BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SUY
THOÁI CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ ĐÓI
NGHÈO Ở VIỆT NAM
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho
hoạt động sản xuất và cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng
năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió, Các sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và
văn hoá, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái
đất và không gian bao quanh trái đất.
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay
trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo. Ví dụ như nước ngọt, đất, sinh
vật, v.v là loại tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu.
Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái
không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo. Ví dụ như tài
nguyên khoáng sản, gien di truyền. Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ mỏ,
sẽ được chế biến thành các vật liệu của con người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian.
Tài nguyên gen di truyền của các loài sinh vật quý hiếm, có thể mất đi cùng với sự
khai thác quá mức và các thay đổi về môi trường sống.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác
các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩm
mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống và biến đổi khí hậu toàn
cầu.
I. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU:
1. Biến đổi khí hậu là gì?
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt
động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ
khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm
hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại
khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6.
CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn
khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra
từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
3. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu:
Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn
cầu đã được khẳng định là chủ yếu do hoạt động của con người.
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày
càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí
đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính
của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất. Những số liệu về hàm lượng khí
CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam
cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm
lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ
bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1.800,
hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm
2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí
CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần
lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb
(151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro carbon
(CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí
CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con
người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển. Đánh giá
khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng
do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao
thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu,
phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành
sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác.
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới
70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình
mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn
Độ. Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng
20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2
vết này, đặc biệt là khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có trong khí
quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất quan trọng đối
với sự sống trên trái đất. Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên hấp thụ bức xạ hồng
ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó
phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra
ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban
đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất.
Các chất khí nói trên, trừ CFCs, đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các
khí nhà kính tự nhiên. Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, trái đất của chúng
ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33oC, tức là nhiệt độ trung bình trái đất sẽ khoảng
18oC. Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí
nhà kính được gọi là “Hiệu ứng nhà kính”. Ngoài ra, khí ôzôn tập trung thành một lớp
mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại từ mặt
trời chiếu tới trái đất và thông qua đó bảo vệ sự sống trên trái đất.
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp về trước, ít nhất khoảng 10.000 năm, nồng độ các chất
khí nhà kính rất ít thay đổi, trong đó khí CO2 chưa bao giờ vượt quá 300ppm. Chỉ
riêng lượng phát thải khí CO2 do sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng hàng năm trung
bình tỷ lệ từ 6,4 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 23,5 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990 lên đến
7,2 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 45,9 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong thời kỳ từ 2000 – 2005. Các
nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat, nitrat…) gây ra
hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là 0,5W/m2 và
gián tiếp phản xạ của mây là 0,7W/m2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ
bề mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng 0,02W/m2; trái
lại, sự gia tăng khí ôzôn trong tầng đối lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự
thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ năm 1750 đến nay được xác
định là tạo ra hiệu ứng dương đối với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 và
0,12W/m2. Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính, đã
tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm. Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung
bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách
khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái
lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống
loài người. Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng này đã được các
nhà khoa học ở những trung tâm nổi tiếng trên thế giới tiến hành từ đầu thập kỷ 90 thế
kỷ XX. Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã
thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình
trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển Trái đất, vốn được coi là nguyên nhân
chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa. Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí
hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng ngàn
nhà khoa học quốc tế. Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được
thông qua và đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ 165 quốc gia phê chuẩn. Nghị
định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005. Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư
Kyoto ngày 25/9/2005. Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định
khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được
Liên hiệp quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô Kenya.
4. Hiện tượng và bản chất tăng nhiệt độ bề mặt trái đất:
Các báo cáo của IPCC và nhiều trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu trên thế
giới công bố trong thời gian gần đây cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin và dự báo
quan trọng. Theo đó, nhiệt độ trung bình trên bề mặt địa cầu ấm lên gần 1°C trong
vòng 80 năm (từ 1920 đến 2005) và tăng rất nhanh trong khoảng 25 năm nay (từ 1980
đến 2005). Mới đây, ông Mark Lowcok, quan chức của Bộ Phát triển Quốc tế Anh đã
đến thăm Việt Nam và có buổi thuyết trình về “Báo cáo Stern” do các nhà khoa học
Anh xây dựng, được chính phủ Anh công bố về vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Báo
cáo cho rằng nếu không thực hiện được chương trình hành động giảm khí thải gây
hiệu ứng nhà kính theo Nghị định thư Kyoto, đến năm 2035 nhiệt độ bề mặt địa cầu sẽ
tăng thêm 2°C. Về dài hạn, có hơn 50% khả năng nhiệt độ tăng thêm 5°C.
Hiện tại, Trái đất đang từng ngày từng giờ nóng lên với tốc độ như vậy với chiều
hướng có thể còn nhanh hơn nữa. Vậy, nguyên nhân nào đã gây ra hiện tượng vỏ Trái
đất ấm lên ? Dưới đây tổng hợp những kiến giải chính rút ra từ các công trình nghiên
cứu và kết quả thảo luận ở các hội nghị quốc tế.
Loại ý kiến thứ nhất được đại đa số các nhà khoa học nhất trí, đó là việc tăng hàm
2
gây ra là quá mức cần thiết,
gây tăng nhanh nhiệt độ bề mặt địa cầu kéo theo nhiều hệ lụy như đã nêu trên. Tôi cho
rằng những cứ liệu và luận giải đã được nêu ra là đầy sức thuyết phục. Điều đáng tiếc
là cho đến nay, Hoa Kỳ là nước xả khí thải gây hiệu ứng nhà kính
nhiều nhất vào khí
quyển (trên 30% tổng khí thải công nghiệp) vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư Kyoto.
Loại ý kiến thứ hai tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính,
song cho rằng cần nhấn mạnh hơn đến chu kỳ nóng lên của Trái đất do hoạt động nội
tại. Hiện tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên
xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất. Không phải
chỉ bây giờ, lịch sử Trái đất hàng triệu triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại
lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay
đổi cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương. Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đã có 5-6
chu kỳ biến động lớn. Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển
lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến).
Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh. Vào thời kỳ gian băng
nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn. Vào các thời kỳ đó, biên
độ dao động của nước biển (dâng, hạ) lên đến hàng chục, hàng trăm mét. Mỗi chu kỳ
kéo dài hàng vạn, chục vạn năm. Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ
ngắn hơn với thời gian kéo dài nhiều trăm năm đến nghìn năm với biên độ dao động
mực nước biển 2-3 m hoặc hơn. Khí thải CO
2
làm tăng hiệu ứng nhà kính là hiện
tượng do con người gây ra trong mấy trăm năm gần đây. Vì vậy, theo tôi cả hai
nguyên nhân trên đều có cơ sở thực tế và chúng cùng tác động gây ra tình trạng Trái
đất nóng lên một cách bất thường như hiện nay. Do đó, cần phải nhìn nhận hiện tượng
Greenland bị tan cũng tạo ra một khối nước mới trong các đại dương đủ để làm ngập
tiểu bang Florida của Hoa Kỳ và nhiều vùng duyên hải khác trên thế giới.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến
đổi khí hậu. Riêng năm 2007, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trên toàn quốc ước
tính lên tới 11.600 tỷ đồng. 73% dân số bị ảnh hưởng.
Tại hội thảo liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức, Bộ trưởng Cao Đức Phát nhận định: 73% dân số,
chủ yếu là người nghèo (liên quan đến 6 lĩnh vực chính trong ngành NN&PTNT là:
nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thuỷ sản thuỷ lợi và phát triển nông), là đối
tượng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nhiều nhất. Hiện tượng El Nino đã gây ra
hạn hán nghiêm trọng tại các tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ với thiệt hại 312 triệu
USD. Ở Trung Bộ, những năm có La Nina, số lượng trận lũ tăng 1,4 lần, hạn hán đông
xuân thường xảy ra nghiêm trọng. Trong 5 năm gần đây, các tỉnh thuộc Đồng bằng
sông Hồng liên tục phải đối phó với hạn hán gay gắt do mực nước sông Hồng liên tục
xuống thấp đến mức lịch sử. 10 năm qua, nhiều đợt hạn hán đã hoành hành gây thiệt
hại nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp. Trong khi đó, bão lũ lại liên tiếp xảy ra
ở các địa phương khác. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ riêng trong năm
2007, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra ở 50 tỉnh thành phố trên cả nước ước tính lên
tới 11.600 tỷ đồng. Cùng với đó là gần 440 người chết, mất tích; hàng trăm nghìn ha
lúa bị hư hại; hàng chục nghìn công trình dân sinh, thủy lợi bị phá hủy; tình trạng
thiếu đói xảy ra liên miên;
Bộ Tài nguyên - Môi trường chính thức thông báo: trong thập kỷ tới, khoảng từ năm
2010-2020, nhiệt độ trung bình của Việt Nam sẽ tăng không dưới 1,5 độ C; số trận lũ
lụt trên cả nước sẽ tăng khoảng 20%. TS Nguyễn Hữu Ninh cảnh báo: Việt Nam có
hai thành phố ven biển lớn nhất là Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh nằm trong danh
sách 10 thành phố trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu
trong vòng 20-50 năm tới. Như những trận triều cường lịch sử ở TPHCM cuối năm
qua, chủ yếu là do ảnh hưởng của nước biển dâng và gia tăng nhiệt độ toàn cầu.
1. Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng đến đời sống của con người:
Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lụt, hạn hán, diễn biến phức tạp và khốc
liệt hơn, mức độ thảm họa gây ra cho nhân dân trong tỉnh nhiều hơn; điển hình là các
trận lụt trong các năm 1996, 1999, các trận bão ở các năm 1995, 2001 đã gây thiệt hại
cho nền kinh tế của tỉnh hàng nghìn tỉ đồng và hàng trăm người thiệt mạng. Tình trạng
ít mưa kéo dài trong những năm 1993, 1997, 1998, 2001 gây hạn hán, ảnh hưởng lớn
đến nền sản xuất của nhân dân. Sự ô nhiễm nguồn nước đưa đến sự biến đổi hệ sinh
thái của vật nuôi, cây trồng và sức khỏe của nhân dân ngày càng thể hiện rõ nét ở Bình
Định. Trong tương lai, tốc độ phát triển công nghệ tiên tiến sẽ dẫn đến giảm độ bất
định của khí hậu và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của chúng ta. Các nhà khoa
học đang nghiên cứu các giải pháp công nghệ để giải quyết mối quan hệ giữa hoạt
động kinh tế của con người với các yếu tố môi trường, ví dụ sử dụng năng lượng sạch
trong đời sống.
2. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp:
Với mục tiêu phát triển kinh tế bằng mọi giá, từ hàng thế kỷ nay, loài người đã và
đang khai thác kiệt quệ, tàn phá nguồn tài nguyên sinh thái dẫn đến hậu quả là môi
trường sống của chính con người đang bị đe doạ nghiêm trọng và khí hậu đang ngày
càng bị biến đổi nhanh. Đồng thời với các hành động tàn phá trực tiếp thiên nhiên,
hàng ngày con người đã trực tiếp và gián tiếp thải vào môi trường hàng chục triệu tấn
chất thải rắn, lỏng và khí, mà trong số đó có nhiều chất gây biến đổi hiệu ứng nhà
kính. Bão tố, động đất, lũ lụt với sức tàn phá ghê gớm là hậu quả tất yếu do cách đối
xử tàn bạo của con người đối với thiên nhiên. Theo dự báo của các nhà khoa học, hậu
quả của biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ không dừng lại ở đó mà sẽ gây ra nhiều hậu quả
nghiêm trọng đến nhiều lĩnh vực kinh tế và đời sống, trong đó có sản xuất nông
nghiệp.
BĐKH sẽ khiến nhiệt độ trái đất tăng và băng ở bắc cực tan dẫn đến nước biển dâng
cao và lúc đó một phần diện tích vùng đồng bằng của nước ta sẽ bị ngập trong nước
biển. Dự báo diện tích rộng lớn của đồng bằng sông Mê Công, sông Hồng và ven biển
Miền Trung sẽ bị ngập lụt. Trước hết là các khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau,
thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Định sẽ bị nhấn chìm trong nước biển.
Thay đổi chế độ mưa có thể gây lũ nghiêm trọng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa
ngành NN&PTNT là hết sức cần thiết. Đối với ngành chăn nuôi, đồng thời với sự phát
triển ồ ạt các loại vật nuôi, cần phải có chiến lược giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bởi
vì chất thải chăn nuôi không được xử lý là một trong những “thủ phạm” gây biến đổi
hiệu ứng nhà kính do các loại khí CO2, NH4… có trong phân và nước tiểu của động
vật phát tán vào bầu khí quyển.
Theo dự báo của Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM), nhiều vùng
như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang,
Vĩnh Long, Cà Mau của Việt Nam sẽ ngập chìm từ 2- 4m trong vòng 100 năm tới.
Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP): Việt Nam nằm
trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu và
khi mực nước biển tăng 1 mét ở VN sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà
cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn thóc) và 10% thu nhập
quốc nội GDP. Để xây dựng một chương trình hành động chuẩn xác và đi đúng
hướng, hầu hết các chuyên gia về môi trường cho rằng: Cần phải xây dựng một kịch
bản cho Việt Nam, bởi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về lĩnh
vực này còn có nhiều sự khác biệt. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới (WB) tính toán mực
nước biển sẽ dâng là 1m, nhưng kết quả nghiên cứu của Ủy ban liên chính phủ về
Thay đổi khí hậu (IPCC) mực nước biển dâng là 69cm kèm theo trong điều kiện băng
tan không đột biến; sự tan băng ở các vùng cực của trái đất cũng khác nhau và vấn đề
khí hậu và biến đổi khí hậu ở mỗi quốc gia cũng có những diễn biến khác nhau. Hơn
nữa, vấn đề biến đổi khí hậu không chỉ đơn giản là của ngành nông nghiệp mà nó còn
liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác nữa. Do vậy, các nhà khoa học phải
chỉ rõ vùng nào của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của băng tan, phân tích cụ
thể diện tích vùng bị ngập, vùng phải di chuyển và ảnh hưởng đến các vùng khác chưa
được đề cập tới.
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã xây dựng
chương trình hành động với cả hai kịch bản dự báo của WB và IPCC. Theo Thứ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đào Xuân Học: Cho dù là kịch bản
nào thì vấn đề biến đổi khí hậu đã xảy ra và sẽ tác động mạnh mẽ đến nước ta, nhất là
trong lĩnh vực nông nghiệp. Bởi vì, Việt Nam có 74% diện tích đất nông nghiệp, gần
thuỷ, hải sản xuất khẩu ước đạt 3.684 nghìn tấn, đạt 96,93% kế hoạch năm và tăng
7,96% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sản lượng khai thác tăng 0,6%, đạt 1.898
nghìn tấn; sản lượng nuôi trồng đạt 1.786 nghìn tấn, tăng 17%. ước giá trị kim ngạch
xuất khẩu thủy sản tháng 11 đạt 350 triệu USD, nâng tổng giá trị kim ngạch XKTS 11
tháng năm 2007 đạt 3.427 triệu USD, bằng 95,19% kế hoạch và tăng 11,8% so với
cùng kỳ 2006.
Mặc dù, đạt những kết quả như vậy, nhưng do ảnh hưởng của BĐKH như áp thấp
nhiệt đới, bão, lũ lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển của ngành nuôi trồng
và chế biến thuỷ sản ở các vùng ven biển Việt Nam. Chỉ tính riêng năm 2006, hai cơn
bão Chanchu và cơn bão Xangsane đã ảnh hưởng trực tiếp và gây thiệt hại nặng nề
cho ngành chế biến thuỷ sản các tỉnh ven biển miền Trung: 3.974 ha đầm nuôi cá, tôm
bị ngập kéo theo 494 tấn cá tôm bị phá huỷ, 951 tầu thuyền đánh cá bị chìm, ước tính
thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng. Tháng 11/2007, do ảnh hưởng của bão số 7, áp thấp nhiệt
đới trên biển Đông và ảnh hưởng của gió mùa đông bắc hoạt động mạnh đã làm hạn
chế các hoạt động khai thác thuỷ sản. Tại các tỉnh miền Trung như Quảng Bình,
Khánh Hoà, Phú Yên, đây là những nơi có sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú,
cá biển, nhuyễn thể, cua, ghẹ lớn …Do ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu thay đổi trong
thời gian vừa qua, mưa nhiều khiến cho dịch bệnh phát triển, nguồn nước thay đổi
nhanh khiến cho các đối tượng nuôi khác như tôm hùm, rong sụn tại một số địa
phương như Khánh Hoà, Phú Yên bị chết, khiến cho nhiều bà con nông, ngư dân bỗng
chốc trắng tay. Ngoài việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi trồng thuỷ sản của
các vùng ven biển Việt Nam, BĐKH mà cụ thể là mực nước biển dâng cao còn làm
cho tình trạng xâm mặn ở các vùng ven biển ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nó
đã trở thành một trong những vấn đề nan giải tại một số địa phương. Đồng bằng sông
Cửu Long với 1,77 triệu ha đất nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích và đây là địa phương
có diện tích đất nhiễm mặn lớn nhất. Nếu mực nước biển sẽ tiếp tục dâng cao lên
30cm theo kịch bản BĐKH năm 2050, tình trạng nước mặn kèm theo mất đất và xâm
mặn ở đồng bằng sông cửu long và một số khu vực đồng bằng sông hồng, là những
khu vực nông nghiệp quan trọng là nơi cung cấp một lượng gạo xuất khẩu lớn nhất cả
nước. Nếu tình trạng này xảy ra, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương
bị huỷ hoại, 21.548 ha lúa bị nhập và thiệt hại, 3.974 ha đầm nuôi cá tôm bị ngập, 494
tấn cá tôm bị phá huỷ và 951 tàu thuyền bị chìm… Việc nghiên cứu các tác động của
BĐKH ở các vùng ven biển miền Trung và hai Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng
sông Cửu Long gần đây đã được khởi xướng với nhiều dự án nghiên cứu bắt đầu triển
khai. Các dự án thích ứng với BĐKH chủ yếu được áp dụng tại Miền Trung, nơi phải
hứng chịu nhiều thiệt hại do thiên tai mang đến. Hầu hết các hoạt động của dự án tập
trung ở cấp địa phương và được gắn kết hoặc lồng ghép với những dự án hỗ trợ đang
được triển khai của các nhà tài trợ và các Tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế dành
cho các thực thể quốc gia và các cộng đồng về lĩnh vực sẵn sàng và ứng phó với hạn
hán, lũ lụt và bão. Gần đây, Uỷ ban châu Âu hỗ trợ, khuyến khích việc Việt Nam áp
dụng các nguyên tắc chống chịu bão đối với các nhà ở hiện nay của nhân dân các vùng
có nguy cao chịu ảnh hưởng của thiên tai ở miền Trung.
Việt Nam từ lâu đã có hệ thống và các biện pháp để ứng phó với thiên tai như bão
lụt, hạn hán. Các hoạt động quản lý rủi ro thiên tai chủ yếu do Ban Chống lụt bão
Trung ương (CCFSC) điều phối và Bộ trưởng Bộ NN&PTNT làm trưởng ban. Các
thành viên trong Ban gồm các bộ ngành liên quan, Cục chống lụt bão và quản lý đê
điều, Trung tâm Quản lý thiên tai, Trung tâm Khí tượng thuỷ văn và Hội Chữ thập đỏ
Việt Nam (VNRC). Đối tác giảm thiểu thiên tai (NDM-P) được xây dựng với sự tham
gia của Chính phủ, các tổ chức NGO và các nhà tài trợ để khuyến khích đối thoại và
thống nhất các cách thức hoạt động, hỗ trợ điều phối việc thực hiện Chiến lược quốc
gia lần thứ hai và Kế hoạch hành động giảm thiểu và quản lý thiên tai.
III. Những việc làm cấp thiết để ngăn ngừa và đối phó với sự biến đổi khí hậu:
Cần lưu ý rằng các hiện tượng như đã nêu trên xảy ra còn có tác động của nhiều yếu
tố, như lượng nước và phù sa của các lưu vực sông; hoạt động nâng, hạ của kiến tạo
địa chất hiện đại; tác động bất thuận chiều của các công trình nhân tạo, v.v Vì vậy,
càng rất cần được chú trọng nghiên cứu, xem xét. Việt Nam cần làm gì để ứng phó với
hiểm họa đang được báo động ? Rất nhiều việc có tầm vóc và quy mô to lớn vừa trước
mắt, vừa lâu dài cần được tính đến.
Trước hết, Việt Nam cần tham gia một cách chủ động và tích cực vào các chương
trình do Liên hiệp quốc chủ trì về biến đổi khí hậu toàn cầu. Các nhà khoa học, các
và các khí
thải gây hiệu ứng nhà kính, trước hết là phát huy kết quả và thúc đẩy mạnh mẽ việc
thực hiện chương trình quốc gia đã được triển khai về phủ xanh đất trống, đồi núi trọc,
hạn chế tối đa tệ nạn cháy rừng, phục hồi nhanh chóng hệ sinh thái rừng ngập mặn đã
bị tàn phá nặng nề. Đặc biệt, Việt Nam cần phải có một chiến lược đúng, đáp ứng nhu
cầu gia tăng rất nhanh chóng về năng lượng, nhất là điện năng, phục vụ công nghiệp
hóa đất nước. Nêu cao yêu cầu tiết kiệm năng lượng, hạn chế đến mức cần thiết việc
sử dụng nguyên liệu hóa thạch (than, dầu mỏ, khí đốt), sớm có kế hoạch phát triển
năng lượng sạch.
Một mặt, chúng ta chủ động, tích cực thực hiện phần trách nhiệm quốc gia của
mình, mặt khác chúng ta cũng tích cực lên tiếng đòi các nước phát triển thực hiện cam
kết thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc và các Hiệp định, Nghị định thư quốc tế về bảo
vệ môi trường Trái đất vì sự sống còn của nhân loại. Tổng kết, rút ra các kinh nghiệm
thành công và chưa thành công của cha ông ta trong nhiều thế kỷ qua, được đẩy mạnh
trong thời cận hiện đại trong việc ứng phó với các loại “thiên tai” thường xuyên xảy ra
ở các vùng đồng bằng thấp, vùng ven biển; xây dựng mạng kênh mương rộng lớn phục
vụ việc tưới và tiêu nước cho đồng bằng; gia cố hệ thống đê điều; xây dựng các công
trình hồ thủy điện - thủy lợi điều tiết ở thượng nguồn; từng bước xây dựng tuyến đê
biển từ Bắc vào Nam kết hợp xây dựng các cống điều tiết thoát lũ và ngăn mặn ở các
cửa sông; xây dựng các công trình kè bờ chống sạt lở sông và biển; nạo vét dòng chảy
cửa sông, luồng vào cảng; bơm thoát nước cưỡng bức đối với nạn úng, ngập sâu và ô
nhiễm nặng tại các vùng đất thấp ở đồng bằng và ven biển. Đặc biệt, những hệ thống
công trình có quy mô lớn, xây dựng bền vững lâu dài, như hệ thống công trình “chung
sống với lũ” ở đồng bằng Cửu Long, tuyến đê biển Bắc-Nam, cần được hoạch định có
căn cứ khoa học về tuyến, về nền móng, để những công việc được thực hiện ngày nay
còn được tiếp nối thuận lợi cho nhiều thế hệ mai sau. Cần lưu ý rằng, các giải pháp
như đã nêu trên không phải là không có những ý kiến khác nhau về mặt luận cứ khoa
học.
Những công việc đã làm cho thấy không phải chúng ta không có những kinh
nghiệm nhất định trong việc ứng phó với tai biến do nước biển dâng. Nhưng đó là việc
lở, nhiều tuyến đường giao thông, công trình di tích lịch sử bị bùn đất vùi lấp. Ngập
úng trong thời gian dài sẽ làm cho các loại phân bón, thuốc trừ sâu, chất thải từ nhà vệ
sinh và chuồng trại chăn nuôi chảy xuống các ao, hồ, sông, làm tăng lượng chất thải
gây ô nhiễm nguồn nước; các công trình cấp nước sạch tập trung hoặc hư hỏng hoặc
do nguồn nước cấp từ sông ô nhiễm nặng gây khó khăn cho việc xử lý nước sinh hoạt.
Sự xâm nhập mặn của nước biển sẽ ảnh hưởng các hệ sinh thái, làm mất cân bằng môi
trường sống của nhiều loại thủy sinh nước ngọt. Ðiều đó có thể dẫn đến diện tích rừng
ngập mặn giảm, nguồn thức ăn thực vật và dinh dưỡng của các loài sinh vật sống ở
sông, biển cũng giảm. Nhiệt độ của nước tăng lên kéo theo sự thay đổi phân tầng nhiệt
độ theo chiều sâu cột nước, gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường sống thủy sinh.
Hơn nữa, tăng nhiệt độ nước vùng ven bờ sẽ dẫn đến tăng lắng đọng các chất khoáng
và hữu cơ, gây ảnh hưởng chuỗi thức ăn, giảm số lượng cũng như chất lượng các loài
thủy sản.
Tại những vùng khô hạn, bán khô hạn, sự thay đổi nhỏ của nhiệt độ và nhịp điệu
mưa có thể ảnh hưởng lớn tới đa dạng sinh học (ÐDSH). Những vùng đất khô hạn sẽ
phải chịu nhiều áp lực của sự chuyển đổi nông nghiệp, sự nhập nội của các loài xâm
lấn, sự thay đổi chế độ cháy và ô nhiễm. Vì thế, BÐKH ở những vùng đất khô hạn có
thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con người và nền kinh tế. Trong hai
năm 2004 - 2005, có tới 43% số hộ dân thuộc tỉnh Ninh Thuận thiếu nước ngọt sinh
hoạt. Hiện có khoảng gần hai triệu người dân Ninh Thuận, Bình Thuận sống phụ thuộc
trực tiếp vào những vùng đất khô hạn và bán khô hạn cho sinh kế hằng ngày của họ.
Trong tình trạng BÐKH gia tăng, diện tích đất đang bị thoái hóa, hoang mạc hóa và bị
nhiễm mặn ở những vùng đất khô hạn, bán khô hạn sẽ càng xảy ra nhanh hơn.
BÐKH không chỉ ảnh hưởng nguồn nước, vệ sinh môi trường mà còn ảnh hưởng
ÐDSH trong nông nghiệp. Chính sự BÐKH tác động mạnh đến sự phân bố, gia tăng
tốc độ tuyệt chủng, làm thay đổi thời gian mùa phát triển của thực vật. ÐDSH góp
phần hỗ trợ đắc lực cho các hệ sinh thái, điều hòa khí hậu, tạo ra ô-xy, giữ nguồn nước
và cung cấp nước, chống xói mòn, bảo vệ đất đai. Nó có vai trò vô cùng to lớn đối với
sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học, trong đó có con người.
Vấn đề của Việt Nam:
hiện ngay những hành động cụ thể như quy hoạch và tiến hành nâng cấp hệ thống đê
biển, đê cửa sông bảo đảm chống được mức nước triều tần suất 5% ứng với gió bão
cấp 9 (năm 2015) và cấp 10 (năm 2020) đối với các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng
Nam. Từng bước thực hiện bốn nhân tố chính là vấn đề buôn bán lượng khí thải, hợp
tác kỹ thuật, giảm phá rừng, ứng phó với BĐKH nhằm đạt được những mục tiêu dài
hạn để góp phần vào mục tiêu chung của toàn cầu. Dù còn nhiều thách thức nhưng đến
nay những chương trình, kế hoạch đã được triển khai, nhất là công tác thông tin,
truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và đã tạo được nhiều giống cây trồng mới
thích nghi với sự BĐKH. Cùng với sự quan tâm và hợp tác của các tổ chức quốc tế,
các quốc gia trong khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ ứng phó và thích ứng thành công
với BĐKH, hạn chế thiên tai, phát triển bền vững.
IV. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ:
Theo nghiên cứu của các chuyên gia cho đến nay thì Trái Đất là hành tinh duy
nhất trong hệ Mặt Trời có hiện diện sự sống. Thiên nhiên đã ban tặng cho con người
những ngọn núi hùng vĩ, những dòng sông êm ả, và những cánh rừng bát ngát, một hệ
động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng phải trải qua một quá trình tiến hóa lâu
dài…tất cả tạo nên một hành tinh xanh….thế nhưng do sự khai thác sử dụng quá mức
những món quà mà thiên nhiên ban tặng, cùng với sự phát triển và tham vọng của loài
người, một loạt những hiện tượng thiên tai xảy ra như mưa acid, bão lũ, nạn hồng
thủy, cháy rừng, hạn hán….mà chúng ta gọi đó là “ ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu”.Ngôi nhà chung của mọi loài sinh vật đang bị đe dọa mà trách nhiệm phục hồi nó
thuộc về con người chúng ta. Những nỗ lực ngăn chặn các khí thải nhà kính, hạn chế
khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo được, sử dụng những nhiên liệu không
gây ô nhiễm môi trường,các nước tham gia Hội nghị, cùng bàn bạc về vấn đề biến đổi
khí hậu đã cho thấy phần nào sự quyết tâm của chúng ta trong việc khắc phục hậu quả.
Song bên cạnh đó, đây không chỉ là vấn đề của những nhà lãnh đạo cấp cao mà ngay
đến một công dân bình thường cũng có thể góp phần vào việc bảo vệ Trái Đất, bảo vệ
ngôi nhà chung bằng những hành động đơn giản dễ làm như tiết kiệm điện, tham gia
trồng cây xanh,tự tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình trong thời đại “ Biến đổi
khí hậu toàn cầu”.