Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới - Pdf 20

Tiểu luận
Tìm hiểu về LPMT qua một thập
kỷ kinh nghiệm của thế giới
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
Mục Lục
A.GIỚI THIỆU CHUNG: 3
B.NỘI DUNG CHÍNH: 3
I. Sự khác nhau giữa các nền kinh tế mới nổi và nền kinh tế tiên tiến, đặc điểm của nhưng
nền kinh tế mới nổi: 3
II. Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới: 4
1. LPMT là gì? 4
2. Đối tượng nào áp dụng LPMT và làm như thế nào? 4
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến LPMT 7
4. Các nước đã thực hiện LPMT như thế nào? 12
III. Các lỗi mắc phải trong quá trình thực hiện, xem xét lại vấn đề thiết kế hoạt động: 13
1. Sự tương tác giữa thời gian mục tiêu, độ rộng phạm vi mục tiêu, điều khoản giải thoát và
sự lựa chọn mục tiêu lạm phát cơ bản: 13
2. LPMT trong giai đoạn chuyển tiếp từ lạm phát cao xuống lạm phát thấp: 14
3. Những ai nên đặt mục tiêu lạm phát trong trung hạn: 16
4. Vai trò của tỷ giá và giá các loại tài sản khác: 18
IV. Những vấn đề chưa được giải quyết: 21
1. Mục tiêu lạm phát dài hạn tối ưu: 22
2. Mục tiêu mức giá với mục tiêu lạm phát: (price-level versus inflation targets) 25
C. SAU MỘT THẬP KỶ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI, VẤN ĐỀ LPMT Ở VIỆT NAM
NHƯ THẾ NÀO? 27
I.Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia mới nổi: 27
II. Tìm hiểu về lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2000- 2010: 28
III. Lam phát muc tiêu năm 2011 là 7%, khó thực hiện được: 30
IV.Những điều kiện không thuận lợi để điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế lạm phát
mục tiêu ở Việt Nam: 31
V.Kết luận: 32

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 3
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
nhắc để có được những lý luận thuyết phục hay những đề xuất về chính sách có hiệu quả bao
gồm:
- Thể chế tài khóa, tài chính yếu kém.
- Thể chế tiền tệ với uy tín thấp.
- Tồn tại vấn đề thay thế tiền tệ (currency substitution) và đô la hóa tài sản nợ.
- Dễ bị tổn thương khi luồng vốn đột ngột chảy ra (rút vốn bất ngờ)
II. Tìm hiểu về LPMT qua một thập kỷ kinh nghiệm của thế giới:
1. LPMT là gì?
Về bản chất, mục tiêu lạm phát gắn liền với chỉ số lạm phát. Do đó, việc hình thành mục tiêu lạm
phát hàm ý xây dựng một chỉ số lạm phát cụ thể. Vấn đề đặt ra là LPMT được định nghĩa và
cách xác định như thế nào?
Chính sách mục tiêu lạm phát đòi hỏi phải được công bố về một chỉ số lạm phát và được xem
như mục tiêu ổn định giá cả trong những năm tiếp theo.
Theo wikipedia LPMT là một chính sách kinh tế mà trong đó, một NHTW dự toán và đưa ra
một tỷ lệ lạm phát và sau đó cố gắng để chỉ đạo đối với mục tiêu lạm phát thực tế thông qua việc
sử dụng các thay đổi lãi suất và các công cụ tiền tệ khác.
Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác về LPMT. Theo NHTW Châu âu ECB, LPMT là một
chiến lược CSTT nhằm duy trì việc ổn định giá cả bằng cách tập trung vào độ lệch dự báo lạm
phát từ một mức lạm phát đã được công bố. Họ tin rằng trong một chế độ LPMT, dự báo lạm
phát là trung tâm để hoạch định và thực thi chính sách.
2. Đối tượng nào áp dụng LPMT và làm như thế nào?
LPMT bắt đầu từ một thập kỷ trước, với những thông báo rộng rãi về các mục tiêu lạm phát ở
New Zealand và Chile. Theo tính toán của chúng tôi, tính đến tháng 11 năm 2000 đã ghi nhận 19
trường hợp quốc gia áp dụng LPMT, và rất đa dạng về kinh nghiệm bao gồm cả những nước
công nghiệp và các nền kinh tế mới nổi, và việc thay đổi và ồn định số lượng các quốc gia áp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 4
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
dụng LPMT, các quốc gia có LPMT chính thức và bán chính thức, các nước mới bắt đầu thực

Để hiểu rõ hơn phần này, chúng ta có thể quan sát bảng 2 phần phụ lục.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 6
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến LPMT.
Liệu có phải các nước thông qua LPMT có khác với các nước công nghiệp không sử dụng LPMT
về những điều kiện cơ cấu và hiệu năng nền kinh tế vĩ mô? Bài nghiên cứu sẽ giải quyết câu hỏi
này bằng cách so sánh mẫu gồm 18 nước áp dụng LPMT với nhóm 9 quốc gia công nghiệp
không áp dụng không áp dụng LPMT đã xác định ở trên. Bài viết tập trung vào mối quan hệ giữa
có (hoặc không có) một cơ cấu LPMT đặt ra và chuỗi các đặc điểm về cơ cấu, thể chế, nền kinh
tế vĩ mô. Các phân tích thực nghiệm ở đây tất yếu chỉ mới là những nghiên cứu sơ bộ bởi vì
không phải luôn luôn dễ dàng để quyết định xem có nên phân loại một quốc gia nào đó có cam
kết thực hiện LPMT hay không. Hơn nữa, việc xác định ngày chính xác để thông qua một chế độ
LPMT cũng khá khó khăn. Các quan chức tại nhiều NHTW mà chúng tôi đã tham khảo ý kiến
thường xuyên đưa ra ngày thông qua LPMT sớm hơn bên ngoài làm. Sự không chắc chắn của
việc xác định ngày tháng thường theo sau từ thực tế là LPMT được thông qua dần dần theo thời
gian, làm cho việc xác định ngày thông qua đó vô cùng khó khăn.
Trong bài nghiên cứu, Frederic S. Mishkin và Klaus Schmidt-Hebbel đã thu tập dữ liệu gồm 1
mẫu 27 quốc gia trong thời kỳ 1990 -1999. Trong đó, trọng tâm là LPMT riêng biệt, biến chế độ
nhận giá trị của 1 khi chính sách LPMT được đặt ra; hoặc nhận giá trị của 0 khi CSTT khác được
đặt ra; và 1 bộ các biến có thể kết hợp với sự lựa chọn LPMT theo chế độ. Bộ các biến đó bao
gồm: một thước đo của việc sử dụng những chính sách truyền thống thay thế (một thước đo độ
rộng dải băng tỷ giá và mục tiêu giá của CSTT), điều kiện cơ cấu (mở cửa thương mại), các
thước đo về tính độc lập của NHTW (độc lập chính thức, các công độc lập, mục tiêu độc lập), và
các biến kinh tế vĩ mô khác (lạm phát và thặng dư từ chính sách tài khóa).
Bảng 3 gồm các báo cáo cross-country, bảng thống kê và mối tương quan giữa LPMT với các
biến liên quan.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 7
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
Dữ liệu phản ánh chênh lệch lớn ở tất cả các loại biến trong mẫu 27 quốc gia theo thời gian.
Bảng mối tương quan đôi khi rất khác với bảng tương quan cross-country, kể cả trường hợp thay

Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
Sau đây, chúng tôi xin phân tích một số yếu tố tác động đến kết quả mô hình.
a. Mối quan hệ giữa LPMT với Inf:
LPMT có mối tương quan dương đáng kể với mức lạm phát (chuẩn), một kết quả phản ánh rằng
LPMT đã được thông qua bởi các quốc gia, trên trung bình, đã có mức lạm phát cao hơn so với
nền công nghiệp không có LPMT. Thật vậy, hầu hết các nước mới nổi đã thông qua LPMT như
là một công cụ để kéo lạm phát xuống mức thấp chỉ còn một con số. Hầu hết các quốc gia áp
dụng LPMT bao gồm cả những uốc gia công nghiệp và mới nổi có LPMT, đã có những tiến bộ
lớn trong việc giảm lạm phát trong suốt thời gian hoặc trước hoặc sau khi thông qua LPMT.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 10
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
b. Tác động của chính sách tài khóa đối với LPMT:
Ổn định tài khoá là điều kiện cần thiết mang tính nền tảng để kiểm soát lạm phát, cũng như đảm
bảo cho sự vận hành của cơ chế LPMT. Một số nghiên cứu đã đưa ra nhận định: “Chính sách tài
khoá tắc trách sẽ làm tăng áp lực đối với các cơ quan tiền tệ trong việc tài trợ để trả nợ, bởi vậy
sẽ làm cung tiền và lạm phát tăng nhanh”. Nếu mất cân bằng tài khoá ở mức cao thì rốt cục sẽ
làm cho CSTT trở nên phụ thuộc vào các quyết định tài khoá (cái được gọi là: sự thống lĩnh của
chính sách tài khoá) và mục tiêu lạm phát hẳn là sẽ phải bị xoá bỏ hoặc thay đổi rất nghiêm
trọng.
Thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP: (fiscal surplus ratio to GDP)
LPMT tương quan nghịch với “tỷ lệ thặng dư từ chính sách tài khóa so với GDP”, một lần nữa
một kết quả theo sau việc có một nhóm các quốc gia không áp dụng LPMT bao gồm 9 quốc gia
công nghiệp, trên trung bình, thể hiện vị thế tài chính mạnh mẽ hơn so với 18 quốc gia có LPMT.
Tuy nhiên, nhóm này vẫn không đạt tới mức quy ước.
Mở cửa thương mại (Trade openness):
Mở cửa thương mại có nghĩa là 1 quốc gia hoặc 1 nền kinh tế được phép có những giao dịch
thương mại với những quốc gia hoặc với những nền kinh tế khác. Các hoạt động thương mại bao
gồm: xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay hoặc cho vay, nhận kiều hối từ
nước ngoài…
c. Tác động của CSTT đến LPMT:

Chúng tôi kết luận rằng LPMT đã chứng minh một khuôn khổ tiền tệ mới thành công mĩ mãn, cả
hai sự so sánh với các kinh nghiệm trước của các nước có LPMT và liên quan đến chế độ tiền tệ
thay thế được thông qua bởi một nhóm kiểm soát các nước công nghiệp rất thành công đã nằm
trong hiệp định tiền tệ khác trong suốt những năm 1990.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 12
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
III. Các lỗi mắc phải trong quá trình thực hiện, xem xét lại vấn đề thiết kế
hoạt động:
1. Sự tương tác giữa thời gian mục tiêu, độ rộng phạm vi mục tiêu, điều khoản
giải thoát và sự lựa chọn mục tiêu lạm phát cơ bản:
Hai thành phần chính của cơ chế LPMT bao gồm yếu tố thời gian (thời gian mục tiêu) và tính
linh hoạt của mục tiêu lạm phát (độ rộng mục tiêu).
+ Yếu tố thời gian:
Là khoảng thời gian vận hành cơ chế LPMT. Tùy vào CSTT của mỗi nước mà thời gian mục tiêu
sẽ là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn… Tuy nhiên trong cơ chế LPMT, người ta thường đề ra
mục tiêu lạm phát trong một khoảng thời gian ngắn cụ thể là mục tiêu lạm phát hàng năm.
Không những thế, thời điểm tiến hành chính sách LPMT cũng là hết sức quan trọng và cần thiết
để có thể đạt được những thành công nhất định ban đầu.
+ Yếu tố linh hoạt của LPMT:
Độ rộng của phạm vi mục tiêu cũng là một thành phần hết sức quan trọng trong cơ chế này. Độ
lệch khỏi mục tiêu LP là bao nhiêu để phản ứng lại với các cú sốc? Mục tiêu LP là một con số cụ
thể hay một cái khung nhất định? Bởi vì các cú sốc có thể ảnh hưởng lên tỷ lệ LP bất cứ khi
nào, những ảnh hưởng của CSTT là không ổn định, cho nên tỷ lệ LP thường có mức độ biến
động lớn để phù hợp với CSTT. Những tính toán cho thấy, mức độ biến động trong tỷ lệ LP là
tương đối cao, do đó, khung mục tiêu LP là tương đối rộng mới phù hợp với sự biến động trong
tỷ lệ LP.
Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố thời gian và tính linh hoạt phạm vi mục tiêu, cùng với một CSTT
tối ưu sẽ tạo nên sự thành công rất lớn trong việc điều hành cơ chế LPMT.
Việc đề ra mục tiêu lạm phát trong thời gian quá ngắn và một mục tiêu lạm phát hẹp có thể dẫn
đến sự khó kiểm soát và dẫn tới sự thất bại trong việc điều hành cơ chế LPMT mặc dù có một

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 14
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
năm ở 12,3% thấp hơn so với mục tiêu là 13%; lần đầu tiên NHTW công bố mức LPMT là 10%
vào năm 2000 trước khi Bộ tài chính đệ trình lên Quốc hội kế hoạch kinh tế của năm. Bắt đầu
tháng 4/2000, ngân hàng của Mexico đưa ra báo cáo về lạm phát, bản tài liệu về những diễn biến
về lạm phát đang xảy ra và cách ngân hàng Mexico dự kiến đạt được mục tiêu lạm phát, nhưng
không cung cấp dự đoán về chỉ số lạm phát và sản lượng. Trong báo cáo về lạm phát lần thứ ba,
công bố vào tháng 10/2000, ngân hàng Mexico công bố mục tiêu hằng năm, điều mà tiến về mục
tiêu dài hạn là 3% mà sẽ đạt được vào tháng 12/2003.
Sự tín nhiệm sụt giảm dần khi lạm phát ban đầu cao vì có khả năng nhiều hơn là công
chúng và thị trường không tin tưởng rằng NHTW quan tâm về việc đạt được mục tiêu đề
ra nếu việc xác minh phải chờ nhiều hơn một năm trong tương lai. Vấn đề này gây ehbra
một khó khăn cho NHTW trong việc thông qua MTLP trong khi mà lạm phát quá cao để
chọn một MTLP với phạm vi dài hơn một năm. Việc này làm NHTW rơi vào tình trạng
tiến thoái lưỡng nan do sự chậm trễ từ CSTT có khả năng lâu hơn phạm vi 1 năm. Một
giải pháp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này thì chỉ rõ hướng để đưa ra LPMT với
mục tiêu nhiều năm, đó là những điều mà NHTW của Brazil, Cộng hòa Czech, Mexico
đã từng làm từ năm 1998. Tuy nhiên, việc chỉ rõ hướng đi của MTLP hằng năm tạo ra sự
nguy hiểm mặc dù NHTW đang tiến tới LPMT trong dài hạn, có sự không chắc chắn là
trong quá trình kiểm soát lạm phát tại tỷ lệ lạm phát cao, điều đó có thể làm chệch hướng
về căn bản từ hướng đi nhiều năm. Vấn đề này có thể giúp giải thích tại sao NHTW Chile
không chọn chỉ rõ MTLP qua nhiều năm khi nó bắt tay vào việc tìm MTLP dưới chế độ
năm 1990.
Khi có sự chuyển tiếp từ cao đến thấp của lạm phát, xuất hiện lý do mạnh hơn cho việc
chấp nhận phạm vi LPMT rộng hơn để phản ánh một điều không chắc chắn của việc
kiểm soát lạm phát khi mà lạm phát ở mức cao từ ban đầu. Tuy nhiên, như đã thảo luận
trong tiểu mục trước, một phạm vi rộng của LPMT có thể dẫn đến vấn đề về sự tín nhiệm
bởi vì chính phủ có thể sẽ sẵn sàng tán thành tất cả mức lạm phát mà tỷ lệ lạm phát nằm
khoảng trên điểm giữa của phạm vi mục tiêu, nhưng dưới mức trần của phạm vi. Có một
điểm mục tiêu, mặt khác, làm trạng thái này trong một phần của chính phủ ít có khả năng

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 16
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
NHTW dễ tiếp cận với mục tiêu lạm phát dài hạn, có thể xác định được một cách chính xác độ
trễ tác động của CSTT đến lạm phát hơn so với các chính trị gia, có khả năng dự báo chuẩn xác
trên cơ sở các thống kê kinh tế tài chính.
NHTW cần có một mức độc lập tương đối để thực thi CSTT, mặc dù không có một NHTW nào
có thể hoàn toàn độc lập khỏi sự ảnh hưởng của chính phủ. Để thực hiện yêu cầu này, quốc gia
đó cần từ bỏ nguyên tắc ''ngân sách chi phối'', cũng như các vấn đề thuộc chính sách tài khoá
không được gây bất cứ ảnh hưởng nào đến CSTT. Điều này ngụ ý rằng các khoản vay từ NHTW
của chính phủ phải ở mức thấp nhất (hoặc tốt nhất bằng 0) và các thị trường tài chính trong nước
có đủ độ sâu để đáp ứng đủ các đợt phát hành nợ của chính phủ.
Theo các nhà kinh tế học Thomas Laubach, Rick Mickin và Adam Poxen, LPMT được hiểu là
một nền tảng cơ sở cho CSTT, được đặc trưng bởi việc NHTW công bố với công chúng một mục
tiêu định lượng chính thức (thường là một khung phạm vi hơn là một giá trị cụ thể) cho tỷ lệ lạm
phát trong một hoặc vài thời kỳ, dựa trên quan điểm ổn định giá cả là mục tiêu duy nhất của
CSTT trong dài hạn. Một trong những đặc trưng về quan điểm có tác động mạnh là công khai với
công chúng về những kế hoạch, mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách và trong nhiều
trường hợp là cả về cơ chế truyền tải trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của NHTW trong việc
theo đuổi mục tiêu. Do đó, khi đưa ra LPMT, NHTW sẽ phải chịu trách nhiệm chính thức, vô
điều kiện trong việc thực hiện CSTT để đạt được chỉ số mục tiêu dựa trên chỉ số dự báo lạm phát
do chính NHTW đưa ra.
Như vậy khi tiếp cận với việc công bố chỉ số LPMT, ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa các
quốc gia. Cơ quan công bố chỉ số LPMT có thể do NHTW tự mình công bố như Ôxtrâylia, Phần
Lan, Thụy Điển và Tây Ban Nha, cũng có thể là sự thoả thuận giữa NHTW và Bộ tài chính như
Canađa và Thụy Sỹ, hoặc như ở Vương quốc Anh, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm công bố và
Ngân hàng của nước Anh đóng vai trò cố vấn. Cũng có một số nước, chỉ số LPMT trước tiên
được NHTW thông báo và trong nhiều trường hợp do Chính phủ phê duyệt. Như vậy, ở đâu tính
độc lập của NHTW càng cao thì ở đó NHTW sẽ càng phải có trách nhiệm quản trị cơ chế LPMT,
bao gồm: xây dựng chỉ tiêu, công bố và thực thi.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 17

Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
Chỉ số trạng thái của CSTT - Moneytary Condition Index (MCI)
MCI là chỉ số kết hợp các biến số tài chính khác nhau, đặc biệt là lãi suất và tỷ giá hối đoái,
thành một con số duy nhất. Mục đích của MCI là cung cấp những thông tin tổng quát và dễ hiểu
về thị trường tài chính vào một thời điểm xác định. Ngoài ra MCI có thể dùng như một chỉ số
mục tiêu ngắn hạn của CSTT, nhất là ở các quốc gia có nền kinh tế nhỏ.
Ngân hàng Canada đã tiên phong xây dựng chỉ số này vào đầu những năm 1990. Chỉ số MCI còn
được New Zealand sử dụng phổ biến vào cuối những năm 1990. Trên lý thuyết chỉ số này tính
trên cơ sở trung bình có trọng số của lãi suất ngắn hạn thực và tỉ giá hối đoái thực, để bỏ qua
những tác động của lạm phát. Nhưng thực tế thì MCI tính bằng lãi suất ngắn hạn danh nghĩa và
tỉ giá hối đoái danh nghĩa vì hai chỉ số này phổ biến và dễ tính toán hơn.
Công thức tính MCI:
MCI
t
= (r
t
– r
0
) + a
2
/a
1
(e
t
– e
0
) +100
Trong đó:
r
t

Úc ưu tiên đặt LPMT hàng đầu và một chính sách tỷ giá linh hoạt; nhận ra mấu chốt vấn đề là
cú sốc tỷ giá thương mại, nên đã có những quyết định chính xác, giữ được lạm phát vẫn ở mức
kiểm soát.
Một ví dụ khác trong đó biến động tỷ giá đã được hạn chế là trường hợp của Chile vào năm
1998. Lúc đó Chile cũng theo cơ chế MTLP cũng bao gồm một tập trung vào việc hạn chế biến
động tỷ giá bằng việc có một “dải băng tỷ giá” với một chế độ tỷ giá hối đoái cố định có điều
chỉnh mà được buộc chặt vào với tỷ lệ lạm phát trong nước. Trong việc đối phó với sự kết hợp
tình hình tài chính và các cú sốc trong điều kiện mậu dịch gây ra do cuộc khủng hoảng châu Á,
NHTW Chile áp dụng CSTT thắt chặt và bảo vệ đồng Peso với một sự thu hẹp dải băng tỷ giá và
sự can thiệp vào thị trường ngoại hối. Khi nền kinh tế bị một cuộc suy thoái nhẹ vào cuối năm
1998, CSTT thắt chặt đã được đảo ngược khi lãi suất đã được hạ xuống và đồng peso được phép
giảm giá. Độ rộng dải băng tỷ giá đã được bãi bỏ vào tháng Chín năm 1999 và đồng peso được
thả nổi tự do kể từ đó.
b. Vai trò của giá các loại tài sản khác:
Các kết luận mà mục tiêu về tỷ giá hối đoái có thể sẽ làm xấu đi việc thực thi CSTT cũng được
áp dụng vào các giá cả tài sản khác. Rõ ràng, thiết lập công cụ CSTT để đạt những MTLP cần
xem như là một nhân tố trong các biến động giá tài sản. Những thay đổi trong giá tài sản giống
như thế này ở các cổ phiếu phổ thông, nhà ở hoặc trái phiếu dài hạn có những tác động to lớn lên
tổng cầu và đó là những cơ chế truyền tải quan trọng cho CSTT (ví dụ, Mishkin 1996b). Tuy
nhiên, việc ứng phó với những biến động giá tài sản này không thể may móc bởi vì, tùy theo
tính chất của những cú sốc theo giá các tài sản, CSTT tối ưu đáp ứng theo những cách khác nhau.
Hơn nữa, vì nhiều vấn đề giá tài sản, mục tiêu chỉ vào đó sẽ không tối ưu.
Một NHTW cũng rất mơ hồ về các biến mục tiêu cái mà khó để kiểm soát - và rõ ràng giá tài sản
như giá nhà đất và cổ phiếu rơi vào loại này. Các NHTW thường “dại dột” nếu họ thực hiện
kiểm soát giá tài sản và sau đó không thể làm như vậy. Hơn nữa, khi NHTW hành động như thể
họ có thể kiểm soát giá tài sản giống như thế trên các cổ phần phổ thông, công chúng thường bắt
đầu lo sợ rằng NHTW có thể quá mạnh, do đó tính độc lập của NHTW là nguyên nhân đẫn đến
những thắc mắc trong công chúng.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 20
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3

Mục tiêu lạm phát dài hạn như thế nào? Đó là câu hỏi then chốt đối với bất kỳ một NHTW
nào. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng: lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ ngược
chiều nhau, tuy nhiên nếu tỷ lệ lạm phát thấp thì mối quan hệ nghịch này không còn tồn tại nữa.
(theo Bruno & Easterly 1996)
Các nhà kinh tế học lỗi lạc khác như Martin Feldstein (1997) & William Poole (1999) đưa ra
những tranh cãi về mục tiêu lạm phát dài hạn ở mức 0% thì rất hấp dẫn. Thực vậy vì nếu mục
tiêu lạm phát lớn hơn 0% có thể dẫn đến mất uy tín của NHTW và gây ra sự bất ổn trong kỳ
vọng lạm phát, dẫn đến tâm lý tiêu cực về lạm phát. Tuy nhiên theo như những bằng chứng trong
bài viết của Bernanke & cộng sự (1999) cho rằng mục tiêu lạm phát nằm trong khoảng 0% - 3%
trong giai đoạn mở rộng sẽ không dẫn đến sự bất ổn về kỳ vọng lạm phát trong công chúng hay
sự mất tín nhiệm vào NHTW.
Sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp - Đường cong PHILIP:
Theo Philip trong ngắn hạn có sự đánh
đổi giữa lạm phát và thất nghiệp. Khi lạm
phát tăng cao thì tỷ lệ thất nghiệp giảm
xuống và ngược lại.
Theo Không có sự đánh đổi giữa lạm
phát và thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp
sẽ trở về với thất nghiệp tự nhiên cho
dù lạm phát có tăng bao nhiêu đi
chăng nữa.
Trong dài hạn lạm phát tăng hay giảm đều không ảnh hưởng đến nền kinh tế do có sự điều
chỉnh về tiền lương. Tiền lương sẽ giảm cho đến khi thị trường lao động Cân bằng. Ban đầu
thất nghiệp tăng nhưng do tiền lương điều chỉnh làm cho thất nghiệp giảm và thị trường lao
động Cân bằng.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 22
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
Do đó với lạm trên 0, khoảng 2% trong
ngắn hạn lạm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
trong ngắn hạn. Nhưng với mục tiêu kiểm

quỹ này sẽ làm gia tăng hậu quả của các lựa chọn đối nghịch bởi vì trong những trường hợp các
khoản lỗ từ các khoản cho vay có thể trầm trọng hơn. Bên cạnh đó thì sự sụt giảm trong giá trị
ròng làm gia tăng động cơ rủi ro đạo đức của người đi vay, họ sẽ chấp nhận mức rủi ro rất cao
bởi vì họ sẽ mất ít hơn trong trường hợp các khoản đầu tư xấu đi. Lập luận này cho thấy giảm
phát có thể làm gia tăng bất ổn tài chính ở các nước công nghiệp hóa thông qua cơ chế giảm phát
nợ (debt-deinflation mechanism), Ví dụ cho vấn đề này là những gì đã xảy ra ở Nhật trong thập
kỷ trước (Mishkin 1998 & Bernanke 1999).
Một lý do khác cho việc lựa chọn LPMT mà không gây ra giảm phát đó là giảm phát có thể làm
cho việc thực thi CSTT trở nên khó khăn hơn. Trong các thời kỳ giảm phát thường xuyên bắt
nguồn từ mục tiêu lạm phát ở mức quá thấp, lãi suất ngắn hạn sẽ thường xuyên chạm mức 0%,
như trường hợp gần đây của Nhật Bản trong cuộc Đại khủng Hoảng. Một lập luận mà một vài
nhà kinh tế học đưa ra là khi lãi suất chạm mức 0% thì CSTT sẽ trở nên vô hiệu (Summers là
một ví dụ nổi bật và gần đây các quan chức của Ngân hàng Nhật Bản đã sử dụng lập luận này để
chỉ ra rằng CSTT mở rộng có thể sẽ không hiệu quả nữa trong việc thúc đẩy sự phục hồi nền
kinh tế Nhật). Nhưng theo Melzer (1995) & Mishkin (1996) thì đây là một lập luận sai lầm.
CSTT thực thi qua giá cả nhiều loại tài sản khác nhau ngoài chứng khoán nợ ngắn hạn, vì vậy
ngay cả khi lãi suất ngắn hạn có bằng 0% đi chăng nữa thì CSTT vẫn có thể có hiệu lực và thực
sự là như vậy (xem Romer 1992).
Tuy nhiên chính sách tiển tệ sẽ trở nên khó khăn hơn trong thời kỳ giảm phát khi lãi suất ngắn
hạn chạm mức 0% bởi vì các hướng dẫn thường xuyên không còn thích hợp nữa trong việc thực
thi CSTT. Và trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về việc NHTW nên thực thi CSTT
một cách tối ưu nhất như thế nào đã tập trung vào những nguyên tắc Taylor (Taylor rules), theo
đó NHTW đưa ra các mức lãi suất ngắn hạn tùy vào khoảng cách đầu ra và lạm phát. Tuy nhiên
khi lãi suất chạm tới mức 0%, tất cả các nghiên cứu về quy tắc CSTT tối ưu mà đại diện là bài
nghiên cứu của Taylor (1999) sẽ không còn hữu ích nữa bởi vì lãi suất ngắn hạn không còn là
công cụ hữu hiệu của CSTT nữa. Cũng như trong môi trường giảm phát, các NHTW phải có khả
năng đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái bằng cách theo đuổi chính sách mở rộng và nâng cao
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 24
Tiểu luận Tài Chính Quốc Tế - chủ đề 3
tính thanh khoản, nhưng họ cần thực hiện tới đâu thì vẫn chưa biết được, và đó cũng là điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status