tản mạn; trẻ tập trung vào
những gì mà trẻ thích thú nhất. Nhiệm vụ của cô giáo hướng dẫn sự quan sát của
trẻ theo trật tự. Đầu tiên là nhìn toàn bộ bức tranh để hiểu tranh vẽ ai, cái gì, sau
đó mới đi vào chi tiết. Sau cùng, cô lại miêu tả ngắn gọn về toàn bộ bức tranh.
Để làm được như vậy cô giáo cần hiểu rõ nội dung bức tranh trước khi hướng
dẫn trẻ.
Các biện pháp dùng lời
Trò chuyện với trẻ theo câu hỏi: Đây là biện pháp chính hướng dẫn trẻ
làm quen với thiên nhiên. Các câu hỏi có tác dụng hướng sự chú ý của trẻ tới đối
tượng cần nhận thức, dạy trẻ biết quan sát đối tượng một cách tổng thể cũng như
quan sát tỉ mỉ các đặc điểm, tính chất, mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng
dụng các biện pháp phù hợp để giúp trẻ hiểu nghĩa từ, nhất là những từ ngữ nghệ
thuật.
Để giải thích cho trẻ hiểu từ trong tác phẩm văn học bằng biện pháp này
thì trước hết cần phải chọn từ có nghĩa cụ thể. Có như vậy thì việc sử dụng đồ
dùng trực quan kết hợp với lời giải thích mới có hiệu quả.
Ví dụ: Cô định giải thích cả câu từ “phe phẩy” trong câu thơ “phe phẩy
quạt nan” của bài thơ “Giữa vòng gió thơm” thì cô phải đọc cho trẻ nghe cả câu
một đến hai lần hoặc cả một đoạn thì từ mới không bị tách rời khỏi ngữ cảnh, và
như vậy trẻ sẽ cảm nhận tốt hơn. Tiếp theo cô dùng biện pháp sử dụng đồ dùng
trực quan kết hợp với lời giải thích để giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ mà tác giả
dùng trong câu, trong bài thơ hay câu chuyện ấy.
Sử dụng các trò chơi học tập
Có thể sử dụng một số trò chơi học tập để phát triển vốn từ:
Trò chơi: Cái gì đã thay đổi
Trước mặt các cháu, cô bày một số đồ chơi. Yêu cầu các cháu nhắm mắt
lại, cô thay đổi vị trí của đồ chơi hoặc cất đi và bổ sung đồ chơi khác vào vị trí
đó. Yêu cầu trẻ mở mắt, quan sát và nói xem cái gì đã thay đổi. (ví dụ: Trong
vườn bách thú có thỏ, khỉ, hươu cùng chơi với nhau – Có một số cây cối, đu
15
quay, cầu trượt... Cô thay đổi vị trí của chúng phải, trái, trước, sau, bên cạnh...
Yêu cầu trẻ nhận xét).
* Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn giáo viên phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ
Ngôn ngữ mạch lạc là hình thức giao tiếp cơ bản của trẻ. Hình thức giao
tiếp này đã được hình thành ở cuối tuổi mẫu giáo. Trong quá trình giao tiếp, trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi đã bắt đầu sử dụng ngôn ngữ giải thích, đặc biệt là ngôn ngữ
mạch lạc để diễn đạt, nhấn mạnh ý muốn, sự hiểu biết của mình để người khác
có thể hiểu được trẻ muốn gì, nói cái gì?
Những tật nói ngọng này có thể sửa được khi người lớn (bố mẹ, ông bà,
cô giáo…) phát âm chuẩn và có ý thức uốn nắn cho trẻ. Nếu người lớn luôn phát
âm chuẩn, thì đến một lúc nào đó bộ máy phát âm của trẻ phát triển thì trẻ sẽ
khắc phục được tật nói giọng của mình.
Tật thứ hai thường gặp trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là tật nói lắp
(nói lắp bẩm sinh và nói lắp do tác động của những điều kiện bên ngoài). Trong
quá trình giao tiếp ta thường gặp một số trẻ do rụt rè, e ngại, do dự mà nói mãi
mới ra lời, hoặc quá vội vàng, lắp bắp khi nói năng… tất cả những hiện tượng
này sẽ dẫn đến tật nói lắp của trẻ.
Vấn đề đặt ra là giáo viên cần tập cho trẻ tự tin, bình tĩnh trong giao tiếp,
uốn nắn khi trẻ nói lắp, giúp trẻ hiểu được nói lắp là xấu. Đồng thời bản thân
giáo viên cũng không được nói lắp (giả tập theo trẻ) khi giao tiếp với trẻ.
* Biện pháp thứ tư: Hướng dẫn giáo viên phát triển ngôn ngữ (lời nói)
nghệ thuật cho trẻ qua thơ và truyện.
Văn học là một phương tiện có hiệu quả mạnh mẽ, đối với việc giáo dục
trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ cho trẻ và điều quan trọng là nó có ảnh hưởng to lớn
tới sự phát phát triển và làm phong phú lời nói của trẻ. Giáo viên là người đem
đến cho trẻ tác phẩm văn học như một tác phẩm nghệ thuật, mở ra ý nghĩa của
nó, truyền cho trẻ những thái độ, cảm xúc.
17
Đối với các nhân vật của tác phẩm, đối với những xúc cảm trữ tình của tác
giả có nghĩa là truyền đạt bằng ngữ điệu, thái độ của mình đối với các nhân vật.
Để làm được điều đó, trước khi cho trẻ làm quen , hiểu và rung động với tác
phẩm.
Giáo viên cần phải biết phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, và
tất nhiên, giáo viên phải nắm được kỹ thuật đọc và kể, phát âm rõ ràng, sử dụng
các phương tiện biểu cảm ngữ điệu (tốc độ, nhịp điệu, ngừng nghỉ, điều chỉnh độ
nhanh chậm, cường độ giọng...).
* Biện pháp thứ năm: Hướng dẫn giáo viên phát triển ngôn ngữ cho trẻ,
thông qua việc cho trẻ làm quen chữ cái.
Mục đích cho trẻ làm quen chữ cái không chỉ là giúp trẻ nhận biết được
mặt chữ để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú khi học tiếng
mẹ đẻ, làm tiền đề cho trẻ thích ứng với việc tập đọc, tập viết ở lớp 1 phổ thông.
Giáo viên cho trẻ làm quen chữ cái, vốn từ của trẻ được nâng cao, bởi vì
khi làm quen với chữ, trẻ không chỉ làm quen với các chữ ở dạng tồn tại tự nhiên
của chữ viết, mà các chữ đó được gắn vào các từ, thông qua các đối tượng cụ
thể, các từ đó có các âm đầu là các chữ cái đã học, nhằm rèn luyện cách phát âm
cho trẻ.
Qua việc làm quen với chữ viết còn giúp cho trẻ hiểu được mối quan hệ
giữa ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, trẻ hiểu thế nào là “đọc” và “viết” sau này.
Việc tìm kiếm các chữ cái khác nhau ở các vị trí khác nhau của từ, giúp
trẻ phát triển óc quan sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định.
Cho trẻ làm quen với chữ còn góp phần kích thích, phát triển tư duy, thể
hiện ở chỗ trẻ đã xác định được tính chất đặc điểm của chữ đó bằng cách tìm
kiếm các từ, tiếng thông qua các đồ vật. Trẻ tìm đúng các âm theo các chữ cái
mà trẻ đã nhận ra. Như vậy trẻ nhận ra chữ cái đó thông qua biện pháp phát âm
chứ không phải thông qua các mặt chữ.
Trong khi cho trẻ làm quen với chữ cái, giáo viên cần giúp trẻ một số kỹ
năng cầm bút, cầm sách, mở từng trang sách, tư thế ngồi của trẻ. Việc cho trẻ
làm quen chữ cái không chỉ thông qua các tiết học mà còn thông qua các hoạt
19
động khác nhau như hoạt động tạo hình (vẽ, xé, cắt dán các chữ cái). Đặc biệt là
các trò chơi, trò chơi phát triển giác quan, phát triển các cơ tay nhỏ của ngón tay
là để thuận tiện cho trẻ làm quen với việc cầm bút sau này.
Giáo viên cho trẻ làm quen với chữ cái phải tạo ra được hứng thú cho trẻ,
tránh làm thay cho trẻ. Không bắt trẻ tập viết vào một khuôn khổ nhất định,
pháp khác. Muốn thực hiện các biện pháp thành công cần có các giải pháp cụ thể
phù hợp với nội dung của biện pháp. Trẻ biết phát âm chuẩn, vốn từ của trẻ
phong phú, ngữ điệu, lời nói của trẻ mạch lạc, nghệ thuật, nếu như giáo viên biết
phối hợp các giải pháp và biện pháp với nhau để làm cho những tri thức mà trẻ
nhận được càng thêm phong phú và là động lực cho trẻ phát triển ngôn ngữ tốt
cho hiện tại và tương lai.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Qua điều tra và thăm dò ý kiến khi áp dụng các giải pháp, biện pháp đã có
100% giáo viên có khả năng sử dụng các biện pháp, giải pháp hiệu quả. Giáo
viên biết lựa chọn các nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hợp lý phù hợp
với tình hình thực tế của trường lớp.
Kỹ năng sử dụng các phương pháp, biện pháp và thủ thuật cũng góp phần
làm cho hiệu quả hoạt động cao hay thấp. Giáo viên có kỹ năng sử dụng điêu
luyện sẽ biến thành kĩ xảo. Kĩ xảo mới giúp cho giáo viên tích hợp được các nội
dung, phương pháp, biện pháp và các hình thức hoạt động trong lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ cho trẻ, hoặc tích hợp lĩnh vực này với lĩnh vực khác ở trường
mầm non.
Tuy nhiên, quá trình hình thành và rèn kỹ năng sử dụng các phương pháp,
biện pháp và thủ thuật cần phải được tiến hành liên tục và không ngừng linh
hoạt và sáng tạo của giáo viên. Có như vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non nói riêng sẽ không
ngừng đổi mới và phát triển.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Qua thực hiện một số biện pháp trên kết quả đạt đuợc như sau:
21
* Đối với giáo viên
Giáo viên 100% đã có kiến thức, kỹ năng thực hiện tổ chức phát triển
Loại trung
26//30 g/v = 86,6%
36,6%
4/30 g/v = 13,4%
36,6%
0
bình
0
0
b. Đối với trẻ
Trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng nội dung hoạt đông. Trẻ có kỹ năng phát
âm đúng, vốn từ phong phú, lời nói mạch lạc, nghệ thuật. Trẻ hứng thú tích cực
trãi nghiệm trong các hoạt động học tập và vui chơi.
Kết quả cụ thể:
Ký năng phát
Đầu năm
Cuối năm
Tăng
1
phát triển kỹ
năng
Trẻ chưa đạt theo
2
sự phát triển kỹ
năng
78/120h
/s
42/120
h/s
65%
120/120 h/s
100%
42 h/s
35%
35%
0
được bắt chước lời nói, được chủ động nói.
Nội dung phát triển ngôn ngữ phải hướng vào trẻ, đáp ứng các nhu cầu
phát triển của trẻ. Các hoạt động của trẻ được thiết kế theo hướng tích hợp và
tích hợp theo chủ đề. Thời lượng tiến hành một chủ đề linh hoạt, phụ thuộc vào
nhu cầu và hứng thú của trẻ.
Các hoạt động phát triển ngôn ngữ phải phù hợp với các điều kiện tự
nhiên, điều kiện văn hóa xã hội của từng vùng, miền và phù hợp với thực trang
của trường, của lứa tuổi. Giáo viên có thể tận dụng những hoàn cảnh thực tế và
điều kiện có s n của địa phương, của trường lớp: sử dụng các nguyên vật liệu
23
s n có, các nguyên vật liệu tái sử dụng thích hợp, an toàn với trẻ để hướng dẫn
trẻ tìm hiểu khám phá và làm ra các sản phẩm mới mang tính sáng tạo của trẻ.
Phát huy sự chủ động, sáng tạo của giáo viên trong việc xây dựng kế
hoạch giáo dục trẻ: linh hoạt trong việc xác định, lựa chọn và tổ chức những
hoạt động phong phú giúp trẻ hứng thú tìm hiểu khám phá theo nhiều cách khác
nhau, phù hợp với điều kiện cụ thể của trường lớp, của địa phương. Chú ý đến
việc học qua chơi nhằm hình thành hệ thống kiến thức và kỹ năng, cung cấp
những kinh nghiệm cần cho cuộc sống của trẻ.
2. Kiến nghị
- Bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên.
- Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi để tạo điều
kiện cho việc tổ chức hoạt động giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ được tốt
hơn.
Người viết
Lê Thị Hường
24