Đề tài " quản trị marketing của công ty TNHH thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady Vietnam " - Pdf 20

LUẬN VĂN
Đề tài: " Quản trị marketing của công ty TNHH
thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady
Vietnam "
- 1 -
MỤC LỤC
- 2 -
Mở đầu
Mạng lưới phân phối là một mắc xích vô cùng quan trọng trong chiến lược kinh doanh của Dutch
Lady Việt Nam. Họ là người đã thu hẹp khỏang cách giữa nhà sản xuất và khách hàng, mang sản
phẩm đến tận tay người tiêu dùng cả nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống phân phối, ngay từ những ngày đầu thành lập,
Dutch Lady Việt Nam luôn dành những ưu đãi hợp lý cho các nhà phân phối thông qua những
chính sách hỗ trợ rõ ràng, thiết thực. Công ty đã cung cấp những phần mềm quản lý tiến tiến giúp
các nhà phân phối quản lý hiệu quả nguồn hàng hóa và tình hình hoạt động của các cửa hàng bán
lẻ. Hơn nữa, trong từng giai đọan phát triển, công ty luôn giúp các nhà phân phối đưa ra những
chiến lược phát triển kinh doanh đúng đắn.
Mối quan hệ gắn bó giữa các nhà phân phối chính là chất keo vô hình gắn kết nên một “đại gia
đình” Dutch Lady Việt Nam. Đối với các nhà phân phối, lợi nhuận lớn nhất khi hợp tác với
Dutch Lady Việt Nam là việc tên tuổi của cửa hàng được gắn liền với một thương hiệu nổi tiếng
và được khách hàng tin tưởng. Ông Mai Thanh Hùng, nhà Phân Phối Mai Hưng, khu vực đồng
bằng sông Cửu Long nhìn nhận: “nhờ song hành cùng uy tín của Dutch Lady Việt Nam mà gần 3
năm qua công việc kinh doanh của tôi không ngừng phát triển”.
Sự phát triển của Dutch Lady Việt Nam trong 10 năm qua là kết quả nỗ lực không ngừng của tất
cả các thành viên Dutch Lady Việt Nam. Công ty đặt trọn niềm tin vào các nhà phân phối và tin
tưởng rằng mối quan hệ thân tình này sẽ bền chặt mãi mãi.
Trong vòng vài năm tới, chúng ta thấy có hai động lực chính củng cố sự tăng trưởng của ngành
sữa: sự bùng nổ của các sản phẩm về sữa do gia tăng tiêu thụ của thị trường thành thị và sự cạnh
tranh khốc liệt hơn giữa các công ty sản xuất sữa trên thị trường. Ngành sữa sẽ tiếp tục tăng
trưởng mạnh mẽ nhưng cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt và chúng ta có thể sẽ thấy một vài sự
hợp nhất và các công ty mới thâm nhập vào thị trường từ năm 2010.

• Địa chỉ : Xã Bình Hòa, Huyện Thuận An, Bình Dương
• Điện thoại : 84-650-3754422
• Fax : 84-650-3754726
• Địa chỉ trên MaroStores :
• Website :
Lịch sử phát triển
Dutch Lady Việt Nam là công ty liên doanh giữa Tập đoàn Friesland Foods nổi tiếng của Hà Lan
trong lĩnh vực sản xuất sữa và Công ty Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bình Dương (3-2) với tổng
vốn đầu tư ban đầu 30 triệu USD.
Ngày 28-2-1996 sản phẩm thương mại của Dutch Lady Việt Nam được đưa ra thị trường với
nhãn hiệu Cô gái Hà Lan.
Tuy sản phẩm thương mại của Dutch Lady Việt Nam ra đời đầu tiên vào năm 1996 nhưng thực ra
sản phẩm Cô gái Hà Lan không lạ với người tiêu dùng Việt Nam bởi lẽ sản phẩm này đã có mặt
tại Việt Nam từ năm 1924, 150 thùng sữa đặc đầu tiên mang nhãn hiệu Dutch Baby được nhập
khẩu và bán ở Việt Nam vào năm 1924. Ngay từ khi đưa sản phẩm ra thị trường, cộng với bề dày
lịch sử ít nhiều còn tiềm ẩn trong lòng người tiêu dùng, chính sách kinh doanh của Dutch Lady
Việt Nam đã tạo được ấn tượng nơi người tiêu dùng với chiến lược phân phối “còn xa còn tốt”
nhằm đưa sản phẩm đến người tiêu dùng ở mọi nơi, nhờ đó mà đến nay mạng lưới đại lý của
công ty đã trải đều trên khắp cả nước, góp phần đưa thương hiệu này chiếm lĩnh thị phần khá lớn
tại Việt Nam.
Năm 1993, văn phòng đại diện đầu tiên của Dutch Lady Việt Nam được thành lập tại số 27 Đồn
Đất, thành phố Hồ Chí Minh. Hóa đơn thương mại đầu tiên phát hành ngày 28 tháng 02 năm
1996 chính thức đánh dấu công cuộc chinh phục người tiêu dùng của Dutch Lady Việt Nam. Các
sản phẩm của Dutch Lady Việt Nam đã ra mắt thị trường và nhanh chóng được người tiêu dùng
tin yêu đón nhận. Chỉ trong vòng một năm sau ngày chính thức hoạt động, Dutch Lady Việt Nam
đã cùng với các nhà phân phối và bán lẻ xây dựng hệ thống phân phối đưa sản phẩm của công ty
đến với người dân thuộc mọi miền đất nước. Đây là những cánh tay vươn dài của Dutch Lady
Việt Nam dọc bờ cõi Việt Nam hình chữ S.
- 4 -
Dutch Lady Việt Nam còn được tiếp thêm sức mạnh từ việc ra đời các trung tâm làm lạnh và

các nhãn hiệu Dutch Lady, Yomost trở thành thương hiệu hàng đầu trong tâm trí người tiêu dùng
là những bằng chứng sống động cho thành công của Dutch Lady Việt Nam trong việc chinh phục
người tiêu dùng. Thành quả này sẽ không thể đạt được nếu không có những đóng góp đáng kể từ
các đơn vị quảng cáo, truyền thông, tổ chức sự kiện.
Mặc dù tiền thân là Việt Nam Foremost, nhưng tên gọi và hình ảnh Cô Gái Hà Lan đã trở nên
gần gũi, quen thuộc và luôn hiện hữu trong tâm thức của người tiêu dùng. Chính vì tình cảm của
cộng đồng, công ty đã quyết định đổi tên thành Dutch Lady Việt Nam mang thông điệp mới “Sẵn
sàng một sức sống” đến mọi gia đình Việt Nam.
Dutch Lady Việt Nam cho ra đời chương trình khuyến học Đèn Đom Đóm vào năm 2002. Đến
nay, chương trình đã tạo điều kiện cho hàng ngàn học sinh nghèo, hiếu học ở khắp mọi miền đất
nước tiếp tục tỏa sáng trên bước đường học vấn. Cho đến nay, chương trình khuyến học này đã
nhận được nhiều tình cảm và sự hưởng ứng nhiệt tình của cộng đồng.
Phối hợp với các ban ngành y tế là một trong những nỗ lực to lớn của Dutch Lady Việt Nam
nhằm cải thiện đời sống cộng đồng. Việc tổ chức các hội thảo dinh dưỡng giúp nâng cao kiến
thức chuyên môn các y bác sĩ và các chuyên gia dinh dưỡng, góp phần chăm sóc sức khỏe cộng
đồng được tốt hơn.
Năm 2005, Dutch Lady Việt nam đã đầu tư dây chuyền đóng chai với công nghệ tiên tiến nhất
thế giới, đem đến cho người tiêu dùng sản phẩm sữa trong kiểu chai mới với nhãn hiệu Cô Gái
Hà Lan, Calcimex và Yomost. Sự kiện này được xem như một điểm son đánh dấu cho cột mốc
- 5 -
10 năm liên tục hoàn thiện mình của Dutch Lady Việt Nam và đã được bình chọn 1 trong 10 sự
kiện marketing nổi bật nhất trong năm 2005.
Nhà máy mới của Dutch Lady được xây dựng tại cụm công nghiệp Tây-Nam thuộc thị xã Phủ
Lý, tỉnh Hà Nam, rộng 58.000m2. Nhà máy dự kiến sẽ được khởi công vào đầu năm 2007 và đi
vào hoạt động vào tháng 12/2008.
Theo kế hoạch, trong giai đoạn đầu, nhà máy tập trung sản xuất các sản phẩm sữa nước uống liền
với công suất 45 triệu lít/năm và tăng dần đến 200 triệu lít/năm trong tương lai.
Đồng hành cùng Việt Nam với sứ mệnh “Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng” là niềm
vinh dự mà Dutch Lady Việt Nam và các đối tác nhiệt thành của mình đã, đang và sẽ hoàn thành
một cách tốt nhất.

2. Dutch Lady 123, 456
a. Cô Gái Hà Lan Step 1 - (Sữa cho trẻ dưới 6 tháng tuổi) - Công thức tiên tiến để học
hỏi hiệu quả
b. Cô Gái Hà Lan Step 2 - (Sữa cho trẻ trên 6 tháng tuổi) - Công thức tiên tiến để học
hỏi hiệu quả
c. Cô Gái Hà Lan 123 - (Sữa cho trẻ trên 12 tháng tuổi) - Công thức tiên tiến để học
hỏi hiệu quả
d. Cô Gái Hà Lan 456 - (Sữa cho trẻ trên 36 tháng tuổi) - Công thức tiên tiến để học
hỏi hiệu quả
3. Dutch Lady Gold
a. Dutch Lady Gold Step 1
b. Dutch Lady Gold Step 2
c. Dutch Lady Gold 123
d. Dutch Lady Gold 456
4. Friso
a. Friso (hấp thu) (Friso 1, 2, 3, 4)
b. Friso Gold (tăng cường miễn dịch) ( 1, 2, 3, 4)
c. Frisolac Premature
d. Frisolac Comfort
e. Frisolac Soy
f. Friso Gold Mum
5. Yomost
a. YOMOST "Thức uống dành cho tuổi teen"
6. Fristi
a. FRISTI “Trở thành siêu nhân với Fristi” ( có đường, vị dâu, vị chocolate)
b. FRISTI FRUITY “Cùng là dũng sĩ” ( vị xoài, dâu, nho)
7. Completa
a. Hoàn hảo “Cho Ly Cà Phê Thơm Ngon”
8. Longevity
a. TRƯỜNG SINH "Cho mọi nhu cầu sử dụng"

nuôi bò sữa trong nước. Hiện nay các công ty sữa phải nhập khẩu khoảng 70% nhu cầu nguyên liệu. Điều này
khiến họ dễ bị tổn thương. Giá sữa nguyên liệu đã tăng 100% trong năm 2007 trước khi giảm trở lại. Hiện nay sữa
nguyên liệu vào khoảng 3.500 đô la một tấn bột sữa gầy, cao hơn 20% mức giá vào đầu năm 2007. Gánh nặng này rơi
trực tiếp xuống các nhà sản xuất nội địa, đặc biệt là những công ty không có các hợp đồng mua nguyên liệu dài hạn
trong tay.
4. Chính trị:
Chính phủ Việt Nam đang thực thi một kế hoạch phát triển nâng cao thể lực thông qua
mức tiêu thụ sữa cao hơn. Một trong những mục tiêu của kế hoạch là phát triển ngành sữa
nội địa bằng cách tăng quy mô đàn bò lên trên 200.000 con (gấp hơn 2 lần quy mô đàn
hiện tại) và tăng sản lượng sữa tươi lên 350.000 tấn vào năm 2010. Với kế hoạch này,
chính phủ đặt mục tiêu tạo ra một ngành công nghiệp nội địa không phụ thuộc vào nhập
khẩu. Năm 2001, nguồn cung sữa tươi nguyên liệu chỉ chiếm 8% nhu cầu sản xuất. Đến
tháng 8 năm 2007, tỷ lệ này đã được cải thiện lên 30% và số lượng bầy đã mở rộng lên
trên 98.659 con, theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê.
B- Các yếu tố vi mô
1. Khách hàng:
- 8 -
- Giới trẻ
- Người trung niên và cả thành phần lớn tuổi
2. Đối thủ cạnh tranh:
Do tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của ngành sữa, nên các công ty đang hoạt động trong
ngành có thể dễ dàng cải thiện doanh thu. Với những đặc điểm hấp dẫn của ngành, thị trường sữa đang
trở nên đông đúc hơn và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Hiện nay thị trường sữa, ngoài hai công ty lớn chia sẻ
thị trường là Vinamilk và Dutch Lady Việt Nam.
Nhiều công sữa ty nội địa đã dược thành lập, tập trung vào chỉ một hoặc hai phân khúc thị
trường như sữa tươi hoặc sữa bột. Hanoimilk là đối thủ cạnh tranh tiềm năng lớn với
Vinamilk trên thị trường sữa tươi cho trẻ em, bên cạnh Dutch Lady Việt Nam. Ở thị trường
sữa bột, sự cạnh tranh rất gay gắt do sự hiện diện của rất nhiều nhà sản xuất, cả trong nước lẫn nước ngoài. Nhờ đang
tận hưởng mức tăng trưởng cao, nên các công ty nhỏ hơn không thật sự phải cạnh tranh để tăng thị phần. Với những
công ty mới gia nhập, rất khó có thể thâm nhập vào thị trường tập trung cao độ bởi 2 công ty lớn, do khách hàng của

cung cấp 1.500 tấn cà phê uống liền và 2.400 tấn cà phê rang mỗi năm.
Chiến lược tăng trưởng và mở rộng tỷ suất lợi nhuận
Vinamilk đang theo đuổi chiến lược kinh doanh theo các mục tiêu sau:
• Mở rộng thị phần tại các thị trường hiện tại và thị trường mới;
• Phát triển một danh mục toàn diện các sản phẩm từ sữa để nhắm đến nhiều đối tượng
tiêu dùng hơn và mở rộng các sản phẩm mang lại nhiều giá trị lợi nhuận biên;
• Phát triển các dòng sản phẩm mới để đáp ứng sở thích khác nhau của người tiêu dùng;
• Nuôi dưỡng thương hiệu;
• Không ngừng củng cố việc quản lý chuỗi cung ứng;
• Phát triển các nguồn nguyên liệu để đảm bảo nguồn cung sữa tươi nguyên liệu tin cậy
và ổn định.
Vinamilk cũng có kế hoạch tập trung toàn bộ sản xuất vào hai địa điểm nhằm đạt được lợi
thế nhờ qui mô, đặc biệt là tiết kiệm chi phí vận chuyển. Theo kế hoạch này, sẽ chỉ còn hai
nhà máy sản xuất lớn, một ở miền Bắc và một ở miền Nam thay vì chín nhà máy hiện nay.
HANOIMILK:
Công ty cổ phần sữa (Hanoimilk) được thành lập ngày 02-11-2001, nhà máy chế biến sữa
Hà nội được khởi công xây dựng ngày 08/03/2002 trên địa bàn xã Quang Minh, Huyện
Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhà máy có công suất 150 triệu lít sữa/năm, với dây chuyền kỹ
thuật tiên tiến do tập đoàn Tetra Pak- Thuỵ Điển cung cấp cùng đội ngũ cán bộ kỹ thuật
giỏi & đội ngũ công nhân lành nghề. Hanoimilk không chỉ cung cấp các sản phẩm sữa
phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn hướng tới mở rộng việc cung cấp sản phẩm sang
thị trường khác trong khu vực & quốc tế. Từ năm 2006 với tốc độ phát triển cao trên
30%/năm, Hanoimilk đã đầu tư mở rộng nhà xưởng, kho bãi; cải tiến, nâng cao công suất
thiết bị; tăng cường thêm 1 dây chuyền sản xuất nâng cao năng lực sản xuất lên 60 triệu
lít/năm. Với cơ sở vật chất - công nghệ hiện tại, Nhà máy chế biến sữa Hà Nội có khả
năng sản xuất các loại sản phẩm dạng lỏng : sữa tiệt trùng, sữa chua uống tiệt trùng, nước
trái cây, sữa chua ăn có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
NUTIFOOD:
Nutifood là một công ty sữa Việt Nam khá mới, được thành lập tháng 5 năm 2000. Các
sản phẩm chính của Nutifood là bột dinh dưỡng trẻ em và sữa bột. Hướng tới phân khúc

xuất nội địa do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, những người mua lớn có quyền lực định giá
lớn và buộc các trang trại chấp nhận mức giá không kinh tế. Thứ hai, qui mô trung bình
của các đàn bò nhỏ, có nghĩa là thiếu tính kinh tế về qui mô. Hơn thế nữa, hầu hết những
người chăn nuôi bò sữa đều thiếu kinh nghiệm và thiết bị tiêu chuẩn quốc tế, do đó sữa
tươi không thật sự có chất lượng tốt. Chi phí tăng cùng với thu nhập thấp khiến cho rất
nhiều trang trại bò sữa ngừng hoạt động.
Cạnh tranh khốc liệt hơn
Trong đó Dutch Lady là công ty mạnh nhất trên thị trường sữa nước. Được hỗ trợ bởi dòng vốn
từ công ty mẹ, Dutch Lady Việt Nam không phải đặt mục tiêu quá cao về hiệu quả sinh lời như Vinamilk, do đó chiến
lược cạnh tranh của công ty này tương đối linh hoạt hơn Vinamilk.
Dutch Lady Việt Nam có nhiều kinh nghiệm hơn Vinamilk trong việc khai thác các phân
khúc thị trường hẹp nhưng tăng trưởng cao thông qua các chiến lược marketing tinh vi.
Vinamilk cũng đang bị thách thức bởi các sản phẩm nhập khẩu theo các cam kết gia nhập
WTO. Việc giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm từ sữa đã được thi hành từ tháng 8 năm
2007 như là một nỗ lực của chính phủ nhằm giảm bới sự bùng nổ giá sữa.
Bảng so sánh theo 4P của Dutch Lady với đối thủ chính Vinamilk.
4P
DUTCH LADY VINAMILK
Product Vinamilk có một danh mục các sản
- 11 -
phẩm sữa đa dạng về chủng loại và
khẩu vị: sữa bột, bột dinh dưỡng trẻ
em, sữa nước UHT, sữa chua UHT,
sữa chua ăn, sữa đặc có đường và
phô mai. Các sản phẩm đa dạng này
hướng tới một dải rộng khách hàng,
từ trẻ em, thanh niên, người già, cho
gia đình và cho các cửa hàng thương
mại.
Bằng việc thực hiện chiến lược đa

phủ.
Place Mạng lưới phân phối rộng lớn
Một mạng lưới phân phối rộng lớn
bao trùm tất cả các tỉnh thành được
coi là lợi thế cạnh tranh quan trọng
nhất mà Vinamilk đang có được so
với tất cả các đối thủ. Có 2 kênh
phân phối bao phủ toàn quốc là các
- 12 -
đại lý gián tiếp và kênh phân phối
trực tiếp.
• Kênh phân phối gián tiếp (thương mại truyền
thống): Vinamilk đã xây dựng và duy trì hệ
thống phân phối gián tiếp với 201 nhà phân phối
và 141.000 nhà bán lẻ ở tất cả 64 tỉnh thành, tiêu
thụ hơn 90% tổng sản lượng của công ty. Ở khu
vực nông thôn, Vinamilk có đại lý ở hầu hết các
xã. Các sản phẩm của Vinamilk có mặt ở hầu hết
các cửa hàng tạp hóa trên những tuyến đường
chính. Công ty cũng đã thiết lập một hệ thống
phân phối ở một vài thị trường nước ngoài như
Trung Đông, Campuchia và Maldives trong vài
năm gần đây.
• Kênh phân phối trực tiếp (thương mại hiện
đại): bao gồm siêu thị, cửa hàng giới thiệu sản
phẩm, trường học và khách sạn. Đây là kênh
phân phối hỗ trợ, chỉ tiêu thụ 10% tổng sản
lượng hàng năm của công ty. Tuy nhiên kênh
này sẽ trở nên quan trọng do các nhà bán lẻ
qui mô lớn ngày càng chiếm nhiều thị phần.

Vinamilk và các sản phẩm khác đã
trở thành những nhãn hiệu quá quen
thuộc trên thị trường nội địa
Vinamilk đã có mặt trên thị trường
nội địa hơn 30 năm, do đó sự nhận
diện thương hiệu là rất mạnh mẽ.
Nhãn hiệu Vinamilk khá là quen
thuộc với mọi người Việt Nam từ
thành thị đến nông thôn. Vinamilk
đứng thứ nhất trong danh sách “Hàng
Việt Nam chất lượng cao” trong suốt
nhiều năm liền từ 1995 đến 2007
(được đánh giá bởi bạn đọc tạp chí
Thời báo Tiếp Thị Sài Gòn). Trong
năm 2000 và 2004, công ty cũng
giành giải thưởng “Sáng tạo Khoa
học và Công nghệ” của Tổ chức Sở
hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO).
Danh mục nhãn hàng của Vinamilk
bao gồm 4 nhãn hiệu lớn: Vinamilk-
Cuộc sống tươi đẹp, Dielac- Tình yêu
của mẹ, Cà phê Moment- Đam mê
chiến thắng và VFresh- Tươi mát từ
thiên nhiên. Chiến dịch định vị lại
thương hiện gần đây được đạo diễn
bởi nhóm chuyên gia tiếp thị được
tuyển dụng từ lần tái cấu trúc lớn của
Vinamilk năm 2006. Nhờ đó, các
nhãn hiệu Vinamilk đã đã được làm
mới và trở nên hấp dẫn hơn đối với

thị. Hằng ngày, nó tác động đến người tiêu dùng dưới nhiều hình thức từ outdoor đến TVC, từ tờ
rơi, poster đến quảng cáo báo in, báo điện tử…
Trong giai đoạn hiện nay sữa “Cô Gái Hà Lan” của công ty Dutch Lady Việt Nam nắm giữ
37,2% thị phần trong thị trường sữa nước, cao hơn Vinamilk một chút. Dutch Lady Việt Nam đã
luôn rất mạnh trong khâu tiếp thị. Tuy nhiên thị phần của công ty đã liên tục giảm từ 49,8% năm
2004 còn 45,1% năm 2005, 45,2% năm 2006 và chỉ còn 37,2% năm 2007. Nguyên nhân là do sự
mở rộng vững chắc của Vinamilk vào thị trường này cộng với cuộc đổ bộ vào thị trường sữa
nước của một số công ty nhỏ hơn như Hanoimilk, Nutifood và F&N.
Sau công cuộc cải tổ thương hiệu một cách toàn diện và các chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ, đặc
biệt là cho các nhãn hàng sữa tươi, Vinamilk hiện nay rất tự tin là họ có thể giành thêm thị phần từ Dutch
Lady. Trong năm 2007, cuộc cách mạng marketing của Vinamilk đã đạt được thành công vang dội khi tạo ra một hình ảnh
tươi mới cho tất cả các nhãn hàng chính của mình. Trong chừng mực lớn hơn, điều này giúp hồi phục lại niềm tin vào thương
hiệu đã bị ảnh hưởng bởi vụ tai tiếng về nhãn mác sữa tươi năm 2006. Người tiêu dùng rất ấn tượng với nhãn hiệu mới “sữa
tươi tiệt trùng 100%” có sự khác biệt rõ ràng với “Cô gái Hà Lan” và các nhãn hiệu sữa tươi khác.
Ngoài ra Vinamilk còn quyết định trở thành nhà tài trợ chính cho kênh HTV2 trong năm 2008,
qua đó các thông điệp quảng cáo của Vinamilk sẽ xuất hiện trên HTV2 trong suốt 18 tiếng đồng
hồ phát sóng hàng ngày của kênh. Hình thức tài trợ này khá mới mẻ, chưa từng có thương hiệu
nào thực hiện trước đây.
Gần đây, hai nhãn hiệu lớn này còn tung ra những chiến dịch marketing gần như là đồng thời.
Vinamilk tung ra thông điệp "trăm phần trăm", ngay lập tức Dutch Lady đã đưa ra chiến dịch
" nữa đi". Được một thời gian, hai chiến dịch này tiếp tục phát triển với những thông điệp "Bày
tỏ" của Dutch Lady và với Vinamilk là "Chia sẻ”. Với Dutch Lady, có thể diễn giải thông điệp
của họ là "Hãy uống sữa Cô gái Hà Lan để bày tỏ tình yêu với MẸ". Tình yêu với mẹ là thứ tình
cảm thiêng liêng và dường như là ai cũng muốn nói "Con yêu mẹ", nhưng thật khó. Còn
Vinamilk, "Uống sữa là sẻ chia!". Mỗi một hộp sữa bạn uống, là đã đóng góp 60đ vào chiến dịch
chia sẻ 1 triệu ly sữa với trẻ em nghèo. Họ sử dụng những nhân vật nổi tiếng hàng đầu như
Thanh Bạch, Lam Trường, rồi cả Quyền Linh để truyền tải thông điệp "Sẻ chia" này. Thế là cứ
"Uống sữa Vinamilk", là đã "Có tinh thần đồng loại, có tình yêu với trẻ em nghèo"!
Dutch Lady là nhãn hiệu "xâm chiếm" lĩnh vực sữa tươi uống liền đầu tiên tại thị trường Việt
Nam. Rồi mới đến Vinamilk. Nhưng rõ ràng là kể từ khi cổ phần hóa, marketing của Vinamilk đã

thay cho doanh nghiệp. Hơn nữa, những hoạt động như giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng,
hay phát ngôn PR của công ty không thể cứ phải để chủ doanh nghiệp đứng ra lo liệu.
Cho đến thời điểm này mà vẫn còn nhiều doanh nghiệp ngại trả lời phỏng vấn chuyên môn,
ngại tiếp phóng viên báo đài, hiếm khi tổ chức các buổi briefing thông tin báo chí… không
xây dựng được một nguyên tắc và mối quan hệ tin cậy giữa phóng viên và doanh nghiệp. Đây
- 17 -
là một trong những rào cản của quá trình triển khai thực hiện các hoạt động PR của các
doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt khi gặp rủi ro hoặc một sự cố thông tin nào đó, thì việc giải
quyết những khủng hoảng này đã khó khăn lại còn khó khăn hơn khi mối quan hệ với phóng
viên báo đài không được thiết lập hoặc được thiết lập nhất thời không lâu dài. Sự xuất hiện
đều đặn trên các tờ báo (báo mà khách hàng mục tiêu quan tâm), không chỉ để đạt được mục
tiêu là giữ tần suất xuất hiện của thương hiệu, mà còn là cầu thông tin hết sức quan trọng
của doanh nghiệp dành cho người tiêu dùng. Do vậy, việc tiếp xúc phóng viên hay gởi thông
cáo báo chí thường xuyên nhận một sự kiện nào đó của doanh nghiệp cần xây dựng trở thành
một hoạt động mang tính bắt buộc trong kế hoạch làm việc của nhân viên PR.
………………………………………………………………………………………………
dưới sự tài trợ của công ty Dutch Lady, công ty Masso Events (thuộc Masso Group) đã phối hợp
với các Thành Đoàn thành phố Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng, và Bình Dương đồng loạt thực hiện
chương trình “Vũ Hội Đường Phố”

Trong dịp 1/6 năm nay, chỉ tính riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có đến gần 10 sự kiện tiếp thị
lớn của các công ty đại gia dành cho khách hàng nhí. Trong đó, mặt hàng sữa có đến 4 sự kiện
tiếp thị diễn ra cùng lúc của Dutch Lady, Vinamilk, Nutifood, và Daisy

Chiến dịch tiếp thị của Dutch Lady không chỉ là “Vũ Hội Đường Phố”
Sự thành công của sự kiện “Vũ Hội Đường Phố” sẽ không đủ làm nên sự thành công của Dutch
Lady trong chiến lược tiếp thị nếu không có sự kết hợp của các chương trình chiêu thị truyền
thống

- 18 -

Bộ Giao thông Vận tải ()

Bộ Y tế ()

Bộ Bưu chính - Viễn thông ( />•
NHNN Việt Nam ()

Tổng cục Hải quan Việt Nam ()

Tổng cục Thống kê Việt Nam ()

Cơ sở dữ liệu Viện trợ phát triển và Công cụ quản lý viện trợ ()

Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp ()

Ngân hàng Thế giới ( />•
Ủy ban chứng khoán Nhà nước ( )

Trung Tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội ()

Tập đoàn Điện lực Việt Nam ()

Thời báo Kinh tế Việt Nam ()

The Economist Intelligence Unit ()

Business Monitor International ()

CEIC ()


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status