Đề án môn học
Lêi nãi ®Çu
Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự phồn thịnh hay suy thoái, phát
triển hay tụt hậu của đất nước. Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát
triển, những bước phát triển mới về hội nhập của Việt Nam trong xu thế toàn cầu
hóa kinh tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng và nhanh chóng đòi hỏi nền kinh tế
phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh. Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta
cũng đã chủ trương: mở cửa kinh tế thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước hướng về xuất khẩu, coi hoạt động xuất khẩu là mục tiêu phát
triển của nền kinh tế quốc dân. Vì thế việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong
xuất khẩu là vấn đề cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trước tình
hình trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: Năng lực cạnh tranh trong xuất
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Với cái nhìn tổng quát về tình hình xuất
khẩu cũng như năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam trong những
năm gần đây. Từ đó đưa ra những phương hướng nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh trong xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Để có được bài nghiên cứu này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Thạc
sĩ Nguyễn Thị Thu Hương đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề án !
Sv:Nguyễn Thị Thu Hà_K14-QT1
1
Đề án môn học
ch¬ng I
lý luËn chung vÒ xuÊt khÈu vµ n¨ng lùc c¹nh tranh
trong xuÊt khÈu
I. XUẤT KHẨU.
1. Khái niệm.
Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
hoặc đưa vào lành thổ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là
khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
2. Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế
Thứ nhất xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
ngoại của nước ta.
Xuất khẩu và quan hệ kinh tế có tác động qua lại với nhau, hoạt động xuất
khẩu có sớm hơn hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các
mối quan hệ này phát triển. Ví dụ xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất
khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng quan hệ quốc tế.
Sv:Nguyễn Thị Thu Hà_K14-QT1
3
Đề án môn học
II. NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG XUẤT KHẨU.
1. Khái niệm chung về năng lực cạnh tranh.
1.1. Khái niệm.
Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh
của những hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, cạnh tranh là cuộc ganh đua giữa
những người sản xuất hàng hoá, giữa thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền
kinh tế thỉtường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành điều kiện sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm , thị trường một cách có lợi nhất.
Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ vô cùng
phong phú và đa dạng. Đặc biệt, trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, công
nghệ ngày càng phát triển sản phẩm hàng hoá, dịch vụ ngày càng trở nên thừa,
nhu cầu của con người ngày một cao hơn thì việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
ngày càng trở nên khó khăn hơn. Hàng hoá, dịch vụ chỉ được tiêu thụ khi nó thực
sự nổi bật hơn các hàng hoá và dịch vụ khác. sự nổi bật ấy tạo nên khả năng
giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh giành quyền tiêu thụ.
1.2. Phân loại năng lực cạnh tranh.
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, năng lực cạnh tranh là
điều kiện sống còn để tồn tại và phát triển trên thị trường trong nước và quốc tế.
Năng lực cạnh tranh có ba loại cơ bản: năng lực cạnh tranh quốc gia;
năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng ta đi sâu nghiên cứu năng lực
Năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu thể hiện thực lực và lợi thế của doanh
nghiệp trong hoạt động xuất khẩu so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường quốc
tế trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng
cao trên thị trường quốc tế.
3. Các yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu.
3.1. Chất lượng sản phẩm và công nghệ.
3.1.1. Chất lượng sản phẩm
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Mỗi
khái niệm đều có những cơ sở khoa học nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm
vụ nhất định trong thực tế. Đứng trên những góc độ khác nhau và tùy theo mục
tiêu, nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đưa ra những
quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản xuất, người tiêu dùng, từ sản
phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường.
• Quan niệm xuất phát từ sản phẩm: Chất lượng sản phẩm được phản ánh
bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Quan niệm này đồng nghĩa chất
lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm. Tuy nhiên,
sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người tiêu dùng
đánh giá cao.
• Theo quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn
hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn,
quy cách đã xác định trước.
• Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của
sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
Sv:Nguyễn Thị Thu Hà_K14-QT1
6
Đề án môn học
• Ngày nay người ta thường nói đến chất lượng tổng hợp bao gồm: chất
lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt được
mức chất lượng đó. Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quan
niệm chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng và
không ổn định, năng suất thấp. Điều ấy không chỉ hạn chế năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là các doanh nghiệp ở các
nước phát triển có công nghệ hiện đại, họ có chi phí nghiên cứu và phát triển sản
phẩm mới chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu công
nghệ kĩ thuật mới nâng cao chất lượng và năng suất lao động hay tạo ra các sản
phẩm mới độc đáo, hiện đại, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Nó còn
hạn chế doanh nghiệp trong việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh, hạn chế khả
năng cạnh tranh bằng giá.
3.2. Các nghành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp.
Hoạt động xuất khẩu là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp. Nó bị chi phối
bởi thị trường xuất khẩu và tập quán thương mại quốc tế. Để tiến hành hoạt động
xuất khẩu phải tiến hành rất nhiều các công đoạn từ xin giấy phép xuất khẩu,
đăng kí hạn ngạch, đăng kí dịch vụ thanh toán theo tập quán thương mại quốc tế
hay thoả thuận giữa các bên, đến tìm hiểu thị trường, lựa chọn kênh phân phối
phù hợp.
Sv:Nguyễn Thị Thu Hà_K14-QT1
8
Đề án môn học
Để đi từ nghiên cứu phát hiện nhu cầu thị trường đến việc đưa sản phẩm
vào thị trường là cả một quá trình lâu dài. Nhưng nhu cầu của người tiêu dùng dù
ở bất cứ quốc gia nào cũng luôn có sự thay đổi theo thời gian.Và thị trường dù ở
bất cứ quốc gia nào cũng có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, và yếu
tố thời gian, dịch vụ khách hàng kèm theo, khả năng hợp tác lâu dài, sự thuận
tiện trong thanh toán có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho bất cứ doanh nghiệp
nào.
Mặt khác, hoạt động xuất khẩu không chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh
của một ngành mà nó còn là sự liên doanh, liên kết giữa nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực sản xuất nhằm tận dụng lợi thế cạnh tranh trong nước để tiến hành hoạt động
xuất khẩu.
Hoạt động xúc tiến thương mại cũng đóng một vai trò quan trọng trong
trường tại một thời điểm nhất định. Ngoài các chỉ tiêu quy mô vốn kinh doanh,
lượng hàng tiêu thụ, doanh thu…, vị thế của doanh nghiệp thường được thể hiện
rõ nhất thông qua chỉ tiêu thị phần tuyệt đối và tương đối tính theo công thức
dưới đây:
Thị phần tuyệt đối= (Lượng hàng hoá(hoặc doanh thu) tiêu thụ của
doanh nghiệp / Tổng hàng hoá (hoặc doanh
thu) trên thị trường)*100%
Sv:Nguyễn Thị Thu Hà_K14-QT1
10
Đề án môn học
Thị phần tương đối= (Thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp / Thị
phần tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh lớn nhất
hoặc trực tiếp nhất)*100%
Vị thế cạnh tranh giống như một bức ảnh chụp doanh nghiệp trong môi
trường cạnh tranh ở một thời điểm cụ thể. Do đó vị thế cạnh tranh mang bản chất
“tĩnh”
3.5. Chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh
tranh của các nước trong hoạt động xuất khẩu.
Chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh doanh thu có
được từ hoạt động xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu mà càng lớn chứng tỏ khả
năng tiêu thụ hàng hoà xuất khẩu trên thị trường quốc tế, qua đó phản ánh năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây không phải là chỉ tiêu toàn
diện vì không phản ánh được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các
doanh nghiệp khác trên cùng một thị trường tiêu thụ.
4. Vai trò của năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu.
4.1. Vai trò của năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu.
Năng lực cạnh tranh, đặc biệt là năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu thúc
đẩy các doanh nghiệp thường xuyên cải tiến kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới,
2006
Crôm
Triệu
đô la
Mỹ
4.5 3.4 2.9 8.1 9.0 1.9
Dầu
thô
Nghìn
tấn
15423.5 16731.6 16876.0 17142.5 19500.6 17966.6 16418.9
Than
đá
Nghìn
tấn
3251.2 4291.6 6047.3 7261.9 11636.1 17987.8 29307.1
Thiếc
Tấn 3301.0 2233.0 1668.0 1953.0 1843.0 2533.0
Hàng
điện tử,
máy
tính
và linh
kiện
Triệu
đô la
Mỹ
788.6 709.5 605.4 854.7 1062.4 1427.4 1708.2
Xe đạp
và phụ
Cao su
" 273.4 308.1 454.8 432.3 513.4 554.1 708.0
Gạo
" 3476.7 3720.7 3236.2 3810.0 4063.1 5254.8 4643.4
Hạt
điều
nhân
" 34.2 43.6 61.9 82.2 104.6 109.0 126.8
Lạc
nhân
" 76.1 78.2 106.1 82.4 46.0 54.7 14.2
Chè
" 55.7 67.9 77.0 58.6 104.3 91.7 105.6
Gỗ và
sản
phẩm
gỗ
Triệu
đô la
Mỹ
311.4 343.6 460.2 608.9 1101.7 1561.4 1932.8
Hàng
thủy
sản
" 1478.5 1816.4 2021.7 2199.6 2408.1 2732.5 3358.1
2 . Thị trường xuất khẩu.
Thị trường xuất khẩu có ý nghĩa lớn đối với việc tăng trưởng xuất khẩu,
nếu năm 2000 mói có 7 nước và vùng lãnh thổ đạt trên 500 triệu USD (Nhật
Bản, Trung Quốc, Ôtrâylia, Xingapo, Đài Loan, Đức, Mỹ), thì đên năm 2004 đã
cao gấp đôi,lên 13 (thêm Anh, Hàn Quốc,Malaysia, Hà Lan, Pháp, Bỉ).