Chương 10: Tiếp cận bệnh nhân già
Darlyne Menscer and Beatrice B. Leitch
Hiện nay, 15-20% lượt bệnh nhân đến gặp bác sĩ gia đình là những người già từ 65
tuổi trở lên. Con số này dự tính sẽ tǎng lên khi tỷ lệ người già tǎng lên. Nǎm 1900,
chỉ 3,1 triệu người già ? 65 tuổi, chiếm 4% dân số. Đến nǎm 2000, số người già sẽ
là 38 triệu người (chiếm 13%) và nǎm 2040, số người già ước tính sẽ tǎng tới 55
triệu (chiếm 18%). Thực tế, nhóm người già hơn 75 tuổi là nhóm lǎng lên nhanh
nhất ở Mỹ. Khoảng sống được định nghĩa là số nǎm tối đa mà con người được
xem là còn khả nǎng sống, nó được giới hạn xung quanh 1 00 tuổi. Kết quả là xã
hội càng ngày càng có nhiều người già và rất nhiều người sẽ bị những bệnh mãn
tính và hạn chế chức nǎng và rất ít trong số họ sẽ qua được giới hạn của khoảng
sống. Việc chǎm sóc một cách đầy đủ cho những người già này ở Mỹ đòi hỏi các
nguồn y tế. Vì vậy, điều cấp bách là làm cho các thầy thuốc tương lai quen dần với
những điều chủ yếu về bệnh người già.
Bệnh nhân già khác như thế nào? Những kỹ nǎng đặc biệt nào và những thái độ
nào là cần thiết khi gặp gỡ bệnh nhân già? Chúng tôi hy vọng rằng những phần
tiếp theo của chương này sẽ hỗ trợ để trả lời các câu hỏi này, qua đó bạn sẽ được
chuẩn bị một cách tốt hơn trong việc chǎm sóc cho những bệnh nhân già.
Lần gặp gỡ ban đầu
Tốt nhất là lần gặp gỡ đầu tiên giữa thầy thuốc và bệnh nhân già nên đặt nền tảng
cho một mối quan hệ tốt đẹp lâu dài. Một điều được nhận ra rằng, theo thời gian,
bệnh nhân già có nhiều biểu hiện với thầy thuốc, một vài người hài lòng, một vài
người không hài lòng. Làm cho người già thấy hài lòng thông qua sự chǎm sóc,
thái độ mang tính nghề nghiệp sẽ giúp cho việc xây dựng lòng tin và mối quan hệ
tốt. Trừ những trường hợp cấp cứu, lần gặp gỡ đầu tiên không nên vội vã. Và như
vậy, bạn có thể có được một số liệu cơ bản ban đầu vào cuối lần gặp gỡ đầu tiên
này. Những lần gặp gỡ tiếp theo sẽ là cần thiết để thu thập tất cả các thông tin phù
hợp.
Bệnh nhân già ban đầu có thể nhìn thầy thuốc mới của mình một cách lo lắng và
Bệnh nhân già có thể chỉ nói những phàn nàn chính hoặc chỉ nói một cách chung
chung là "Tôi cảm thấy không khỏe". Thường việc khám kiểm tra các hệ thống sẽ
phát hiện được nhiều chỗ có vấn đề và có nhu cầu. Người thầy thuốc nên chủ động
để gợi ra những triệu chứng và những mong muốn của bệnh nhân. Một vài bệnh
nhân sẽ hoàn toàn bộc trực và nói rõ những ý nghĩ của họ, một vài bệnh nhân khác
có thể cần nhiều thời gian hơn và sự hỗ trợ để nói ra mong muốn và nhu cầu của
họ. Nếu các triệu chứng của người già được biết qua thành viên trong gia đình thì
người thầy thuốc nên nghĩ tới người bệnh bị bệnh sa sút trí tuệ hoặc bệnh trầm
cảm.
Tiền sử bệnh có thể là nhiều và khó thu thập. Những bệnh án cũ có thể là có giá trị
nhưng thường là không có sẵn. Bộ câu hỏi có sẵn có thể được sử dụng để thu thập
nhiều thông tin hơn về tiền sử, lịch sử gia đình và xem xét tổng thể, lịch sử về
nghề nghiệp của bệnh nhân, kể cả những phơi nhiễm nghề nghiệp. Nếu bệnh nhân
không thể đọc và viết, những thành viên trong gia đình hoặc người chǎm sóc có
thể hỗ trợ để điền vào bộ câu hỏi. Mặc dù bộ câu hỏi có thể giúp cho việc chú
trọng về tiền sử thực tế nhưng nó không nên được sử dụng để thay thế cho việc
phỏng vấn về tình hình bệnh tật.
Một phần chủ yếu của tiền sử là đánh giá các hoạt động sinh hoạt hàng ngày
(activities of daily livings - ADLs) và những hoạt động sinh hoạt có dụng cụ
(instrumental activities of daily living - AIDL) (Bảng 10. l). Những hoạt động này
là cốt yếu cho việc duy trì sự độc lập trong gia đình và hoạt động sinh hoạt hàng
ngày là cơ bản hơn: Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng mất khả nǎng độc lập trong
việc thực hiện các chức nǎng sinh hoạt hàng ngày và các sinh hoạt mang tính
phương tiện có liên quan trực tiếp đến nhu cầu chǎm sóc của gia đình và sự cần
thiết một cơ sở chǎm sóc lâu dài. Khi sự duy trì tính độc lập là một khía cạnh quan
trọng trong chǎm sóc sức khỏe người già thì việc đánh giá khả nǎng thực hiện các
hoạt động sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động mang tính phương tiện nên là một
phần trong khi khám bệnh cho người già. Các thông tin đánh giá việc thực hiện
các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và hoạt động mang tính phương tiện có thể thu
thập thông qua việc hỏi người già, "Những hoạt động trong một ngày của ông/bà
tiền
Ông (bà) đến trường (trại) cách bao
xa? (Bệnh nhân có thể đọc hoặc
viết?) Ai trả tiền và quản lý tiền cho
ông (bà)? Ông (bà) có nhận được
các sự hỗ trợ đặc biệt về mặt tài
chính hoặc từ tổ chức Medicare
hoặc Medicate không?
Tắm Ông (bà) có gặp khó khǎn khi tắm
không? Ông (bà) có thể tự tắm được
không? Ông (bà) có thể tự vào/ra
khỏi vòi tắm hoặc bồn tắm được
không?
Nấu ǎn Ai chuẩn bị bữa ǎn? Ông (bà) có
thức ǎn phân phát tận nơi không? Ai
là người mua bán thực phẩm? (Còn
có ai sống cùng với bệnh nhân và có
đủ thức ǎn cho tất cả mọi người
không?)
Mặc
quần áo
Ông (bà) có khó khǎn khi mặc quần
áo như kéo khóa hoặc đi giầy không?
Ông (bà)
có cần sự giúp đỡ khi mặc hoặc lựa
chọn quần áo không?
Công
việc nhà
Ai làm công việc nội trợ? giặt quần
áo?
Những vấn đề của các hoạt động đó như đi lại và vệ sinh cá nhân sẽ cung cấp các
thông tin quan trọng về sự ảnh hưởng của các bệnh mãn tính như viêm khớp, sa
sút trí tuệ, bệnh mạch máu não đối với bệnh nhân già. Cũng như vậy, sự ốm đau
không được chẩn đoán ở người già thường được biểu hiện theo cách không điển
hình và thầm kín. Do vậy, những khó khǎn mới xuất hiện và những khó khǎn tǎng
lên trong việc thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động mang
tính phương tiện nên được xác định và kiểm tra. Cuối cùng người thầy thuốc sẽ có
thể đánh giá những đáp ứng của bệnh nhân để điều trị qua việc chú ý đến bất cứ sự
thay đổi nào về khả nǎng thực hiện các chức nǎng.
Lịch sử gia đình nên chú trọng tới sự tồn tại và tính ổn định của những hỗ trợ
máng tính xã hội hơn là những bệnh trong gia đình. Nó có thể giúp cho người thầy
thuốc nhận biết được ai là thành viên quan trọng trong gia đình. Nó cũng sẽ cung
cấp một cách rõ nét về quá trình bệnh mãn tính và cái chết của bệnh nhân trong gia
đình. Nhiều cá nhân và cơ quan có thể thành lập một hệ thống hỗ trợ xã hội cho
người già, kể cả vợ chồng, trẻ em, các thành viên khác trong gia đình, hàng xóm,
bạn bè, những người tình nguyện, các cơ sở dịch vụ xã hội và những cơ sở chǎm
sóc sức khỏe tại nhà, tổ chức "Bữa ǎn trên xe lǎn", những trung tâm chính của
người thành thị, cơ sở chǎm sóc sức khỏe người trưởng thành, nhà thờ hoặc giáo
đường.
Nếu hệ thống hỗ trợ xã hội đối với các bệnh nhân tàn tật bị hạn chế hoặc manh
mún thì việc quan sát những dấu hiệu cǎng thẳng của người chǎm sóc có thể thấy
sự ngược đãi hoặc sự sao lãng đối với người già. Thêm vào những biểu hiện thực
thể rõ ràng, sự ngược đãi có thể được biểu hiện như sự không tuân thủ trong dùng
thuốc, trong điều trị hoặc sự khám lại, dùng tiền của bệnh nhân không phù hợp
hoặc không muốn cho người bệnh dùng kính, gậy hoặc máy trợ thính. Bởi vì sự
ngược đãi và sự sao lãng thường là không bộc lộ nên người thầy thuốc phải luôn
đặc biệt chú ý tới vấn đề này. Một cách lý tưởng để tránh những vấn đề như vậy
nên tập trung vào việc xác định và nói chuyện với người chǎm sóc, những người
đang trong tình trạng rất cǎng thẳng. Khuyến khích người chǎm sóc để thǎm dò
những lựa chọn của họ về sự hỗ trợ chǎm sóc ngoài gia đình để làm giảm bớt
thực hiện các chức nǎng. Quan sát bệnh nhân đi vào phòng khám bệnh, xem xem
họ có cần sự hổ trợ nào không. Nhìn bệnh nhân làm các động tác như bỏ giầy,
đứng lên khỏi ghế và đi lại trong phòng. Để hỗ trợ bệnh nhân có suy yếu về mặt
thực thể, có thể cần dàn xếp để bệnh nhân đến được các phòng khám thông thường.
Những dấu hiệu sống còn là rất quan trọng trong mỗi lần thǎm khám. Nếu nghi
ngờ bệnh nhân có tiền sử tụt huyết áp khi đứng thì kiểm tra huyết áp và nhịp tim
cả khi nằm và khi đứng. Khi bắt mạch cho bệnh nhân phải đo đầy đủ trong một
phút để đánh giá sự bất thường về số lần mạch đập và tính chất nhịp đập mà có thể
không phát hiện được bằng cách khác. Cân bệnh nhân mỗi lần khám bệnh để đánh
giá tình trạng dinh dưỡng và là phương pháp hữu hiệu để theo rõi tình trạng phù
do thiếu dinh dưỡng trong bệnh mãn tính. Nhiều bệnh nhân phải sử dụng xe đẩy
vẫn có thể đứng để cân được.
Những thay đổi về mặt giải phẫu và sinh lý thường xuất hiện theo tuổi có thể là
bằng chứng trong khám thực thể. Một vài những thay đổi này có thể làm giảm tính
đàn hồi và độ khô của da, sự kém đàn hồi của mạch máu (có tiếng thổi và áp lực
máu tâm thu tǎng); nhược cơ và loãng xương, phản xạ gân xương giảm hoặc
không còn. Những thay đổi này và cả những thay đổi khác có thể làm cho người
thầy thuốc khó phân biệt cái gì là biểu hiện lành tính (là một phần của quá trình
tuổi tác) hoặc cái gì là biểu hiện bệnh lý và vì vậy nó có ý nghĩa. Bảng 10.2 trình
bày tóm tắt những sự thay đổi này.
Bảng 10.2. Một vài thay đổi của cơ thể theo tuổi tác
Da Giảm tính đàn hồi, xuất hiện các vết nhǎn. Dễ xuất hiện các vết thâm tím, đặc
biệt ở những vùng tiếp xúc ánh nắng. Gầy xuất hiện, đặc biệt chân tay, dẫn
tới dễ bị các vết thương xây xát.
Tóc Tóc hoa râm, 50% người Mỹ có tóc hoa râm >50% ở độ tuổi 50. Tóc, lông
thưa ở vùng đầu, nách. xương mu và phần chi trên và chi dưới. Rụng tóc trán
ở nam giới nhưng phụ nữ có thể mọc râu mép.
Móng chân
tay
Mọc chậm
Hệ thống
tim mạch
Huyết áp tâm thu tǎng theo tuổi do sức bền của mạch ngoại vi tǎng. Huyết áp
tâm trương tǎng đến độ tuổi 55, sau về bình thường hoặc giảm.
Hệ thống hô
hấp
Tính co giãn của phổi giảm và sức cản thông khí tǎng. ít sự thông khí ở đáy
phổi nhưng nhiều ở đỉnh phổi.
Hệ thống
tiêu hóa
Tính di động của ruột giảm gây nên chứng táo bón là rất hay gặp
Hệ thống
tiết niệu
Khả nǎng lọc của cầu thận giảm theo tuổi. Chứng đái đêm hay gặp ở cả nam
và nữ. Tính không tự kiềm chế rất hay gặp, nhưng nó không phải là một phần
của sự già đơn thuần.
Hệ thống
sinh sản
Nam: Tuyến tiền liệt thường to ra. Giảm tiết Testosterol dẫn đến tinh hoàn
nhỏ lại. Nữ: Giảm tiết Estrogen ở giai đoạn mãn kinh. Do đó âm đạo bị teo và
đường kính có thể hẹp và ngắn lại . Dịch tiết âm đạo trở nên kiềm hơn.
Những thay đổi về huyết áp liên quan đến tuổi tác cần phải được lưu ý. Những
nghiên cứu về mặt dân số chỉ ra rằng huyết áp tâm thu trung bình tǎng theo tuổi,
nhưng trái lại huyết áp tâm trương lại giảm ngoài tuổi 55 đến 60. Tǎng huyết áp
tâm thu và tâm trương kết hợp (được quy định khi huyết áp tâm thu lớn hơn 160
mmHg và huyết áp tâm trương lớn hơn 95 mmHg) cho thấy có ở khoảng 1/3 người
già trên hoặc bằng 65 tuổi ở Mỹ. Tǎng huyết áp tâm thu đơn thuần (được xác định
khi huyết áp tâm thu lớn hơn 160 mmHg và huyết áp tâm trương thấp hơn hoặc
bằng 90 mmHg) là khá đơn độc đối với người già chiếm khoảng 10% số người già
5. Mùa
6-10. Ông (bà) có thể nói cho tôi biết nơi chúng ta đang
ngồi là ở đâu? tầng mấy? Thị trấn nào? Tỉnh nào? Nước
nào?
6. Cơ quan
7. Tầng
8. Thị trấn (thành
phố)
9. Tỉnh
10. Nước
Khả nǎng ghi nhớ:
11-13. Hỏi nếu có thể kiểm tra được trí nhớ. Sử dụng 3 từ:
bóng, cờ, cây. Đọc chậm và rõ ràng 3 từ này. Yêu cầu
người già nhắc lại. Lần nhắc lại đầu tiên, được tính điểm
(0-3), nhưng có thể tiếp tục cho đến khi nhắc lại đúng(tối
đa 6 lần)
11. Bóng
12. Cờ
13. Cây
Khả nǎng chú ý và tính toán:
14-18. "Bắt đầu từ con số 100 và trừ ngược trở lại với cơ số
7. Dừng lại sau 5 lần làm phép tính trừ (65) Tính tổng số
điểm các câu trả lời đúng. Nếu người già không thể tính
toán được, yêu cầu họ đánh vần ngược từ "world", tính
điểm cho các chữ được đánh vần theo đúng thứ tự.
14. "93"
15. "86"
26. Gập giấy
27. Đặt xuống
nền nhà
28. Người già
đọc được
29. Viết được một
câu hoàn chỉnh có
chủ ngữ / động từ
30. Vẽ các hình 5
cạnh
Tổng số điểm:
Cách chấm điểm: 1 điểm cho mỗi câu trả lời đúng. Nếu tổng số điểm ít hơn 24
điểm nghĩ nhiều người già đó bị bệnh sa sút trí tuệ.
Hình 10.1. Kiểm tra tình trạng tâm thần tối thiểu (sửa đổi từ tài liệu "tình
trạng tâm thần tối thiểu" của Folstein MF, Folstein SE, Mchugh PR: một
phương pháp thực tế cho thầy thuốc để đánh giá tình trạng tri thức của bệnh
nhân.
Các xét nghiệm lab và những nghiên cứu đặc biệt khác
Cũng như nghiên cứu trên bất kỳ bệnh nhân nào, những xét nghiệm lab nên được
chọn một cách cẩn thận. Người thầy thuốc luôn luôn phải hỏi các câu hỏi: Những
kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng trong điều trị như thế nào? Những lợi ích có
ảnh hưởng tới giá thành và nguy cơ tiềm tàng không? Mặc dù những xét nghiệm
một cách đầy đủ thường được sử dụng với mục đích sàng lọc, nhưng không phải
chúng luôn luôn mang tính chi phí/hiệu quả đối với bệnh nhân già, đặc biệt là khi
chỉ cần một xét nghiệm có giá trị bất bình thường đã dẫn tới yêu cầu của việc đánh
giá xa hơn.
Những kết quả của nhiều xét nghiệm ở bệnh nhân già có thể được đánh giá theo số
liệu chuẩn của bệnh nhân trẻ. Tuy nhiên nhiều ngoại lệ cần được lưu ý như:
Do khối lượng cơ giảm lượng creatinin trong máu giảm theo tuổi sẽ đánh
giá thấp chức nǎng thực sự của thận. Lượng creatinin cần phải được chú ý
Tuy nhiên, bất kể tới tình trạng hiện tại của người già, người thầy thuốc nên đặt
mục đích vào sự phòng bệnh hoặc phục hồi sự suy giảm chức nǎng. Nếu người
thầy thuốc làm việc trong cơ sở y tế thì một loạt các vấn đề thường hay gặp sẽ là
"cholesterol huyết thanh cao", "cao huyết áp tâm thư", "giãn tĩnh mạch nhỏ bên
trái". Tuy nhiên, những vấn đề này ít thấy có sự phàn nàn ở bệnh nhân hơn là sự
phàn nàn về táo bón, hàm giả không khít hoặc chi phí cho điều trị hàng ngày.
Chúng tôi khuyến cáo rằng các loại vấn đề của bạn thường được chia ra làm 3
loại : (a) nội khoa, bao gồm cả chẩn đoán và những kết quả không rõ nguyên nhân;
(b) chức nǎng như mất ngôn ngữ, không tự chủ, dáng đi yếu ớt; (c) tâm lý xã hội
như sự cô lập, nghèo khổ hoặc sự cǎng thẳng về người chǎm sóc. Khi các vấn đề
và nhu cầu của người bệnh được xác định thì người thầy thuốc nên hỏi bệnh nhân
về thứ tự xuất hiện của chúng.
Khoảng thời gian đáng kể và ý kiến về mặt chuyên môn có thể được đặt ra để xác
định các vấn đề của người già một cách đầy đủ và đưa ra các kế hoạch quản lý một
cách hợp lý. Khó có thể thǎm dò và xác định tất cá các vấn đề nội khoa, tâm lý, xã
hội, kinh tế và vấn đề gia đình trong mỗi lần khám bệnh. Một bệnh nhân có bệnh
phức tạp sẽ có thể được quản lý tốt hơn khi người thầy thuốc làm việc trong một
nhóm bao gồm: (a) các nhà chuyên môn y tế khác như các thầy thuốc khác, y tá,
cán bộ xã hội, y tá chǎm sóc tại nhà, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng hoặc
dược sĩ lâm sàng; (b) các thành viên trong gia đình hoặc người chǎm sóc; (c) hàng
xóm hoặc bạn bè; (d) các đối tượng khác trong cộng đồng như nhân viên chǎm sóc
của trung tâm ban ngày, nhóm hỗ trợ người bị bệnh sa sút trí tuệ hoặc nhà tế bần.
ở bệnh viện và ở phòng khám chuyên khoa cho người già, một nhóm chǎm sóc đa
lĩnh vực được thành lập tại cùng một nơi và gặp nhau một cách thường xuyên.
Trong phòng khám sơ bộ, những nhóm như vậy là không chính thức và nhìn
chung tiếp xúc với bệnh nhân qua điện thoại. Người thầy thuốc phải tổ chức và
cộng tác một cách tích cực với các hình thức này.
THǍM KHáM TạI NHà
Thǎm khám tại nhà là một phần cần thiết của y học tuổi già. Hơn các nhóm bệnh
nhân khác, người già có nhiều thuận lợi nếu thầy thuốc sẵn sàng đến khám tại nhà.
Việc điều trị các bệnh nhân có biểu hiện rõ ràng của xơ vữa động mạch (như bệnh
động mạch vành và mạch ngoại vi) có thể là thích hợp ở tất cả các lứa tuổi. Cùng
với các vấn đề về duy trì sức khỏe thì cần thiết phải có sự thảo luận với bệnh nhân
về các yếu tố nguy cơ và lợi ích của các can thiệp.
Đối với những phụ nữ trẻ xét nghiệm ung thư cổ tử cung (test papanicolaou) phải
được tiến hành hàng nǎm cho đến khi có kết quả ba lần bình thường, và sau đó cứ
ba nǎm xét nghiệm lại một lần. Nay việc xác định ung thư cổ tử cung được tổ chức
Medicare kiểm soát. Tuy nhiên nhiều phụ nữ đứng tuổi hơn có thể miễn cưỡng
chấp nhận quá trình kiểm tra này nếu họ có mọt vài lần kiểm tra khung chậu trong
cuộc đời họ. Sự kiểm tra khung chậu là cần thiết để đánh giá sự không kiềm chế
đại tiếu tiện và có thể phát hiện ra bệnh âm hộ và khoang bụng hoặc những bệnh
lý xương chậu mà bệnh nhân không nhận ra được ít nhất nên kiểm ra ung thư cổ tử
cung một lần cho tất cả các phụ nữ trên 65 tuổi mà họ chấp nhận sự kiểm tra và
biện pháp điều trị có thể được đưa ra khi phát hiện được những biểu hiện bất
thường. Nếu xét nghiệm phát hiện ung thư cố tử cung là bình thường thì sự cần
thiết của các xét nghiệm sâu hơn nên được thảo luận với bệnh nhân đặc biệt nên
chú ý đến lịch sử tình dục và các yếu tố liên quan phù hợp khác.
Khám vú và chụp X-quang vú nên được tiến hành hàng nǎm cho tất cả phụ nữ trên
65 tuổi. Tuy nhiên, Chụp X-quang tuyến vú có thể là không thích hợp cho những
bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc những người không muốn điều trị khi bị phát hiện
ung thư. Soi đại tràng xích-ma nên được kiểm tra ít nhất 3 hoặc 5 nǎm một lần ở
những người trên 50 tuổi để phát hiện ung thư đại tràng. Quá trình này vẫn chưa
được các công ty bảo hiểm tài trợ, kể cả tổ chức Medicare. Soi đại tràng xích-ma
cũng đòi hỏi bệnh nhân phải có sự cộng tác lớn và chịu đựng được những khó chịu
khi làm thủ thuật. Do vậy, bệnh nhân nên được thông báo một cách đầy đủ và chấp
nhận về mặt giá thành khi kết quả kiểm tra là âm tính và họ muốn có sự kiểm tra
một cách sâu hơn các khối u hoặc phát hiện những bất thường khác.
Một yếu tố quan trọng đối với người thầy thuốc trong duy trì sức khỏe người già là
thảo luận và dẫn chứng được bệnh nhân muốn được điều trị thế nào khi họ không
có khả nǎng tham gia vào những quyết định trong điều trị. Nhìn chung người già
hội. Nó không chỉ là sự không có bệnh. Nâng cao và duy trì chức nǎng, không
phải chỉ chẩn đoán và điều trị bệnh, là vai trò ban đầu của người thầy thuốc trong
chǎm sóc người già. Như vậy, có nhiều vấn đề đạo đức cần quan tâm khi tiếp xúc
với người già. Kỹ thuật y học hiện đại hiện nay cho phép người thầy thuốc có các
can thiệp điều trị trong nhiều quá trình bệnh mãn tính, nhưng những can thiệp đó
không nâng cao chất lượng sống một cách cần thiết. Để có những lời khuyên và
chǎm sóc bệnh nhân một cách thích hợp, người thầy thuốc phải kiểm tra những
cảm giác của chính bạn về quá trình tuổi và các vấn đề ở giai đoạn cuối của cuộc
sống.
Việc cung cấp chǎm sóc có chất lượng cho các bệnh nhân già có thể vừa là đáng
làm nhưng cũng có thể là vô hiệu. Người thầy thuốc nên nhận ra rằng không phải
nó luôn luôn thích hợp với tất cả các vấn đề và cũng nên nhận ra rằng những mong
muốn của người bệnh phải luôn được quan tâm. Sự thuận tiện có thể là mục tiêu
quan trọng nhất. Cuối cùng, người thầy thuốc không nên làm việc một mình để
xác định các vấn đề và nhu cầu. Các thành viên khác trong nhóm chǎm sóc nên
được tham gia vào việc cung cấp chǎm sóc tốt nhất cho bệnh nhân già.