54 Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng Quảng Trị - Pdf 20

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng hội nhập và mở cửa nền kinh tế vừa tạo ra những cơ hội và
nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực. Sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành ngày càng ác liệt và một
trong những công cụ cạnh tranh sắc bén nhất là cạnh tranh về giá. Mọi doanh
nghiệp đều cố tìm mọi cách để giảm thiểu chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng
sản phẩm để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường. Có thể nói, kế toán
chí phí sản xuất và giá thành sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu của doanh
nghiệp.
Thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chính xác, hợp lý
sẽ giúp nhà quản lý đưa ra nhiều quyết định quan trọng liên quan đến nhiều
khía cạnh khác nhau như có nên mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, có
nên chấp nhận những đơn đặt hàng đặc biệt với một mức giá đặc biệt hay
không…Tất cả những vấn đề này đều liên quan đến kết quả của hoạt động sản
xuất kinh doanh và do đó quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Như vậy,
việc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và xác định chính xác, kịp thời giá
thành sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp các nhà quản lý đưa ra
những quyết định đúng đắn nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh
nghiệp.
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng Quảng Trị là một
công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Những năm qua, Công ty
đã cố gắng không ngừng để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
đơn vị đuợc vững mạnh và phát triển. Tuy nhiên, ngày càng nhiều các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản tạo ra sự cạnh tranh gay gắt.
Đặc biệt, với cơ chế đấu thầu công khai đòi hỏi Công ty phải đưa ra được mức
giá thấp hơn mà chất lượng vẫn đảm bảo để thắng thầu nhưng vẫn phải sinh
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
1
Luận văn tốt nghiệp
lợi. Điều này đòi hỏi sự cố gắng của toàn Công ty nhưng nhất là bộ phận kế

toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính công
nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm xây lắp
có những đặc điểm riêng biệt khác với những ngành sản xuất khác và có ảnh
hưởng đến tổ chức kế toán.
Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc… có quy mô lớn, kết
cấu phức tạp, có tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài. Do vậy, việc tổ chức
quản lý và hạch toán nhất thiết phải lập dự toán.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận
với chủ đầu tư nên tính chất hàng hóa của sản phẩm không thể hiện rõ.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất
như xe máy, thiết bị thi công, người lao động phải di chuyển theo. Do đó,
công tác quản lý sử dụng và hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp.
Thời gian từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình đưa vào bàn
giao sử dụng thường kéo dài. Quá trình thi công chia làm nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn lại chia làm những công việc khác nhau và các công việc thường
diễn ra ngoài trời nên chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên. Do đó đơn vị thi
công phải tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng công
trình đúng như thiết kế, dự toán.
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
3
Luận văn tốt nghiệp
1.1.2 Đặc điểm kế toán trong đơn vị xây lắp
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến công tác hạch toán kế
toán trong doanh nghiệp xây lắp chủ yếu thể hiện ở nội dung, phương pháp
hạch toán chi phí sản xuất, phân loại chi phí, cơ cấu giá thành xây lắp.
Đối tượng hạch toán chi phí có thể là các công trình, hạng mục công
trình… nên thường phải lập dự toán chi phí giá thành và tính giá thành theo
từng hạng mục hay giai đoạn của công trình.

đầu đồng nhất với của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát
sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân chia này tạo điều kiện thuận
lợi cho việc xây dựng và phân tích mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm
tra và phân tích dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ
chi phí được chia làm 7 yếu tố:
- Yếu tố chi phí nguyên vật liệu.
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất –
kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền.
1.2.1.2.2 Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho
việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục.
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sử dụng máy thi công: chi phí sử dụng máy thi công bao gồm
chi phái thường xuyên và chi phí tạm thời
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
+ Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: lương chính, lương
phụ của công nhân điều khiển máy, phụ vụ máy..; chi phí vật liệu; chi phí
công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí
khác bằng tiền.
+ Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: chi phí sửa chữa lớn
máy thi công; chi phí công trình toạm thời cho máy thi công…
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng.

hợp. Do đó, dễ dẫn đến những sai lệch chi phí trong từng bộ phận, từng quá
trình sản xuất kinh doanh và cũng dẫn đến những quyết định khác nhau.
1.2.2 Giá thành và phân loại giá thành
1.2.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có
liên quan đến khối lượng xây lắp đã hoàn thành.
Giá thành luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là chi phí
sản xuất chi ra và giá trị khối lượng sản phẩm thu được cấu thành trong khối
lượng sản phẩm, công việc hoành thành. Giá thành sản phẩm chính là sự dịch
chuyển giá trị của những yếu tố chi phí bên trong nó, còn chi phí là cơ sở để
hình thành nên giá thành.
1.2.2.2 Phân lại giá thành
1.2.2.2.1 Phân theo thời điểm và nguồn số liệu tính giá thành
Giá thành dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình. Giá thành dự toán được xác định theo định mức và khung
giá quy định áp dụng cho từng vùng, lãnh thổ. Dựa vào giá trị dự toán ta có
thể tính được giá thành dự toán của công trình:
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Lợi nhuận dự toán
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
Giá thành dự toán làm căn cứ cho doanh nghiệp xây lắp xây dựng kế
hoạch xây lắp vì đây là hạn mức chi phí cao nhất mà doanh nghiệp có thể chi
trả để đảm bảo có lãi và là tiêu chuẩn phấn đấu hạ định mức thực tế. Đồng
thời nó cũng dùng để các cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động của
các doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch: là giá thành xác định xuất phát từ những điều kiện
cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn
giá áp dụng trong đơn vị. Giá thành kế hoạch phải nhỏ hơn hoặc bằng giá

chẽ với nhau. Đây là hai mặt của một quá trình thống nhất – quá trình sản
xuất bao gồm mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau về chất. Chúng đều
bao gồm các chi phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp
bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về mặt lượng.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống và lao động
vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất của một kỳ nhất định. Còn giá thành
sản phẩm xây lắp là tổng hợp các hao phí về lao động sống và lao động vật
hóa gắn liền với một khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao.
Mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện:
- Tính giá thành sản phẩm xây lắp phải dựa vào hạch toán chi phí sản
xuất. Trong một kỳ tính giá:
Giá thành sản
phẩm hoàn thành
=
CPSX dở dang
đầu kỳ
+
CPSX phát
sinh trong kỳ
-
CPSX dở dang
cuối kỳ
- Tổ chức quản lý tốt giá thành chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tổ
chức tốt quản lý chi phí sản xuất.
- Mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp
đến giá thành sản phẩm cao hay thấp.
Nói tóm lại, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Vì thế, đối với các doanh nghiệp thì quản lý giá thành phải

các báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để cung cấp số liệu
cho nhà quản lý.
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
1.3 Hạch toán các khoản mục chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
1.3.1.1 Đối tượng hạch toán
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và
quan trọng của tổ chức kế toán quá trình sản xuất.
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí, thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu
chi phí.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
từng công trình, hạng mục công trình hay đối tượng xây lắp có thiết kế riêng,
từng tổ, đội sản xuất…
1.3.1.2 Phương pháp hạch toán
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản
xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí.
1.3.1.2.1 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công
trình
Chi phí phát sinh liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì
tập hợp riêng cho công trình, hạng mục công trình đó. Giá thành thực tế là
tổng số chi phí được tập hợp cho từng đối tượng kể từ khi khởi công đến lúc
hoàn thành.
1.3.1.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng
Các chi phí phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp
và phân bổ cho đơn đặt hàng đó. Khi thực hiện xong đơn đặt hàng thì tổng số
chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ lúc khởi công đến lúc hoàn thành là

Giá trị NVL
đưa vào SX
-
Giá trị NVL
chưa sử dụng
-
Giá trị phế
liệu thu hồi
- Đối với vật liệu sử dụng liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi
phí, không thể hạch toán riêng được thì phải tính toán phân bổ cho từng đối
tượng. Tiêu thức phân bổ thường là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ
số hoặc theo trọng số, số lượng sản phẩm theo công thức:
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Chi phí NVL
phân bổ cho từng
đối tượng
=
Tổng chi phí NVL cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của các đối tượng
* Chứng từ sử dụng:
Chứng từ ban đầu sử dụng để hạch toán chi phí NVL trực tiếp là: phiếu
nhập kho, phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT…
* Tài khoản sử dụng:
- TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. TK này không có số dư
cuối kỳ và được chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí như từng công trình,
hạng mục công trình...
* Quy trình hạch toán:
Sơ đồ 1.1: Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

bảng chấm công, hợp đồng làm khoán, bảng thanh toán khối lượng…
* Tài khoản sử dụng:
- TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp. TK này không có số dư và
được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
* Quy trình hạch toán:
Sơ đồ 1.2: Trình tự hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
1.3.2.3 Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm các chi phí liên quan đến việc
sử dụng xe máy của đơn vị xây lắp như: Chi phí vật liệu, nhiên liệu, chi phí
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
14
TK111, 112, 331
TK334 TK622 TK154
Tiền lương và phụ cấp lương
phải trả cho công nhân trực tiếp
TK111, 335
Trích trước tiền lương nghỉ
phép của công nhân
Chi phí NCTT thuê ngoài
Kết chuyển chi phí
NCTT
Luận văn tốt nghiệp
công cụ dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao MTC, chi phí sửa chữa lớn, nhỏ,
chi phí nhân công sử dụng MTC, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí
bằng tiền khác…
* Tài khoản sử dụng:
TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công. TK này cuối kỳ không có số
dư và chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2.
* Trình tự hạch toán:
Việc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng

thi công
Kết chuyển chi
phí SXC
TK 152, 153, 242
TK 623
Kết chuyển chi phí
SDMTC
TK 1541
Xuất kho NVL, CCDC cho
SDMTC
TK 111, 112, 331
Các chi phí dịch vụ mua
ngoài khác
TK 133
VAT
TK 334
Chi phí nhân công điều khiển
MTC
TK 214, 335
Chi phí khấu hao, sửa chữa
lớn MTC
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1.4: Trình tự hạch toán chi phí SDMTC trong trường hợp có tổ
chức đội máy thi công hỗn hợp
Trường hợp máy thi công thuê ngoài:
Sơ đồ 1.5: Trình tự hạch toán chi phí SDMTC thuê ngoài
1.3.2.4 Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất của đội xây dựng,
công trường xây dựng bao gồm: lương nhân việc quản lý đội xây dựng, khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ được trích theo tỷ lệ quy định (19%) trên tiền

lý đội và các khoản trích theo lương
TK 627
TK 152,111
Các khoản ghi giảm chi phí
SXC
TK 152, 153
Xuất NVL, CCDC cho sản
xuất chung
TK 214
Chi phí khấu hao TSCĐ của đội
TK 331
Chi phí bằng tiền và thuê ngoài khác
TK 352
Trích trước chi phí sửa chữa, bảo
hành công trình
TK 133
VAT
TK 1541
Phân bổ chi phí SXC cho
các đối tượng tính giá thành
TK 632
Kết chuyển chi phí SXC
vào giá vốn hàng bán
Luận văn tốt nghiệp
* Tài khoản sử dụng:
TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. TK này có số dư bên
Nợ và được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
* Trình tự hạch toán:
Sơ đồ 1.7: Trình tự hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất
1.3.2.5.2 Kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

Luận văn tốt nghiệp
Trong các doanh nghiệp xây lắp, sản phẩm dở dang là các công trình,
hạng mục công trình còn đang trong quá trình thi công chưa hoàn thàn, chưa
bàn giao hoặc các đối tượng xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
Các phương pháp đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang:
- Đánh giá giá trị sản phẩm xây lắp dở dang theo chi phí thực tế phát sinh:
Giá trị sản
phẩm dở dang
=
Tổng CP phát sinh từ khi khởi
công đến cuối kỳ tính giá thành
-
Các khoản giảm trừ
giá thành xây lắp
- Đánh giá sản phẩm dở dang theo tỷ lệ sản phẩm hoàn thành tương đương:
Giá trị
sản phẩm
xây lắp
DD CK
=
CP thực tế khối
lượng XL DD
ĐK
+
CP thực tế khối
lượng phát sinh
trong kỳ
x
Giá trị dự
toán XL

+
Giá trị dự toán khối
lượng XL
DD CK
1.4 Tính giá thành sản phẩm
1.4.1.Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do
doanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính được tổng giá thành và giá thành
xây lắp. Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tính giá thành là các công
trình, hạng mục công trình có giai đoạn công việc đã hoàn thành, các đối
tượng công tác xây lắp có dự toán riêng hoàn thành.
Xác định đối tượng tính giá thành có ý nghĩa quan trọng trong việc tính
chính xác giá thành sản phẩm xây lắp. Để giúp cho công tác tính giá thành được
khoa học, hợp lý thì cần phải xác định kỳ tính giá thành. Kỳ tính giá thành sản
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
19
Luận văn tốt nghiệp
phẩm là thời gian tính giá thành nhất định. Đây là mốc thời gian bộ phận kế toán
tính giá thành phải tổng hợp số liệu thực tế cho từng đối tượng. Việc xác định kỳ
tính giá thành phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, chu kỳ sản
xuất và hình thức bàn giao công trình của từng doanh nghiệp.
1.4.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
1.4.2.1 Phương pháp trực tiếp
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp xây
lắp. Giá thành công trình, hạng mục công trình xây lắp hoàn thành được xác định
trên cơ sở tổng cộng chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến khi hoàn thành.
Giá thành công tác xây lắp hoàn thành trong kỳ được tính theo công thức:
Giá thành công
tác xây lắp hoành
thành bàn giao

đi vào nề nếp, trình độ tổ chức và nghiệp vụ kế toán chi phí, giá thành tương
đối tốt.
1.4.2.3 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp nhận thầu theo đơn đặt
hàng, khi đó đối tượng kế toán chi phí và đối tượng tính giá thành là từng đơn
đặt hàng. Theo phương pháp này, trong quá trình sản xuất xây lắp chi phí phát
sinh được tập hợp theo đơn đặt hàng, khi nào hoàn thành thì chi phí tập hợp
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
20
Luận văn tốt nghiệp
được là giá thành của đơn đặt hàng. Nếu đơn đặt hàng chưa hoàn thành thì toàn
bộ chi phí tập hợp theo đơn đặt hàng là chi phí của khối lượng xây lắp dở dang.
Ngoài các phương pháp tính giá thành đã nêu ở trên, còn một số
phương pháp khác như: phương pháp tỷ lệ, phương pháp hệ số…
1.5 Tổ chức sổ kế toán trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Các hình thức tổ chức ghi sổ kế toán tổng hợp gồm:
- Nhật ký chung
- Nhật ký chứng từ
- Nhật ký sổ cái
- Chứng từ ghi sổ
Trong các hình thức ghi sổ trên thì hình thức chứng từ ghi sổ đươc áp
dụng khá rộng rãi ở các doanh nghiệp
Ghi chú:
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
21
Chứng từ gốc, Bảng
tổng hợp chứng từ gốc
Sổ kế toán
chi tiết

trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC được tập hợp theo từng giai
đoạn sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định.
Kế toán chi phí sản xuất của Mỹ và Việt Nam đều sử dụng cả hai
phương pháp là kiểm kê định kỳ và kê khai thường xuyên và có nhiều điểm
tương đồng. Tuy nhiên, kế toán Mỹ linh động hơn ở hệ thống tài khoản, chỉ
quy định chuẩn cho tên tài khoản còn các công ty có thể tự thiết kế số liệu tùy
theo yêu cầu quản lý riêng.
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
22
NVL
SPDD
GVHB
Giá trị NVL Sử dụng trực tiếp Kết chuyển giá trị sản phẩm
hoàn thành bán ngay
Phải trả người
bán (tiền...)
CPDV mua
ngoài cho SX
CPSXC
Hao mòn TSCĐ
KHTSCĐ phục
vụ SX
Phải trả CNV
Tiền lương trả
LĐ gián tiếp
Tiền lương trả cho lao
động trực tiếp
Thành phẩm
Giá trị sản phẩm hoàn thành
nhập kho

SPDD
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1.10: Kế toán chi phí sản xuất theo kế toán Pháp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ VÀ PHÁP TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG QUẢNG
TRỊ
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng
Quảng Trị
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng Quảng Trị là một
công ty được cổ phần hoá từ doanh nghiệp nhà nước với vốn từ các cổ đông
là người lao động trong Công ty, không có sự góp vốn của nhà nước.
Tên giao dịch quốc tế : Quang Tri infrastructure development and
investment joint stock company.
Trụ sở chính : 53 Lê Lợi, thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, có tư cách
pháp nhân.
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
24
Luận văn tốt nghiệp
Xuất phát là một xí nghiệp xây dựng được chia tách từ Công ty xây lắp
Bình Trị Thiên, tháng 7/1989 (chia tỉnh Bình Trị Thiên thành ba tỉnh: Quảng
Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) Xí nghiệp sửa chữa nhà cửa được thành
lập trực thuộc Sở Xây dựng tỉnh Quảng Trị.
Tháng 11/1992 thực hiện Nghị định số 388 của Thủ tướng Chính phủ về
việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp, Xí nghiệp được đổi tên thành Công
ty phát triển và kinh doanh nhà Quảng Trị trực thuộc UBND tỉnh Quảng Trị
theo quyết định số 733/QĐ-UB ngày 27/11/1992 của UBND tỉnh Quảng Trị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status