Hun Sen nhân vật xuất chúng của Campuchia - TRỐN SANG VIỆT NAM - Pdf 20

TRỐN SANG VIỆT NAM

TÙ NHÂN

Họ bồn chồn chờ đợi trong đêm. Khi màn đêm buông xuống bao phủ họ, bốn
người lính Khơme Đỏ và một người chỉ huy đi bộ khỏi một căn cứ nhỏ của họ gần
biên giới Việt Nam . Họ đang trốn khỏi nanh vuốt của Angkar.

Họ đang chạy trốn khỏi kẻ thù này sang ngay tay của một đối phương khác. Từ
một kẻ ma quái hiểu rõ ràng, họ đang chuyển sang một chốn nguy hiểm khác chưa
biết thế nào. Đó là một sự may rủi mà họ sẵn sàng chấp nhận. Chết bởi viên đạn
của Việt Nam còn hơn phải sống dở chết dở dưới chế độ Khơme Đỏ .

Di chuyển luồn qua các cây thốt nốt cao mọc thưa thớt ở vùng đồng bằng và nguy
hiểm, họ tiến gần tới Việt Nam . Tất cả họ mang trong ba lô vỏn vẹn một khẩu
phần gạo, thuốc lá và hộp diêm.
Hun Sen và bốn người lính mà ông tin tưởng – Nhek Huon, Nuch Than, San Sanh
và Paor Ean – lẩm bẩm khấn vái và bắt đầu đoạn đường dài vất vả của mình sang
Việt Nam vào lúc 9 giờ tối ngày 20 tháng 6 năm 1977. Năm người di chuyển từng
bước một, cẩn thận chọn lối đi qua các bãi mìn đã được cả Campuchia lẫn Việt
Nam cài. Khi họ vượt qua biên giới Việt Nam thì đồng hồ của Hun Sen chỉ đúng 2
giờ sáng. Đó là vào ngày 21 tháng 6. Điểm băng ngang của họ ở phía Campuchia
là Koh Thmar, một ngôi làng nhỏ , là một phần của xã Tunloung ở huyện Memot
trong tỉnh Kompong Cham và nằm ngay phía trước huyện biên giới Lộc Ninh án
ngữ của Việt Nam thuộc tỉnh Sông Bé.
Họ tiến đến trong nỗi sợ hãi . Bóng đêm làm cho họ khó nhìn thấy được các đơn vị
bộ đội Việt Nam đồn trú ở đâu. Sau khoảng 200 mét đi vào Việt Nam , Hun Sen
đề nghị với lính của ông rằng họ nên dừng lại nghỉ. Họ nấu một ít cháo, rồi húp
cháo loãng. Không bao giờ đủ gạo trong tình trạng gần chết đói là chuyện thường
xảy ra dưới chế độ cai trị của Pol Pot.
Hun Sen kể “ Trong lúc ăn qua loa đó, tôi thấy tất cả những người đi cùng mình

trên. Chủ tịch ngồi ở bàn đầu đưa ra câu hỏi, trong khi hai người ghi chép, còn
thông dịch viên ngồi ở hai cái bàn kia. Thời gian tra hỏi kéo dài khoảng 90 phút.
Hun Sen kể “ Họ nghĩ tôi là một gián điệp vào Việt Nam để thu thập tin tức. Tôi
cho họ biết thông thường một cán bộ chỉ huy không đảm trách công tác quân báo
cho chính mình. Tôi nói là mình có nhiều người làm công tác này và tôi không cần
phải tự làm đó. Tôi cho họ biết là nếu chúng tôi muốn tấn công các làng xã Việt
Nam thì chúng tôi có thể thực hiện quá dễ dàng vì chúng tôi không phải đối mặt
với người bộ đội nào trên đường sang Việt Nam “,
Có vẻ như câu trả lời của Hun Sen đã thuyết phục được các viên chức địa phương
Việt Nam ở đấy, họ khiêng bàn ra và xuống ngồi trên chiếu cùng với các người
vượt biên Campuchia . Với điệu bộ đó, những người Campuchia này đã cảm thấy
yên lòng.
Ngay lúc họ ngồi gần nhau thì những người Việt hiếu khách ùa tới. Họ nấu cơm
cho chúng tôi ăn bằng “nồi số 10”, một cái nồi thường được dùng để nấu cơm cho
10 tới 16 người ăn và còn làm cả món rau và thịt heo.
Hun Sen kể “ Năm người chúng tôi ăn hết tất cả đồ ăn vì lần đầu tiên trong hai
năm rồi chúng tôi mới được ăn bữa cơm như vậy. Trong hai năm trời chúng tôi
chẳng có gì ăn ngoài cháo “.
Sau bữa ăn vào khoảng 4 giờ chiều, họ được lệnh đưa đi thêm 4 cây số nữa. Ông
cảm thấy yên tâm vì dân quân Việt Nam không còn chĩa súng vào mình nữa,
nhưng vẫn còn sợ cho tương lai trước mắt của họ.
Ông đã gặp phải thêm một đối phương nước ngoài nữa là muỗi Việt Nam . Ông đã
bị bệnh sốt rét tra tấn trong chặng đường đi qua các rừng cây cao su và trên các
con đường làng.
Ông kể “Tôi bắt đầu run cầm cập, có lẽ vì chúng tôi đã ăn quá no hay có thể vì
bệnh sốt rét “.
Nhìn thấy ông run cầm cập, anh xã đội trưởng đang áp tải họ đi đã phải xách túi hộ
ông. Cuối cùng họ đến một xã có tên là Làng Xinh trong nông trường cao su của
Lộc Ninh.
Ở đó năm người trốn thoát này đã khiến cho người ta phải tò mò.

bậc chỉ huy cao.
Hun Sen kể “ Các anh em kia nghĩ tôi sẽ bị lôi đi giết. Người cán bộ chỉ huy trung
đoàn Việt Nam này có cấp bậc trung tá đã hỏi một mình tôi từ 7 giờ 30 sáng tới 12
giờ trưa. Tôi thấy ông hơi quen, nhưng ông ta không tỏ ra là đã quen biết tôi .
Thật là may ông đã gặp cán bộ chỉ huy này vào năm 1970. Hồi đó, Hun Sen mới là
một tân b inh, đã đi vào rừng, trong vùng của cán bộ chỉ huy Việt Nam này và lực
lượng bộ đội của ông ta đóng quân.
Hun Sen nói “ Vì vậy, khi nhớ lại, ông biết mình đã ghé đến một đơn vị đồn trú
gần đơn vị của ông. Bình thường, trong hoàn cảnh như thế, cả hai bên đều biết các
cán bộ chỉ huy của nhau “.
Người cán bộ chỉ huy Việt Nam ấy vẫn chưa tin. Cuộc điều tra dài dòng và hết sức
mệt mỏi. Vào lúc 11 giờ 30 tối, ông bị cán bộ này đe dọa sẽ phải chịu hậu quả rất
ghê gớm.
Hun Sen kể “ Tôi nói với ông ta là mình là một cán bộ chỉ huy trung đoàn, nhưng
người thông dịch đã truyền đạt lầm lẫn tôi là cán bộ chỉ huy trung đội. Tôi còn cho
biết dưới tay tôi có hơn 2.000 quân, nhưng do bị thương vong ở trận địa và bị tống
giam, nên chỉ còn lại 1.776 chiến sĩ. Thế rồi, cán bộ chỉ huy ấy quát lên và cho là
tôi đang nói láo. Sau đó , tôi mới hiểu câu trả lời mình đã bị dịch sai “.
Ông cố gắng thăm dò bằng cách khác. Ông đã tự hỏi không biết cán bộ chỉ huy
Việt Nam lớn tuổi này có biết nói tiếng Pháp hay không vì ông ta đã phục vụ quân
đội cách mạng Việt Nam từ thời thực dân Pháp cai trị.
Ông kể “ Tôi nói cho ông ta biết mình phụ trách trung đoàn , chứ không phải trung
đội. Lúc ấy, người cán bộ chỉ huy này đã hiểu ra và nhắc người thông dịch đổi từ
trung đội thành trung đoàn.
Khi thẩm vấn xong, ông trở lại đã thấy bốn đồng hương Campuchia của mình
đang khóc. Hun Sen , người trẻ nhất trong số họ, hóa ra là người lì lợm nhất.
Họ bị giữ ở đó một đêm. Vào lúc 3 giờ chiều ngày hôm sau, họ bị đưa lên xe tải
GMC đã chất sẵn củi. Họ không biết mình bị đưa đi đâu. Họ chỉ lo bị đưa trả về Pl
Pot, thì chỉ có nước chết.
Hun Sen kể “ May mắn là tôi không bị còng tay từ lúc tôi gặp người Việt Nam cho

Hun Sen đã bị giam ở Sông Bé 22 ngày cho tới khi ông đổ bệnh sốt rét nặng. Thấy
ông run cầm cập không sao kềm nổi, phía Việt Nam đưa ông vào bệnh viện.
Ông kể “ may mắn là tôi bị mắc bệnh sốt rét và càng ngày càng ốm. Vì vậy, tôi
mới được đưa vào một trong các bệnh viện quân đội ở tỉnh Sông Bé, còn bốn đồng
hương của tôi vẫn còn bị giam trong tù “.
Được chuyển vào bệnh viện là điều may mắn bất ngờ. Ông được cho các khẩu
phần ăn ngon hơn nhiều, vì lúc bấy giờ phía Việt Nam chấp nhận cấp bậc của ông
là trung tá. Ông để dành khẩu phần với số tiền trợ cấp hàng ngày cho các đồng
hương của mình đang bị giam cầm. Sau khi được xuất viện, ông và các bạn của
ông được tự do hơn một chút.
Ông kể “ Nhưng là sự tự do trong khuôn khổ của trại lính. Chúng tôi đã chiếm
được lòng tin của họ. Chúng tôi được phép đi lại trong trại và nói chuyện với bộ
đội. Các bộ đội Việt Nam cả những người bị kỷ luật và không vi pham kỷ luật đều
thân thiện với tôi”.
Các điều kiện sống được cải thiện với trợ cấp hàng ngày là 6.000 đồng và có thể
chịu được khi một số bộ đội Việt Nam chia sẻ với họ đồ ăn từ gia đình của những
người này gửi vào. Thậm chí họ còn cho Hun Sen quần áo mặc.
Nhưng Hun Sen vẫn phải lo ngay ngáy không yên. Liệu cứ bị cầm tù mãi chăng ?
Hay liệu họ có bị trả về cho Pol Pot để rồi bị phanh thây không ?
Tin đào ngũ của ông nhanh chóng tới tai các chính ủy Angkar. Khi ấy họ biết là
Hun Sen đã trốn sang Việt Nam , họ đã trả đũa bằng cách buộc Bun Rany phải lao
động chân tay cực nhọc. Cô bị bắt phải đi đốn hạ các cây to và khai hoang đất. Lúc
nào cô cũng bị bí mật theo dõi và việc đi lại của cô đều bị giám sát. Sự trùng hợp
ngẫu nhiên là cùng một lúc cả hai vợ chồng ông đều trở thành các tù nhân khốn
đốn dưới các hoàn cảnh khác nhau.
Cô kể “ Mặc dù tôi không bị nhốt trong tù. Nhưng lúc nào tôi cũng bị canh gác.
Vào ban ngày, tôi bị sai đi nhổ cỏ, dọn sạch các bụi cây to và rậm rạp để khai
hoang đất. Đó là một công việc vất vả muốn gãy cả lưng “.
Khơme Đỏ tạo ra nhiều cách quỷ quyệt khác nhau để làm mòn mỏi lòng tự trọng
và niềm tin của những người họ muốn trừng trị và tra tấn Họ tách phụ nữ thành

họ có thể bám theo và giết chúng tôi”.
Tạm thời cô đã không còn bị bắt đi lao động khi cán bộ Angkar cho là Hun Sen đã
bị chết và họ chỉ còn theo dõi các sinh hoạt của cô.
Cô kể “ Còn ba phụ nữ chúng tôi là những người mà Angkar nghi ngờ không trung
thành với họ và chúng tôi sống chung với nhau ở cùng khu vực. Sau này, khi họ
nghe tin Hun Sen vẫn còn sống, họ giả bộ gọi chúng tôi đi họp với ý đồ đưa chúng
tôi tới một khu vực khác. Dựa vào những gì đã xảy ra không biết bao nhiêu lần đối
với bạn bè và những người quen của chúng tôi, những người đã bị biến mất, tôi
biết nêu bị đưa đi theo kiểu này thì chúng tôi sẽ chết chắc”.
Ngay cả những nông dân dám liều tới khu vực ấy để tìm kiếm điều kiện sống tốt
hơn cũng đều bị đưa đi rồi bị giết. Cô bị dằn vặt bởi suy nghĩ về gia đình của hai
người dì đã bị đưa đi rồi bị giết.
Một đêm nọ, Bun Rany tình cờ nghe được hai tên cán bộ lãnh đạo Khơme Đỏ nói
với nhau là cô sẽ được đưa đi rồi giết vào sáng hôm sau.
Cô kể “ Đêm đó chúng tôi tính trốn vào rừng “.
Ngay đêm ấy cô và một vài ‘bà góa’ đã trốn thoát . Những người đào tẩu ấy đã
mệt mỏi và khát nước. Mặc dù họ ở gần một dòng sông, nhưng họ không dám cả
gan mon men tới con sông ấy vì đầy các xác chết trôi lềnh bềnh.
Đó là một cảnh rùng rợn. Angkar có thói quen quái dị - nếu người đói ăn cắp đồ ăn,
bất kể họ lấy thứ gì đều sẽ bị trói tay bằng khăn krama.
Bun Rany kể “ Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được cảnh tượng một đứa bé chết trôi
trên sông, nó đã ăn cắp một quả ổi và đã bị trói tay thả sông”.

Cô nói, người ta đang đói gần chết, nhưng không ai được phép chạm vào bất cứ
trái chuối nào ở trên cây mọc ở gần trại. Thậm chí Khơme Đỏ còn tịch thu tất cả
chén đĩa, xoong, nồi và đồ dùng để không cho người ta nấu nường và ăn bất cứ thứ
gì tại nhà. Mỗi người được phép giữ một cái đĩa và một cái muống. Giống như
những kẻ nô lệ, những người trong trại sẽ được tập trung bằng kẻng để đến ăn
cháo loãng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status