PHẦN II:
MỘT SỐ CHỦ THUYẾT XÃ HỘI HỌC HIỆN ĐẠI
1.Một số luận điểm gốc:
Lịch sử của thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học
như A.Comte, H.Spencer, E.Durkheim, V.Patero, A.Radcliffe-Brown,
B.Malinowski, T.Parson, R.Merton, Peter Blau
Về mặt thuật ngữ, chủ thuyết chức năng còn được gọi là thuyết chức
năng-cấu trúc hay cấu trúc-chức năng.Chủ thuyết chức năng nhấn mạnh đến
tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi
bộ phận đều có chức năng nhất định nhằm đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể
đó với tư cách là một cấu trúc tương đối bền vững và ổn định.
Parson và Merton được coi là tác giả của thuyết chức năng-cấu
trúc.Song, về sau, chính Parton đã thay vào đó là thuật ngữ thuyết hệ thống.
Chủ thuyết chức năng để chỉ một tập hợp gồm các lý thuyết cấu trúc,
các lý thuyết chức năng và các lý thuyết kết hợp chức năng-cấu trúc. Các lý
thuyết này tuy khác nhau về nhiều điểm nhưng đều thống nhất ở những luận
điểm gốc những phạm trù, khái niệm cơ bản và phương pháp luận nghiên
cứu.
Nguồn gốc lý luận:
Thứ nhất, truyền thống khoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định trật
tự của hệ thống với các bộ phận có quan hệ chức năng hữu cơ với chỉnh thể
hệ thống .
Thứ hai, truyền thống khoa học Anh với thuyết tiến hoá, thuyết kinh
té, thuyết vị lợi, thuyết hữu cơ phát triển mạnh.
Từ đó, nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội như một sinh thể
hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất
định tạo thành cấu trúc ổn định.
Comte là người đầu tiên đề ra hướng nghiên cứu tĩnh học xã hội để
tìm hiểu các quy luật duy trì sự ổn định, trật tự của cấu trúc xã hội. ông cho
rằng do thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận mà cấu trúc xã hội bị
rối loạn gây ra sự bất thường xã hội. Nhưng ông chưa sử dụng khái niệm
2.Một số khái niệm cơ bản:
Cấu trúc và hệ thống:
Một cách khái quát: cấu trúc là kiểu quan hệ giữa con người và xã hội
được định hình một cách ổn định, bền vững.
Khái niệm hệ thống nhấn mạnh tính chỉnh thể, tính toàn vẹn, tính
thống nhất của các thành tố.Gordon Marshal định nghĩa:”Hệ thống là bất kì
mối liên hệ có cấu trúc hay được hình thành của bất kì một số các yếu tố nào
mà hệ thống đó tạo thành một chỉnh thể hay một thể thống nhất”.
Cả hai khái niệm này đều nói tới một tạp hợp các thành phần, bộ phận
có mối liên hệ chặt chẽ, hữu cơ tạo thành một chính thể tồn tại trong mối
quan hệ tương tác, trao đổi với môi trường xung quanh.Và bất kì sự thay đổi
ở bộ phận nào cũng gây ra thay đổi đến bộ phận khác và toàn bộ các bộ phận
khác.Cả hai khái niệm này đều được triển khai trên các cấp độ khác nhau từ
vĩ mô đến vi mô.
Chức năng:
Chức năng là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng
mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vân
động của cả hệ thống.
Durkheim coi chức năng là các nhu cầu chung của cơ thể xã hội và bất
kì một sự kiện xã hội nào cũng có chức năng nhất định.
R.Brown chỉ ra rằng chức năng liên quan tới hiện tượng tâm lý và
hành vi cá nhân trong cộng đồng.
Parson dựa vào bảng phân loại các chức năng tức là các nhu cầu đã
chỉ ra thành phần cấu trúc của hệ thống xã hội.Chức năng còn được hiểu là
quá trình hoạt động đáp ứng nhu cầu, tạo ra lợi ích, thoả mãn nhu cầu của
chỉnh thể xã hội.
Có thể hình dung một chuỗi các sự kiện của chức năng như sau:
hệ thống>>nhu cầu>>chức năng>>bộ phận>>cấu trúc>>hệ thống.
Chức năng và loạn chức năng:
Đây là sự phân biệt những hệ quả tích cực có lợi cho sự trật tự, ổn
một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định, được hình thành
vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung
quanh.
Về mặt lý thuyết, Parson xem xét hệ thống trong một trục toạ độ ba
chiều : chiều cấu trúc, chiều chức năng, chiều kiểm soát.
Parson phân biệt ít nhất 4 cấp độ và thông qua quá trình xã hội hoá,
hành động của con người hình thành và biểu hiện trên các cấp độ hệ thống từ
cấp hành vi của cơ thể lên cấp nhân cách, cấp xã hội và cấp văn hoá. Đặc
điểm của từng cấp độ hệ thống:
- Cấp hệ thống văn hoá tương ứng với hệ thống biểu trưng.Biểu hiện
cụ thể là niềm tin tôn giáo, hệ ngôn ngữ, hệ các giá trị, chuẩn mực xã hội.
- Cấp hệ thống xã hội bao gồm tập hợp các cá nhân tương tác với
nhau trong các tình huống nhất định.
- Cấp hệ thống nhân cách có đơn vị cấu thành cơ bản là cá nhân, chủ
thể hành động.
- Cấp hệ thống hành vi bao gồm các quá trình sinh lý, vật chất hữu cơ
của đời sống con người mà quan trọng nhất là hoạt động thần kinh và hệ
thống vận động.
Tất cả các hệ thống hành động đều phải đương đầu với những vấn đề
chức năng, những nhu cầu của tổng thể, đó là sự thích nghi, hướng đích,
thống nhất và duy trì khuôn mẫu.
Sơ đồ lý thuyết AGIL
Theo Parson, hệ thống xã hội được cấu thành từ 4 tiểu hệ thống tương
ứng với 4 loại nhu cầu, chức năng cơ bản:
Một là, Thích ứng (Adaptation-A): Có chức năng cung cấp các
phương tiện, nguồn lực, năng lượng để thực hiện các mục đích đã xác định.
Đây chính là tiểu hệ thống kinh tế.
Hai là, Hướng đích (Goal attainment -G): Đóng vai trò xác định các
mục tiêu và định hướng cho toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện mục tiêu đã
định. Đây chính là hệ thống chính trị.
Quan niệm về chức năng:
Khái niệm loạn chức năng:
Merton đã chỉ ra những phản chức năng của thiết chế xã hội Và
những hệ quả đó làm cản trở, gây rối loạn, giảm khả năng tồn tại, thích ứng
của cấu trúc.
Để nhận diện sự rối loạn chức năng cần trả lời câu hỏi:”hệ quả của
một hiện tượng xã hội đem lại lợi ích hay gây tổn hại tới lợi ích của ai?”
Phân loại chức năng trội và chức năng lặn:
Merton chỉ ra cách phân tích chức năng là phải vượt qua quan niệm
thông thường về mục đích, ý nghĩa để xác định chính xác, khách quan tác
dụng của chúng.Khi tìm hiểu thiết chế và tổ chức xã hội cần chỉ ra hệ quả
chủ định, không chủ định.Trên thực tế, phải phân tích những tác động nhiều
chiều của nó đối với cấu trúc xã hội có liên quan.
Các cấu trúc chức năng thay thế:
Merton gọi những nhu cầu chức năng cần phải đáp ứng để xã hội vận
hành một cách bình thường là “những điều kiện tiên quyết về mặt chức năng
đối với xã hội”.Trên thực tế trong xã hội luôn có “các cấu trúc chức năng
thay thế nhau” trong việc đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho sự vận hành
và hoạt động xã hội.
Lý thuyết chức năng về sự sai lệch xã hội:
Theo Merton :Sự lệch chuẩn(anomie) là sự không phù hợp, sự lệch
pha giữa mục tiêu văn hoá và phương tiện được thiết chế hoá.Từ đó phân
biệt 5 kiểu hành động thích nghi với xã hội:
- Kiểu thoả hiệp: (++)Khi cả mục tiêu văn hoá và phương tiện được
chủ thể lựa chọn đều phù hợp với hệ giá trị chuẩn mực của xã hội, được xã
hội hoàn toàn chấp nhận.
- Kiểu đổi mới (+-) kiểu hành động nhằm mục tiêu được chấp nhận
nhưng bằng những phương tiện mà xã hội chưa hay không chấp nhận.
- Kiểu thích nghi (-+) Kiểu hành động tuận theo các phương tiện
được thừa nhận nhưng lại không nhằm vào mục tiêu văn hoá được xã hội
khoa học thực chứng trong việc xây dựng những định lý có thể kiểm chứng.
Theo ông, nhiệm vụ của xã hội học là phải chỉ ra được các tác nhân
cấu trúc của mối tương tác đó để hiểu sự thống nhất xã hội.
Hai kiểu cấu trúc xã hội:
Blau phân biệt 2 loại đặc điểm cơ bản của cấu trúc xã hội:
Đặc điểm thứ nhất là đặc điểm danh nghĩa (định tính) cho biết chất
của sự vật, hiện tượng xã hội.Từ đó, có kiểu cấu trúc xã hội không đồng
nhất.
Đặc điểm thứ hai là đặc điểm mức độ (định lượng).Từ đó có kiểu cấu
trúc xã hội bất bình đẳng.
Một số định đề xã hội học:
- Định đề tần suất tương tác tỷ lệ nghịch với quy mô nhóm:
Blau đặc biệt chú ý tới các yếu tố cấu trúc và tính cơ động xã hội tác
động tới sự liên kết xã hội.
- Định đề sự liên kết xã hội tỉ lệ thuận với sự không đồng nhất.
Định lý của Blau: quy mô nhóm nhỏ và sự không đồng nhất của nhóm
làm tăng mối liên hệ giữa các nhóm tức là làm tăng sự thống nhất xã hội.
- Định đề tương tác xã hội làm tăng sự liên kết xã hội:Sự giao kết và
tương tác hợp đồng góp phần củng cố mối liên hệ giữa các nhóm, còn sự
hợp nhất làm giảm mối liên hệ giữa các nhóm.
6.Hướng nghiên cứu cấu trúc hoá của Anthony Giddens:
A.Giddens sinh 1938 ở Bắc Luân Đôn, giáo sư xã hội học của trường
đại học ở Cambrigde và Đại học Tổng hợp California.Tác phầm : Chủ nghĩa
tư bản và lý thuyết xã hội hiện đại (1971), Cấu trúc giai cấp của các xã hội
tiên tiến (1973), Các quy tắc mới của phương pháp luận xã hội học (1976),
Các vấn đề trung tâm của lý thuyết xã hội học (1979), Lý thuyết xã hội và xã
hội học hiện đại (1978)
Quy tắc mới của phương pháp xã hội học:
Một là, những quy tắc về đối tượng của xã hội học.
Hai là, những quy tắc về hành động và cấu trúc.
tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập xã hội.
8. Hướng nghiên cứu hậu chức năng và chủ nghĩa chức năng mới:
Vài thập kỉ cuối thế kỉ XX trong xã hội học đã xuất hiện thuyết cấu
trúc-chức năng mới, thuyết chức năng hậu-Parson hay tân-chức năng luận và
chủ nghĩa chức năng mới. Đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa chức năng mới là
J.C.Alexander trong xã hội học Mỹ và N.Ludmann trong xã hội học Đức.
Lumann phân biệt 3 loại cấu trúc xã hội tương ứng với cấp độ vi mo,
trung mô và vĩ mô như sau:
-Cấu trúc tương tác xã hội giữa các cá nhân
-Cấu trúc tổ chức xã hội
-Cấu trúc hệ thống xã hội
Ông cho rằng mỗi hệ thống xã hội đều có sự “tự chỉnh cấu trúc” cho
phép nó có khả năng tự quản lý, tự điều khiển, tự kiểm soát, tự ra quyết định
và tương đối độc lập trong mối quan hệ với các hệ thống khác và môi trường
xung quanh.
Chủ thuyết chức năng rất đa dạng phong phú về lý thuyết nhưng đều
có xu hướng chung là:
-Triển khai phân tích cấu trúc-chức năng trên nhiều cấp độ từ vi mô
đến vĩ mô.
-Tăng cường tính phê phán khi xem xét các chức năng của thiết chế xã
hội.
-Bổ sung và làm rõ nhiều khái niệm quan trọng.
-Coi trọng sự biến đổi, sự đa dạng và tính tích cực, sự cơ động, năng
động xã hội.
-Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc-chức năng
về mặt thực nghiệm.
Song, chủ thuyết chức năng trong xã hội học thường bị phê phán
mạnh mẽ ở các điểm sau:
-Quá đề cao tầm quan trọng của sự cân bằng, ổn định mà xem nhẹ vai
trò của biến đổi xã hội.
mối quan hệ mâu thuẫn giữa hai nhóm người thống trị và bị trị.
Mosca nhấn mạnh quan hệ mâu thuẫn giữa những người lãnh đạo và
người bị lãnh đạo.
Michel phát hiện ra “quy luật thép” của giới cầm quyền.
Tóm lại, lý thuyết tinh hoa chủ yếu xem xét các đặc điểm của cơ chế
vận hành và duy trì cấu trúc mâu thuẫn mà ít tập trung vào phân tích nền
tảng kinh tế của cấu trúc đó.
Lý thuyết của Thorstein Veblen:
T.Veblen (1857-1929), nhà xã hội, kinh tê học người Mỹ.
Tác phẩm: Lý thuyết về giai cấp nhàn rỗi(1899), Lý thuyết về doanh
nghiệp kinh doanh(1904).
Veblen tập trung tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của quyền lực và mâu
thuẫn trong bối cảnh lịch sử rộng lớn và nhấn mạnh 3 giai cấp nổi trội nhất
trong xã hội học hiện đại đó là : giai cấp công nghiệp, giai cấp tài chính, giai
cấp nhàn rỗi.
Theo ông, những nhân tố thúc đẩy hành vi cá nhân đó là động cơ kinh
tế, danh vọng và uy tín.
3.Trường phái Chicago và quan niệm của Robert Park:
Trường phái này chuyên nghiên cứu văn hoá và đời sống xã hội ở
thành thị dưới sự lãnh đạo của giáo sư xã hội học người Mỹ Robert Park
(1864-1944).Tác phẩm chính : Nhập môn khoa học xã hội học (1921),
Thành phố (1925).
Park yêu cầu phải nắm bắt được động thái của cấu trúc xã hội và đời
sống xã hội thực như nó xảy ra.
Những quan niệm của Park:
Đặc trưng của các mối quan hệ xã hội là sự mẫu thuẫn và cạnh tranh,
chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực vị thế và quyền lực, tác động tới mọi khía cạnh
của đời sống xã hội của con người.
4. Lý thuyết của Joseph Schumpeter:
J.Schumpeter (1883-1950), nhà kinh tế học người Áo.
rằng chỉ khi nào giai cấp thống trị không có khả năng cung cấp các dịch vụ
cần thiết cho xã hội thì mới bị thay thế.
Ông khẳng định, chủ nghĩa tư bản không thể sống sót được và sớm
muộn gì cũng sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội.
5.Trường phái Frankfurt và thuyết mâu thuẫn-phê phán:
Tác giả: Max Horkheimer, Theodor Adorno, Erick Fromm, Herbert
Marcuse, Juergen Habermas.
Đặc trưng:
-Tính “phê phán”.
-Tính triết học.
Luận điểm gốc: tri thức, ý tưởng của con người là sản phẩm của xã
hội học đang sống, do vậy khó có thể vươn tới tri thức khách quan.
Về mối quan hệ giữa con người và xã hội, thuyết này cho rằng sự tự
do phát triển của cá nhân phụ thuộc vào sự kiến tạo hợp lý của xã hội.Thuyết
tập trung phân tích ảnh hưởng của xã hội đối với con người và phê phán tinh
thàn chủ nghĩa tư bản.
Về mối quan hệ giữa “cái kinh tế” và”cái xã hội”, thừa nhận quan
niệm cảu Marx coi cấu trúc kinh tế là cơ sở của cấu trúc xã hội.Thuyết tập
trung nghiên cứu mối quan hệ mâu thuẫn giữa các tiểu cấu trúc kinh tế-xã
hội với văn hoá, tri thức, nhân cách và phê phán hệ thống kinh tế của xã hội
đã làm thui chột sự phát triển nhân cách, kìm hãm nhu cầu cơ bản của con
người, kiểm soát con người đến mức họ chỉ biết tuân thủ mà không nghĩ tới
phê phán hay kháng cự. Từ đó, xuất hiện kiểu “con người một chiều” trong
hành động, suy nghĩ, tình cảm.
6.Thuyết phê phán “con người một chiều’ của Herbert Marcuse.
H.Marcuse (1898-1979), nhà triết học người Đức là đại diện tiêu biểu
của trường phái Frankfurt.
Tác phẩm chính “Con người một chiều” (1964).
Nội dung chính: phê phán quá trình một chiều với tư duy một chiều-
sự duy lý kỹ thuật-công nghệ dẫn đến hành động, tình cảm một chiều thiếu
hoảng, mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống xã hội.
Phê phán cái xã hội đang bị quan liêu hoá, con người phục tùng và
tuân thủ các quy định và luật pháp theo kiểu thống trị duy lý.
Đề cao vai trò của hệ tư tưởng, ý thức và hệ giá trị, chuẩn mực trong
việc duy trì sự ổn định xã hội.
Phân loại hành động xã hội:
Căn cứ vào nhu cầu xã hội, Habermas phân biệt ba loại hành động
tương ứng với 3 loại tri thức là:
- Lao động sản xuất và tái sản xuất xã hội ứng với loại tri thức khoa
học (dựa vào quan sát)
- Hoạt động giao tiếp ứng với tri thức lịch sử (dựa vào sự cảm thụ)
- Hoạt động chính trị ứng với loại tri thức phê phán (dựa vào sự đấu
tranh).
Theo thuyết duy lý, Habermas chia hành động của con người thành 2
loại:
-Hành động lao động
-Hành động giao tiếp
Chủ nghĩa duy lý đối lập với tư duy, chỉ quan tâm đến lựa chọn
phương tiện, công cụ lao động để đạt được mục đích cục bộ, chứ không
hướng đến xác định mục tiêu chung, lợi ích chung và vấn đề chung cần giải
quyết.
Cái nhìn phê phán sự phát triển xã hội:
Habermas đã chỉ ra một số điểm sau:
+Xu hướng phát triển của xã hội hiện đại:
-Lĩnh vực công ngày một thu hẹp.
-Sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế ngày một tăng lên.
-Vai trò ngày một tăng của khoa học tỏng kiểm soát xã hội.
+ Các loại khủng hoảng:
- Khủng hoảng kinh tế.
- Khủng hoảng tính duy lý.
Tác phẩm chính: Các chức năng của mâu thuẫn xã hội, Các bậc thầy
tư tưởng xã hội học.
Nội dung của lý thuyết:
-Tìm nguồn gốc của mâu thuẫn trong các hiện tượng tâm lý.
-Chỉ ra sự phụ thuộc của các hình thức và các mức độ biểu hiện khác
nhau của mâu thuẫn, xung đột đối với các tình huống xã hội.
Dựa vào tính mục đích của mâu thuẫn, ông phân biệt 2 loại mâu
thuẫn:
-Mâu thuẫn thực tế.
-Mâu thuẫn phi thực tế.
Dựa vào phạm vi mâu thuẫn, Coster phân biệt 2 loại mâu thuẫn:
-Mâu thuẫn trong nhóm.
-Mâu thuẫn bên ngoài nhóm.
Hạn chế của thuyết: chưa tính đến tầm quan trọng của luật pháp và
những hệ giá trị, chuẩn mực chung trong việc điều tiết và giải quyết mâu
thuẫn.
10. Sự hình dung xã hội học và lý thuyết nhóm tinh hoa-quyền lực
của Wright Mills.
Mills (1916-1962) là nhà hội học người Mỹ.
Tác phẩm: Sự hình dung xã hội học(1959), Cổ trắng (1951), Nhóm
tinh hoa quyền lực (1956).
Sự hình dung xã hội học:
-xem xét một cách tổng hợp các khía cạnh văn hoá, xã hội, lịch sử,
nhân cách của đời sống con người.
-đặt cách tiếp cận xã hội học khoa học đối lập với cách làm xã hội học
nặng về điều tra xã hội và chủ nghĩa chức năng hệ thống kiểu Parsons.
-Công cụ cơ bản của sự hình dung xã hội học đó là phân biệt những
mối quan tâm, lo lắng cá nhân với những vấn đề xã hội.
Nhóm tinh hoa quyền lực:
+ Phân biệt 3 hình thái của quyền lực:
-Khái niệm “trường quyền lực”.
Tri thức và quyền lực:
Nội dung:
-Tri thức khoa học góp phần tạo nên mạng lưới quyền lực và biến
thành loại tri thức quyền lực.
-Tính hai mặt của quyền lực.
Kết luận:
Thuyết phê phán và thuyết hậu hiện đại đã:
-Phê phán cái nhìn một chiều kiểu quyết định luận.
-Chỉ ra những bất hợp lý trong tri thức khoa học kiểu thực chứng.
Đồng thời thay thế bằng cách nhìn phê phán, cách phân tích nhiều chiều.
12.Lý thuyết của Ralf Dahrendorf:
R.Dahrendorf sinh năm 1929 ở Đức.
Tác phẩm: Giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội công
nghiệp(1959), Xã hội và nền dân chủ ở Đức(19670, Tự do mới (1975).
Mâu thuẫn quyền lực:
Nội dung:
-Xác định giai cấp dựa vào yếu tố quyền lực.
-Định nghĩa “Quyền lực”: là khả năng mà một người trong quan hệ xã
hội có vị thế thực hiện ý chí của mình bất chấp sự kháng cự của người
khác.Quyền lực là sự kiểm soát, quyền ra lệnh và quyền chiếm đoạt lợi ích
từ người không có quyền lực.
-Bộ mặt cơ bản của quyền lực là sự giành giật và quyền sử dụng
quyền lực.
-Chuẩn mực xã hội được thiết lập và duy trì bằng quyền lực và lợi ích
của người nắm quyền lực.
-Sự hình thành mâu thuẫn xã hội giữa 2 giai cấp:
+Giai cấp có quyền lực
+Giai cấp không có quyền lực
-Giới hạn của quyền lực dựa vào những quy tắc, chuẩn mực xã hội
Nguồn gốc:xuất phát từ các quan niệm xã hội học của M. Weber,
G.Simmel, R.Park.
Tác giả nổi bật: C.H.Cooley, G.H.Mead, H.Blumer, E.Goffman.
Tên gọi của thuyết là “tương tác luận biểu trưng” do Blumer đưa ra
năm 1937.
Nội dung của luận điểm gốc:
Xã hội được tạo thành từ sự tương tác của vô số các cá nhân, bất kì
hành vi và cử chỉ nào của con người đều có vô số các ý nghĩa khác nhau,
hành vi và hoạt động đó phụ thuộc đó không những phụ thuộc mà còn thay
đổi với các ý nghĩa biểu trưng.
Tư tưởng của Simmel:
Xã hội được tạo thành từ vô số các “nguyên tử xã hội” là các mối
tương tác xã hội.
Tương tác xã hội phụ thuộc vào số lượng thành viên của nhóm.
Kế thừa và phát triển tư tưởng trên, W.Thomas và F.Zanniecki đã phát
triển thành trường phái Chicago-cái nôi của thuyết tương tác biểu trưng:
-Định lý Thomas: “nếu người ta xác định tình huống một cách thực tế
thì kết quả hành động của họ cũng thực tế”.
-Nghiên cứu của W. Wund về ý thức, vai trò của yếu tố ngôn ngữ, trí
nhớ đối với các quá trình trải nghiệm bên trong của con người.
-Quan niệm của W.James về “dòng ý thức”.
-Watson cho rằng tâm lý học hành vi là một “cành nhánh” của khoa
học thực nghiệm khách quan của khoa học tự nhiên với mục tiêu nghiên cứu
là dự báo và kiểm soát hành vi.
-Thorndike phát hiện một số quy luật quan trọng của hành vi.
2.Lý thuyết “Tôi soi gương” của Charles Cooley:
C.H.Colley (1864-1929) nhà xã hội học người Mỹ nổi tiếng với các lý
thuyết “Tôi soi gương” và “Nhóm nguyên thuỷ”.
Về mối quan hệ giữa con người và xã hội, ông cho rằng đó là kiểu
tương tác nhiều chiều, trong đó sự giao tiếp là quan trọng nhất.
thuộc vào cá nhân.
-Sự vật tồn tại với tư cách là đối tượng của hành động hay yếu tố tạo
thành cấu trúc của hành động.
Có thể gọi lý thuyết tương tác của Mead là lý thuyết tương tác “ba
ngôi” với một ý nghĩa nữa là trong mối quan hệ với người khác mỗi cá nhân
đều xuất hiện dưới 3 hình thái:
-Tôi (I) bao gồm: + Tôi- chủ thể
+ Tôi- khách thể
-Bản thân (Me)
-Tự mình (Self)
S.Freud cũng có quan niệm về cấu trúc kiểu “ba ngôi một thể” bao
gồm:
-Tôi (Ego)
-Nó (Id)
-Siêu tôi (Super- ego).
Trong mối quan hệ xã hội, nhờ “cái tôi” mà con người có các khả
năng hành động quan trọng:
-Có thể tự tách ra khỏi bản thân để nhìn mình như một người khác.
-Có thể đặt mình vào vị trí của người khác.
Cơ chế hình thành của “cái tôi” thông qua:
-Bắt chước, giao tiếp, đóng vai trò trong các trò chơi lúc còn nhỏ và
trong quá trình tiếp xúc, trao đổi, tương tác với người khác lúc lớn lên.
Kết luận: Cái tôi là một cấu trúc xã hội đặc thù này sinh, phát triển
trong mối tương tác xã hội với người khác và với chính bản thân mình.
Khái niệm “biểu tượng”:
Mead đã đưa ra định nghĩa “biểu tượng” (symbol) theo kiểu chủ nghĩa
hành vi:
Biểu tượng là một loại kích thích mà phản ứng đáp lại nó đã được
đem lại từ trước.
4.Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbert Blumer:
Thuyết tương tác biểu trưng sử dụng kiểu phương pháp quy nạp.
Blumer đã đề ra một quan niệm trở thành phương châm cơ bản của
phương pháp luận xã hội học định tính: nghiên cứu nhiều lần một đối tượng
có giá tị hơn là nghiên cứu một lần nhiều đối tượng.
Khai thác triệt để các phương pháp của tâm lý học xã hội.
Phương pháp nghiên cứu xã hội học phải nhằm các mục đích sau:
-Phác hoạ được nền tảng hành động của cá nhân.
-Chỉ ra được bản chất của thế giới bên trong của mỗi cá nhân.
-Làm sáng tỏ các quá trình trải nghiệm của cá nhân.
6.Lý thuyết kịch hoá của Erving Goffman:
E.Goffman (1922-1982) nhà xã hội học người Mỹ.
Tác phẩm chính: Sự thể hiện cái tôi trong cuộc sống hàng ngày, Các
hình thức của cuộc nói chuyện.
Phương pháp luận kịch hoá.
-Phương pháp tiếp cận kĩ thuật.
-Cách tiếp cận chính trị.
-Phương pháp tiếp cận cấu trúc.
-Cách tiếp cận văn hoá.
-Quan niệm kịch hoá.
Cơ chế giới thiệu cái tôi:
Xu hướng của mỗi cá nhân:
- Thể hiện, duy trì, bảo tồn “cái tôi”
- Tự vệ khi cần thiết.
- Giữ thể diện.
Cơ chế cơ bản, quan trọng nhất là cơ chế đóng kịch.
Cơ chế kịch hoá: “Cá nhân được chia thành 2 phần cơ bản, cá nhân
được xem là người trình diễn, người có nhiệm vụ tạo ra các ấn tượng trong
suốt quá trình biểu diễn; và cá nhân được xem là nhân vật, kiểu người điển
hình có tinh thần, nghị lực và những đặc điểm, phẩm chất mà người diễn
phải thể hiện. Các đặc điểm của diễn viên và các đặc điểm của nhân vật có
pháp tiếp cận ở cấp độ vĩ mô, nhóm lớn.
2.Lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans:
G.Homans ( 1910-1989) nhà xã hội học người Mỹ.
Tác phẩm chính: Nhóm người (1950), Hành vi xã hội : các hình thức
sơ đẳng của nó (1961).
Một số định đề hành vi duy lý:
Chủ trương của Homans: ‘trả lại con người cho xã hội học”.
Hành vi sơ đẳng xã hội: là hành vi mà con người lặp đi lặp lại không
phụ thuộc vào việc nó có được hoạch định hay không. Đặc trưng cơ bản:
-Hiện thực hoá
-Được đánh giá từ người khác
-Người khác phải là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi.
Một số định đề cơ bản về hành vi người:
-Định đề phần thưởng
-Định đề kích thích
-Định đề giá trị
-Định đề duy lý
-Định đề giá trị suy giảm
-Định đề mong đợi
Homans đã đưa ra quy tắc về sự công bằng phù hợp với mọi xã hội:
Sự bất công xã hội nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ tương quan tỉ lệ
nghịch giữa 3 yếu tố: phần thưởng, chi phí, sự đóng góp.
Homans chủ yếu dựa vào tâm lý học cá nhân, tâm lý học nhóm để đưa
ra quan niệm xã hội học vi mô về một hiện tượng xã hội đặc thù là sự công
bằng xã hội.
Quyền lực duy lý:
Theo Homans:
Quyền lực phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của các nguồn lực và
tuân theo quy luật cung cầu như trong lĩnh vực kinh tế thị trường.
Quan hệ quyền lực được biểu hiện dưới 2 hình thức: