1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hơn bốn thế kỷ qua, nghệ thuật opera ra đời và chiếm lĩnh đƣợc hàng triệu trái
tim, khối óc của con ngƣời. Bằng sự kết hợp tài tình giữa âm nhạc với sân khấu, với
thơ ca và hội họa trang trí ; bằng những thủ pháp âm nhạc phong phú, đa dạng, opera
đã trở thành nghệ thuật độc đáo với khả năng diệu kỳ mà ít có thể loại âm nhạc nào
sánh kịp trong việc thể hiện cuộc sống hiện thực và miêu tả tình cảm của con ngƣời.
Sức mạnh lớn lao của nghệ thuật opera tác động trực tiếp tới khán giả và hấp dẫn sự
chú ý của các nhạc sĩ trên thế giới. Tên tuổi của nhiều nhạc sĩ trở nên nổi tiếng bởi họ
đã cống hiến sự nghiệp của mình cho opera nhƣ C. Monteverdi, A. Scarlatti, C.W.
Gluck, C. Weber, G. Verdi, G. Rossini, G. Bizet, R. Wagner, G. Puccini Nhiều nhạc
sĩ mà sự nghiệp của họ chói lọi trong các lĩnh vực nhạc giao hƣởng, nhạc thính phòng
nhƣng cũng có nhiều công lao với opera, có những tác phẩm opera sống mãi trong lịch
sử âm nhạc thế giới nhƣ W.A. Mozart, L.V. Beethoven, M. Glinka, P.I. Tchaicovsky,
S. Prokofiev Opera hấp dẫn các nhạc sĩ không chỉ bởi thế mạnh trong việc thể hiện
cuộc sống hiện thực mà còn vì phẩm chất nghệ thuật. Chỉ riêng về mặt âm nhạc, opera
đòi hỏi ở ngƣời nhạc sĩ năng lực sáng tác toàn diện cả thanh nhạc và khí nhạc. Các thủ
pháp nghệ thuật cũng nhƣ kỹ thuật thanh nhạc đạt đến đỉnh cao trong opera. Khí nhạc
trong opera cũng không kém gì nghệ thuật giao hƣởng. Chính vì vậy, ở các quốc gia
châu Âu và một số quốc gia ở các châu lục khác nhƣ Mỹ, Úc, Trung Quốc, Nhật Bản
có nền âm nhạc phát triển cao thì cùng với âm nhạc giao hƣởng, opera là một trong
những môn nghệ thuật đƣợc chú trọng.
Nền âm nhạc mới Việt Nam kể từ ngày đầu hình thành đến nay đƣợc trên 70
năm. So với thế giới và so với âm nhạc truyền thống của ta thì đó là một nền âm nhạc
còn rất non trẻ, nhƣng nhạc mới Việt Nam đã có những đóng góp thực sự to lớn cho sự
phát triển văn hóa Việt Nam nói chung và âm nhạc Việt Nam nói riêng. Dƣới sự lãnh
đạo của Đảng với chính sách “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc”, âm nhạc mới Việt Nam từ chỗ chủ yếu chỉ sáng tác và biểu diễn ca khúc đã tiến
3
Xuất phát từ những nhận thức trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Opera
trong sự phát triển nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam”.
2. Lịch sử đề tài.
Opera ở châu Âu có lịch sử phát triển trên 400 năm. Đã có nhiều công trình của
nhiều tác giả nƣớc ngoài nghiên cứu về opera, chúng ta có thể tham khảo qua The
Victor book of opera của Louis Biancoll và Robert Bagar (NXB New York, năm
1949); French opera - ít’s development to the revolution của Norman Demuth (NXB
The Antemis, năm 1963); The Russian opera của Rosa Newmarch (NXB The Anchor
London).v.v. Các công trình trên nghiên cứu riêng về opera thế giới, opera Pháp, Nga
Tuy nhiên, tất cả đều chƣa đƣợc dịnh ra tiếng Việt.
Trong cuốn Các thể loại âm nhạc do Lan Hƣơng dịch (NXB Văn hóa - Hà Nội)
có một chƣơng viết khá sâu về thể loại opera của E. Tchecnaia. Các giáo trình Lịch sử
âm nhạc của học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đều có nội dung về thể loại opera
của châu Âu từ khi xuất hiện đến thế kỷ XX. Trong đó, opera đƣợc xem xét là lĩnh vực
sáng tác của từng nhạc sĩ rồi đƣa ra các nhận định về ngôn ngữ và phong cách mà
không đi thành mảng xuyên suốt riêng. Gần đây, PGS.NSND Trung Kiên đã viết cuốn
Nghệ thuật opera (Viện Âm nhạc xuất bản, năm 2004). Trong cuốn sách này, opera thế
giới đƣợc nghiên cứu khá chi tiết theo tuyến thể loại và giới thiệu các tác giả nổi tiếng
ở các thời kỳ tiêu biểu.
Việc tìm hiểu các thủ pháp sáng tác của các tác phẩm opera Việt Nam cũng đã
có một số nghiên cứu thông qua các luận văn chuyên ngành Lý luận âm nhạc nhƣ: luận
văn tốt nghiệp Trung cấp của Trần Đinh Lăng Bước đầu tìm hiểu thể loại opera qua
tác phẩm “Cô Sao” của Đỗ Nhuận; luận văn tốt nghiệp Đại học tại chức của Đoàn Thu
Hà Tìm hiểu aria và các bài hát đơn ca trong vở nhạc kịch “Cô Sao” của Đỗ Nhuận ;
trong luận văn Thạc sĩ Một số đặc điểm ngôn ngữ âm nhạc trong sáng tác thanh nhạc
của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, tác giả Trịnh Tuyết Mai có đề cập đến một số tiết mục aria của
opera Cô Sao; trong luận văn tốt nghiệp Đại học của Trần Thu Anh Tìm hiểu một số
tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Nguyễn Đình Tấn có một chƣơng nghiên cứu một số nét
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5
Nghiên cứu khái niệm về thể loại opera, sơ lƣợc lịch sử opera ở châu Âu làm cơ
sở lý luận cho đề tài và quá trình hình thành nghệ thuật opera của Việt Nam.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu phƣơng thức xây dựng khúc mở màn và các tiết
mục thanh nhạc để thấy sự học tập opera châu Âu và xu hƣớng dân tộc hóa trong các
tác phẩm opera Việt Nam.
Làm rõ những đóng góp của opera trong nền âm nhạc Việt Nam và đề xuất giải
pháp cho sự phát triển opera Việt Nam trong tƣơng lai.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu và cách tiếp cận đối tƣợng.
Luận án sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu tƣ liệu, thực hiện các phán đoán suy luận trên cơ sở tƣ liệu thu
thập đƣợc.
- Sử dụng các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh.
Chúng tôi sử dụng các tài liệu trong các công trình khoa học về lý thuyết âm
nhạc cổ điển chấu Âu và lý thuyết âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã đƣợc công bố.
Cách tiếp cận đối tƣợng chủ yếu trên bản phổ và tổng phổ.
7. Ý nghĩa khoa học của đề tài.
Nếu kết quả của đề tài đƣợc công nhận, đề tài sẽ góp phần nêu lên những nhận
xét tổng quát về nghệ thuật opera Việt Nam, ý nghĩa của thể loại này trong đời sống âm
nhạc Việt Nam thời kỳ đất nƣớc đổi mới.
Sự nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển opera Việt Nam sẽ đóng góp
một phần nhỏ cho các công trình nghiên cứu về lịch sử âm nhạc Việt Nam nói chung
và âm nhạc mới Việt Nam nói riêng.
8. Bố cục của luận án.
Phần Mở đầu
Chƣơng 1: Lược sử opera châu Âu và quá trình hình thành opera Việt Nam.
Chƣơng 2: Phương thức xây dựng khúc mở màn và các tiết mục thanh nhạc trong
opera Vỉệt Nam.
cách định nghĩa về opera của nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc thế giới nhƣ:
7
Ý kiến của Arensky: “Opera là kết quả của sự phối hợp các hình thức thanh
nhạc với hành động sân khấu” [17: 6]
Ý kiến của I.Vainkôp: “Opera là tác phẩm nhạc kịch (đôi khi đƣa vào cả các
màn múa ballet), dùng cho sân khấu biểu diển, lời của vở hoàn toàn hoặc một phần
đƣợc thực hiện bằng nghệ thuật hát, thƣờng với phần đệm của dàn nhạc” [17: 8].
Ý kiến của nghệ sĩ opera Nga F. I. Saliapin: “Tôi yêu nhất opera, tôi quý trọng
nó là vì opera phối hợp các hình thức nghệ thuật với nhau một cách hài hòa, nhịp
nhàng nhƣ: âm nhạc, thơ ca, hội họa, điêu khắc, kiến trúc…” [17: 6].
Trong sách The Development of Western music, a history - Sự phát triển của
lịch sử âm nhạc phương Tây có đoạn viết về opera: “Opera is drama presented
musically, with all or most of the text being sung and with appropriate instrumental
music, as required by the plot or for accompaniment. It is a combined - art form, an
amalgamation of various aspects of art (scenery, costumes), literature (poetic or prose
lines of plot), theatre (acting and dance), with vocal and instrumantal music”. [4 : 249].
Có thể dịch nghĩa nhƣ sau: Opera là kịch đƣợc biểu hiện bằng âm nhạc, với tất cả hoặc
hầu hết là hát và có sự tham gia của khí nhạc. Đó là nghệ thuật tổng hợp của nhiều loại
hình nghệ thuật nhƣ hội họa (trang trí, trang phục), văn học (thơ ca hoặc văn xuôi), sân
khấu (diễn xuất và nhảy múa), với phần hát và khí nhạc.
Trong cuốn Giảng nhạc, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung cũng đƣa khái niệm về
opera: “Trong opera là sự kết hợp của âm nhạc (thanh nhạc và khí nhạc) với thơ ca và
hành động kịch, nghệ thuật thể hiện bằng điệu bộ, nét mặt và nghệ thuật múa, hội họa,
kiến trúc dƣới hình thức trình bày trang trí và hiệu quả của ánh sáng. Tất cả đƣợc kết
hợp với nhau dƣới vai trò dẫn dắt chủ đạo của âm nhạc.” [36 : 47]
Nhƣ vậy, dù ngắn gọn hay chi tiết, tất cả các khái niệm về opera đều thống nhất
với nhau ở một điểm: opera là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp. Trong opera có sự kết
hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau:
Âm nhạc: bao gồm cả thanh nhạc và khí nhạc
Opera Ý đã phát triển khá rực rỡ, có nhiều trƣờng phái opera nổi bật nhƣ Florence
Mantoue, Rome, Venice và Naples.
9
Vở opera đầu tiên ra đời ở thành phố Florence, đó là “Dafné”, đƣợc sáng tác
năm 1594 - 1598 của nhạc sĩ - ca sĩ Peri (1560 - 1633), kịch bản của nhà thơ Ottovio
Rinuccini. Tuy nhiên, tổng phổ của “Dafné” không còn lƣu giữ đƣợc. Năm 1600,
opera “Euridice” cũng của Peri và Rinuccini đã ra mắt khán giả và tổng phổ đƣợc in,
trở thành tài sản không bị lãng quên. “Euridice” đã thực sự đánh dấu cho sự ra đời
opera và Florence trở thành cái nôi của nghệ thuật này ở Ý.
Tiếp sau Florence, các trƣờng phái opera của Ý nhƣ Mantoue, Rome, Venice và
Naples đã đua nhau nở rộ vào thế kỷ XVII và đầu XVIII. Gắn liền với sự phát triển của
opera Ý thời kỳ này là tên tuổi của nhiều nhạc sĩ nhƣ Galiano của Mantoue, Landi của
Rome, C. Monteverdi của Venice, A. Scarlatti và G.B. Pergolesi của Naples… Đặc
biệt, lịch sử opera Ý đƣợc rạng danh bởi sự nghiệp sáng tác của C. Monteverdi và A.
Scarlatti.
Các nhạc sĩ Naples đã tạo ra những chuẩn mực cho thể loại opera seria (opera
nghiêm trang). Alessandro Scarlatti (1658 - 1725) là nhạc sĩ đứng đầu trƣờng phái
Naples đã xây dựng opera theo lối hát bel canto (hát đẹp) với những kỹ thuật thanh
nhạc tinh xảo.
Với lối cấu trúc số, ít sử dụng hợp xƣớng và ballet, lối hát bel canto đòi hỏi kỹ
thuật thanh nhạc cao, opera seria đã dẫn tới sự phát triển chƣa từng có từ trƣớc đến thời
bấy giờ của nghệ thuật thanh nhạc. Giới quý tộc lúc đó rất ƣa chuộng opera seria, thậm
chí còn coi nhƣ là thể loại riêng của họ. Sau này, do chiều theo thị hiếu của giới quý
tộc mà đầu thế kỷ XVIII, opera seria đã đi vào chỗ bế tắc dẫn đến khủng hoảng.
Đầu thế kỷ XVIII, khi mà opera seria của Ý đạt đến đỉnh cao của thời tiền cổ
điển và có xu hƣớng rơi vào khủng hoảng thì cũng là lúc opera buffa (còn gọi là opera
hài) ra đời. Tác phẩm đƣợc coi là đặt nền móng cho opera buffa là “Con sen thành bà
chủ” hay còn gọi là “Người hầu thành quý bà” (năm 1733) của nhạc sĩ ngƣời Ý thuộc
trƣờng phái Napoli, Giovanni Battista Pergolesi (1710 - 1736).
phong phú ở Pháp và lan sang nhiều nƣớc nhƣ Đức, Anh v.v… Đầu thế kỷ XVIII,
opera seria bắt đầu có sự suy thoái từ nƣớc Ý và cũng ảnh hƣởng sang các nƣớc khác ở
châu Âu. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của opera thời kỳ tiền cổ điển là nền tảng
cho sự phát triển của opera ở các thời kỳ sau.
11
1.2.2. Opera thời kỳ cổ điển.
Sự nở rộ các thể loại, các phong cách âm nhạc của nghệ thuật phục hƣng thời kỳ
tiền cổ điển đã đặt nền móng cho sự ra đời trƣờng phái âm nhạc cổ điển Viên vào nửa
sau thế kỷ XVIII. Trƣờng phái cổ điển Viên đã hoàn thiện các thể loại có hình thức lớn
nhƣ: symphonie, sonate, concerto…
Riêng với opera, các nhạc sĩ cổ điển cũng có những công lao to lớn. Trƣớc tiên,
đó là sự cải cách khôi phục cho opera seria ra khỏi thời kỳ khủng hoảng. Tiếp sau là sự
phát triển nâng cao cho opera cả về nội dung, hình thức lẫn thể loại và phong cách
nghệ thuật.
Nhƣ đã nêu ở trên, opera seria đã đƣợc hoàn thiện ở Naples của Ý. Tuy nhiên,
thể loại opera này hầu nhƣ không thoát khỏi phạm vi thẩm mỹ của giới quý tộc. Giới
quý tộc đã vun đắp và coi nhƣ đây là thể loại của riêng họ. Đề tài của opera seria
thƣờng hƣớng tới những câu chuyện lịch sử, truyền thuyết, anh hùng, huyền thoại hoặc
xoay quanh về vua chúa quý tộc mà ít đề cập đến đời sống thƣờng nhật của nhân dân.
Lối hát bel canto, sử dụng những kỹ thuật tinh xảo trong thanh nhạc (virtuoso -
coloratura), thực hiện những câu nhiều nốt (passage) ở tốc độ nhanh do A. Scarlatti xây
dựng đã bị nhiều nhạc sĩ lạm dụng. Thậm chí, nhiều ca sĩ còn tự thêm những đoạn kỹ
thuật trong các aria để khoe giọng khiến cho giữa âm nhạc và nội dung kịch thiếu sự
gắn kết chặt chẽ. Các số mục thanh nhạc của các opera nhiều khi bị sắp đặt một cách
rập khuôn cứng nhắc theo công thức khiến vở opera nhƣ sự cộng gộp của các tiết mục
thanh nhạc chứ không phải xuất phát từ nội dung của vở opera.
Chính từ những nguyên nhân trên mà vào đầu thế kỷ XVIII, opera seria bị rơi
vào khủng hoảng. Opera hài ra đời đáp ứng những nhu cầu thẩm mỹ mới song vẫn cần
phải có sự cải cách opera seria. Nhiều nhạc sĩ đã bỏ công sức để cải cách opera seria
trong các opera trƣớc đó. Vốn là nhạc sĩ giao hƣởng vĩ đại, khí nhạc giao hƣởng trong
opera của Beethoven đƣợc chú trọng hơn các bậc tiền bối.
Nhìn chung, các nhạc sĩ cổ điển đã hoàn thành một sứ mạng cao cả có ý nghĩa
lịch sử to lớn, đáp ứng đƣợc nhu cầu thẩm mỹ tiến bộ của thời đại, đó là cải cách opera
và quan trọng hơn, họ đã hoàn thiện những đặc điểm cơ bản cho thể loại opera cả về
thanh nhạc và khí nhạc.
13
1.2.3. Opera thời kỳ lãng mạn.
Thời kỳ lãng mạn thế kỷ XIX, opera đƣợc phát triển hết sức phong phú. Bên
cạnh các thể loại seria và buffa truyền thống, opera đƣợc nở rộ với nhiều thể loại và đề
tài mới.
Sự phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nƣớc châu Âu ở thời kỳ
lãng mạn đã tạo ra một khuynh hƣớng mới là opera lịch sử. Opera lịch sử xuất hiện vào
những năm 30 của thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của nhạc sĩ Pháp là D. Auber và
sau đó là nhạc sĩ Ý - G.A. Rossini. Nội dung chủ yếu của opera lịch sử của thời kỳ lãng
mạn thế kỷ XIX phản ánh thời đại, gắn với các chủ đề yêu nƣớc, anh hùng, cách mạng.
Một nhạc sĩ ngƣời Ý đƣợc mệnh danh “ngƣời thầy của cách mạng Ý” [8:39] là
Giuseppe Verdi (1813 - 1901). Trong nhiều opera của ông là những chủ đề yêu nƣớc,
những bài ca cách mạng. Opera lịch sử còn gắn với nhiều tên tuổi của các nhạc sĩ Nga
nhƣ M. Glinka, P.I. Tchaikovsky, M. Mussorgsky, Rimski-Korsakov, A.P. Borodin;
nhạc sĩ Tiệp B. Smetana và nhiều nhạc sĩ khác…
Một khuynh hƣớng mới nữa trong opera thời kỳ lãng mạn là opera trữ tình.
Nƣớc Pháp là nƣớc đi đầu trong việc xây dựng cho thể loại này. Trƣớc tiên phải kể đến
Thomas và sau đó là Gounod. Tiếp sau nữa là thế hệ các nhạc sĩ lỗi lạc nhƣ Saint-
Saens, Delibes, Bizet, Massenet… Opera trữ tình còn đƣợc chia thành nhiều dạng nhƣ
trữ tình tâm lý, thần thoại dân gian, huyền thoại kỵ sĩ…Các nhạc sĩ Georges Bizet
(1838 - 1875) của Pháp và G. Verdi của Ý đã đạt đến đỉnh cao trong opera tâm lý trữ
tình. Nhạc sĩ ngƣời Nga - Piot Ilich Tchaikovsky (1840 - 1893) cũng có một số opera
tâm lý trữ tình nổi tiếng nhƣ “Evgeni Onegin”.
Tiếp theo con đƣờng mà Gluck và Mozart đã đi, các nhạc sĩ lãng mạn thực sự đã
thành công trong việc nâng cao tính giao hƣởng của khí nhạc trong opera. Wagner
đƣợc mệnh danh là nhà giao hƣởng hóa nhạc kịch với sự phát triển giao hƣởng triệt để
trong các opera của mình. Các nhạc sĩ Verdi, Tchaikovsky cũng rất chú ý tới sự giao
hƣởng hóa opera. Không chỉ có các khúc mở màn đƣợc các nhạc sĩ viết ở các hình thức
của giao hƣởng là thể sonate hay sonate tự do mà các khúc chuyển màn, chuyển cảnh
và cả nhạc đệm cho thanh nhạc cũng mang tính giao hƣởng. Tính giao hƣởng của opera
thể hiện ở cách sử dụng dàn nhạc đồ sộ; các thủ pháp phối khí đa dạng, chặt chẽ; các
15
chủ đề trong khí nhạc gắn bó mật thiết với phần thanh nhạc; sự phát triển của các âm
hình chủ đạo tạo sự thống nhất các tình tiết, các lớp, các màn kịch; hoặc ở các khúc mở
màn, khí nhạc bao quát nội dung toàn vở bằng cách giới thiệu các chủ đề chính của các
nhân vật
Trƣớc đây, các nhạc sĩ tiền cổ điển thƣờng viết các khúc mở màn lớn. Đến thời
cổ điển, ouverture đã đƣợc Gluck cải cách ngắn gọn hơn; Gluck và Mozart sử dụng
hình thức sonate để xây dựng ouverture. Opera thế kỷ XIX cũng kế thừa những nguyên
tắc này nhƣng có thêm những sáng tạo mới. Nhiều nhạc sĩ đã thay thế ouverture bằng
prelude với mục đích tạo khúc mở màn thật súc tích, chủ yếu để giới thiệu các hình
tƣợng chính của vở opera. Ngƣời đầu tiên dùng prelude làm khúc mở màn là Wagner
và sau đó là Bizet, Verdi…
1.2.4. Opera thế kỷ XX.
Lịch sử thế giới thế kỷ XX phát triển hết sức phức tạp và đầy mâu thuẫn. Đặc
biệt ở nửa đầu thế kỷ có những biến động lớn làm thay đổi các mặt chính trị, kinh tế và
đời sống xã hội. Trƣớc tiên phải kể tới hai cuộc đại chiến thế giới đã đẩy nhân loại tới
đáy của sự cùng cực và những thảm họa khủng khiếp. Tiếp sau đó là sự phát triển nhƣ
vũ bão của khoa học - kỹ thuật đã nhanh chóng khôi phục lại đời sống xã hội của con
ngƣời sau hai cuộc đại chiến… Tất cả những sự kiện đó đã ảnh hƣởng trực tiếp tới văn
hóa nghệ thuật trong đó có âm nhạc.
Ở các thế kỷ XVIII và XIX, trong âm nhạc chỉ có hai khuynh hƣớng chính là
của giai điệu. Hơn thế nữa, các opera của ông luôn gắn liền với cội nguồn dân tộc.
Trƣờng phái âm nhạc biểu hiện xuất hiện vào đầu thế kỷ XX với tên tuổi các
nhạc sĩ nhƣ R. Strauss, B. Bartok mà âm nhạc của họ có những màu sắc mới về hòa
âm, phối khí nhƣng gắn với cội nguồn âm nhạc dân tộc. Trong trƣờng phái này còn có
một số các nhạc sĩ theo khuynh hƣớng sáng tác âm nhạc dodecaphone (sử dụng 12 âm,
xóa bỏ điệu tính - atonal). Đó là A. Schoenberg, A. Berg và A. Webern. Nhạc sĩ Alban
Berg (1885 - 1935) có vở opera “Wozzeck” (1914 - 1922) khá độc đáo. Vở này gây ấn
tƣợng lớn trong âm nhạc thế kỷ XX bởi ngôn ngữ hết sức mới lạ, phức tạp: các hình
thức khí nhạc opera vẫn theo truyền thống nhƣng sử dụng âm nhạc vô điệu tính và
17
recitativo không phải là hát nói mà là spréchstimme có thể dịch là nói hát, có khi có cả
nói thì thầm hoặc thét lên.
Một trào lƣu đáng chú ý nữa của nửa đầu thế kỷ XX là tân cổ điển với một số
tên tuổi nổi tiếng nhƣ I. Stravinsky, P. Hindemith, G. Mahler. Các nhạc sĩ tân cổ điển
học tập hình thức, khuôn mẫu, thể loại của các nhạc sĩ cổ điển còn ngôn ngữ âm nhạc
thì theo phong cách hiện đại. Paul Hindemith (1895 - 1936) là ngƣời rất thành công
trong opera. Opera xuất sắc của ông là “Mathis der Maler” (“Mathis - chàng họa sĩ”).
Vở này hoàn thành năm 1935, gồm 6 màn, ông đã lấy nhiều giai điệu ở các thế kỷ XIII,
XIV để xây dựng thành các aria và ca khúc. Nhƣng ngôn ngữ hòa âm và giai điệu của
Hindemith rất phức tạp. Ông cũng sử dụng hòa âm của hệ thống 12 âm vô điệu tính
theo kiểu của Schoenberg và cách viết hòa âm theo các tầng:
Khúc mở màn trong màn 6 vở “Mathis der Maler”
Với giai điệu trên ta không thể phân tích điệu thức và hợp âm nhƣ trong âm
nhạc cổ điển đƣợc, ông chia thành hai mảng hòa thanh: một mảng ở các bè trên (khóa
sol); một mảng ở các bè dƣới (khóa fa). Xem xét hai chồng âm cuối cùng ta thấy ông
đã sử dụng theo kiểu có thêm quãng triton (4 tăng) a
b
- d và g - c
ngẫu nhiên. Opera “Light” thể hiện rõ phong cách serie.
Nhạc sĩ ngƣời Hungari G. Ligeti (sinh năm 1923) của trào lƣu âm nhạc biến hóa
âm hƣởng viết opera “Le Grand Macabic”. Vở này không có khúc mở màn bằng dàn
nhạc mà bằng những tiếng hú gây cảm giác lạ lùng và hài hƣớc. Ở đây tập trung những
phong cách mới lạ của Ligeti nhƣ đa tiết tấu, đa tiết nhịp, các ô nhịp không đều nhau,
hát không có lời, lấy phát âm làm phƣơng tiện tạo ra kịch tính…
Trong số các nhạc sĩ nửa sau thế kỷ XX hƣớng vào các phƣơng pháp sáng tác
truyền thống phải kể đến Dimitry Shostakovitch (1906 - 1975). Ông viết opera
“Katerina Izmaijlova” (1932) theo lối cấu trúc âm nhạc “xuyên suốt” và phong cách
recitativo ngâm ngợi của các nhạc sĩ lãng mạn. Ngoài Shostakovitch, Sergei Procofiev
19
(1891 - 1953) cũng dựa trên thuyền thống opera cổ điển và lãng mạn. Với 8 vở nhạc
kịch, ông trở thành ngƣời viết opera nổi tiếng nƣớc Nga. Vở “Chiến tranh và hòa
bình” (1941 - 1952) theo phong cách trữ tình anh hùng ca và còn kết hợp cả tâm lý, sử
thi là những khuynh hƣớng cơ bản của opera thời kỳ lãng mạn.
Một xu hƣớng mới trong opera của nửa sau thế kỷ XX là opera - ca khúc và
kịch hát. Với dạng opera - ca khúc, các nhạc sĩ đã viết các giai điệu thanh nhạc nhƣ bài
hát, hay nói cách khác, bài hát và tính ca khúc là nền tảng cho giai điệu trong thanh
nhạc của opera. Nổi tiếng trong opera - ca khúc là tác phẩm “Sông Đông êm đềm”
(1934) và “Đất vỡ hoang” (1937) của Dzerginsky (ngƣời Nga). Kịch hát cũng là một
dạng gần với opera - ca khúc. Trong dạng này không chỉ giai điệu thanh nhạc mang
tính ca khúc mà phần dàn nhạc không đề cao khí nhạc giao hƣởng nhƣ các dạng opera
khác, có sự kết hợp với các nhạc cụ ngoài giao hƣởng nhƣ nhạc cụ điện tử (organ điện
tử, flute điện tử, trống Jazz) và các nhạc cụ dân tộc. Phần hát của opera dạng này còn
sử dụng nhiều giai điệu của Rock - Pop. Tiêu biểu có thể kể đến tác phẩm “Cats” -
“Những con mèo” (1977 - 1980) của Andrew Lloyd Webber. Trong vở này ta có thể
thấy những yếu tố hoàn toàn khác với opera truyền thống từ cách trang phục của diễn
viên đến các màn múa, màn hợp xƣớng theo kiểu nhạc Rap (nói theo tiết tấu). Các bè
dàn nhạc đệm nhắc đi nhắc lại những quãng nửa cung chromatique theo kiểu âm nhạc
coi là opera bởi cả về thanh nhạc và khí nhạc đã sang một dạng thể loại khác: âm nhạc
mang tính đời thƣờng, thay đổi cả về sử dụng dàn nhạc (nhạc điện tử), cách hát, múa,
trình diễn, trang phục và giai điệu thanh nhạc, ngôn ngữ hòa âm, phối khí… có tính
chất gần với các ca cảnh hơn.
Tóm lại, opera ra đời và đƣợc hình thành ở châu Âu với công lao đầu tiên là của
ngƣời Ý. Qua chặng đƣờng lịch sử phát triển trên 400 năm, opera đã đạt những thành
tựu rực rỡ, trở thành nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp của thế giới. Opera châu Âu có
21
ảnh hƣởng không nhỏ tới nhiều quốc gia và các châu lục khác. Nhiều nƣớc đã học tập
và có opera của riêng mình, trong đó có Việt Nam.
1.3. Quá trình hình thành opera Việt Nam.
1.3.1. Ca cảnh, ca kịch và những ảnh hưởng đến sự ra đời opera Việt Nam.
Opera Việt Nam là sản phẩm của ngƣời Việt Nam đƣợc tiếp thu từ tinh hoa âm
nhạc nói chung và nghệ thuật opera nói riêng của châu Âu trên cơ sở gắn với cội nguồn
âm nhạc truyền thống. Những vở opera Việt Nam đầu tiên ra đời trong nền nhạc mới
Việt nam
1
hình thành vào đầu thế kỷ XX. Trong sự ra đời của opera Việt Nam, ca cảnh
và ca kịch có những ảnh hƣởng quan trọng.
Từ khi ra đời đến nay, âm nhạc mới Việt Nam đã có chặng đƣờng đi trên một
thế kỷ và có thể chia thành các thời kỳ phát triển chính nhƣ sau:
+ Thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945. Đây là thời kỳ đầu ra đời của nhạc
mới.
+ Thời kỳ từ 1945 đến 1954: Sự phát trỉển của nhạc mới gắn với lịch sử cuộc
kháng chiến chống Pháp của dân tộc.
+ Thời kỳ từ 1954 đến 1975: Sự phát trỉển của nhạc mới gắn với lịch sử đấu
tranh chống Mỹ, thống nhất đất nƣớc.
+ Chặng đƣờng mới: Sự phát trỉển của nhạc mới từ năm 1975 đến nay, là thời
kịch. Tuy nhiên, số lƣợng tác phẩm thời kỳ đầu còn rất khiêm tốn và chƣa rõ nét về đặc
trƣng thể loại, đặc biệt là thể loại ca kịch. Phần âm nhạc trong ca cảnh, ca kịch lúc đó
chủ yếu là các ca khúc, phần dàn nhạc chƣa đƣợc chú ý.
Đến thời kỳ chống Pháp (1945 - 1954), ca cảnh và ca kịch đã khẳng định đƣợc ý
nghĩa, vai trò và sự đóng góp cho nền nhạc mới Việt Nam cả về số lƣợng và chất lƣợng
nghệ thuật. Trƣớc Cách mạng Tháng Tám, nhạc sĩ Lƣu Hữu Phƣớc đi vào lĩnh vực ca
kịch và ca cảnh sớm nhất, thời kỳ này, ông lại viết tiếp “Diệt sói lang” (1947, kịch bản
đƣợc viết cùng Mộng Ngọc) và “Nàng Hồng kén chồng” (1948). “Diệt sói lang” cũng
là tác phẩm về đề tài thiếu nhi. Với vở này, Lƣu Hữu Phƣớc đã thực sự thành công
trong lĩnh vực ca kịch.
Sau Lƣu Hữu Phƣớc, ở thời kỳ chống Pháp có khá nhiều nhạc sĩ khác viết ca
cảnh và ca kịch nhƣ Mộng Ngọc viết vở “Chú trê già”; Văn Ký với “Dân công lên
23
đường”, “Lúa thoái tô”; Ngô Huỳnh với “Đi, đi” (dựa thơ Xuân Miễn), “Anh Hai, em
biết rồi”; ba nhạc sĩ Ngô Sĩ Hiển, Đào Ngọ, Trần Chất thuộc tập thể văn công sƣ đoàn
308 cùng sáng tác vở “Lòng dân”, tập thể văn công sƣ đoàn 308 sáng tác vở “Bao giờ
trời lại sáng”; Doãn Nho viết vở “Bà mẹ nuôi”… Đặc biệt, phải nói tới nhạc sĩ Đỗ
Nhuận. Đỗ Nhuận là nhạc sĩ viết nhiều ca khúc từ thời kỳ trƣớc Cách mạng thuộc hai
dòng yêu nƣớc tiến bộ và cách mạng. Đến thời kỳ này, ông dành cho lĩnh vực ca cảnh,
ca kịch với nhiều tác phẩm nhƣ “Con chim kháng chiến” (1949), “Cả nhà thi đua”,
“Sóng cả không ngã tay chèo” (1952), “Anh Păn về bản” (1954), “Hòn đá” (1954)
viết chung với Mạnh Thắng… Xuất sắc nhất là vở ca kịch “Sóng cả không ngã tay
chèo”. Trong cuốn Âm nhạc Việt Nam - Tiến trình và thành tựu (sđd) đã đánh giá:
“Sóng cả không ngã tay chèo của Đỗ Nhuận là một thành tựu nổi bật trong thể loại ca
kịch thời kỳ 1945 - 1954” [34 : 261].
Có thể nói, ca cảnh và ca kịch thời kỳ 1945 - 1954 tuy chƣa phát triển phong
phú nhƣ thời kỳ sau (1954 - 1975) nhƣng lại có một vai trò nhất định trong sự ra đời
của opera Việt Nam.
Về mặt nội dung, ca cảnh và ca kịch chứa đựng những tình tiết của một câu
nghiệp trong nền nhạc mới mà thực sự thúc đẩy sự ra đời và phát triển nghệ thuật opera
Việt Nam.
Nếu nhƣ ở thời kỳ chống Pháp các nhạc sĩ chủ yếu sáng tác ca cảnh thì ở thời kỳ
chống Mỹ, họ chú trọng thể loại ca kịch. “Qua cầu sông Cái” của Nguyễn Xuân Khoát
là vở ca kịch đầu tiên của thời kỳ này. Tiếp bƣớc thành công của thời kỳ trƣớc, nhạc sĩ
Đỗ Nhuận viết thêm nhiều ca kịch: “Chú Tễu” (1966), “Ông Đá” (1966 ), “Quả dưa
đỏ” (1970), “Ai đẹp hơn ai” (1973), “Trước giờ cưới”… Vở “Chú Tễu” có độ dài
trình diễn trong thời gian khoảng 70 phút, với số lƣợng diễn viên lên tới 50 ngƣời, có
thể nói là một ca kịch khá đồ sộ. Ngoài ra còn nhiều nhạc sĩ viết ca kịch nhƣ Doãn Nho
với “Lá đơn tình nguyện” (1965), Văn Ký với “Nhật ký sông Thương” (1971) và
“Đảo xa” (1973), Trƣơng Châu Mỹ với “Núi rừng nổi dậy”
So với thời kỳ chống Pháp, ca kịch và ca cảnh thời kỳ chống Mỹ có đề tài đa
dạng hơn, thƣờng phản ánh cuộc chiến đấu chống xâm lƣợc, xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, lịch sử dân tộc…; ngôn ngữ nghệ thuật cũng đƣợc thể hiện theo hƣớng
25
chuyên nghiệp hơn; hình thức của các tiết mục thanh nhạc phong phú và dàn nhạc đƣợc
chú trọng.
Trong các ca kịch của thời kỳ 1954 - 1975 hầu nhƣ đều có hợp xƣớng. Ở nhiều
vở nhƣ “Chú Tễu” (Đỗ Nhuận), “Đảo xa” (Văn Ký), “Núi rừng nổi dậy” (Trƣơng
Mỹ Châu), phần thanh nhạc có một số yếu tố gần với sân khấu opera nhƣ có các tiết
mục aria, ariozo, hát nói Đặc biệt, giữa thanh nhạc và khí nhạc có sự gắn kết chặt chẽ
hơn, khí nhạc bổ trợ hình tƣợng cho thanh nhạc, rõ nét về tính kịch hơn.
Từ sau năm 1975 đến nay, ca cảnh, ca kịch vẫn tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu
cầu cuộc sống của thời kỳ thống nhất đất nƣớc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để phù hợp
với nhu cầu thẩm mỹ mới, ca cảnh và ca kịch thời kỳ này phát triển theo xu hƣớng kịch
hát. Số lƣợng tác phẩm khá nhiều và đƣợc Bộ Văn hóa tổ chức hai lần Liên hoan Kịch
hát mới. Về mặt nghệ thuật, có nhiều vở nhƣ “Tiếng đàn Thạch Sanh” của Đức Minh
và gần đây, vở “Đất nước đứng lên” (2005) của An Thuyên có thể coi là thể nghiệm
mới cho âm nhạc sân khấu.