CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI GIẢNG
LÝ LUẬN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Người soạn: Phạm Dũng
2
2
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ DỤC THỂ THAO
1. Tóm tắt lịch sử phát triển chung về thể dục thể thao:
Thể dục thể thao ngay từ khi xuất hiện và phát triển trong xã hội loài người
đến khi hình thành một hệ thống như ngày nay, đã trải qua hàng ngàn năm.Lịch sử
phát triển của Thể dục thể thao luôn phù hợp với các thời kỳ phát triển của xã hội
loài người.
Thời kỳ nguyên thủy: Cuộc sống tự nhiên đòi hỏi các thành viên những yêu
cầu nhất định về sự chuẩn bị thể lực, sự khéo léo, sức mạnh, sức bền, khả năng hoàn
thành nhiệm vụ trong săn bắn, chiến tranh và chống chọi với sự khắc nghiệt của điều
kiện tự nhiên. Chính vì vậy đã hình thành và phát triển hệ thống giáo dục thể chất đa
dạng. Thời kỳ này càng chứng minh sự tồn tại và phát triển của con người phụ thuộc
trực tiếp vào trình độ chuẩn bị và phát triển các tố chất thể lực. Nhiều Bộ tộc thời cổ
đại đã biết sử dụng các bài tập phát triển thể lực và trò chơi vận động như một
phương tiện đặc biệt nhăm chuẩn bị cho con người vào các lao động tự nhiên. Ở một
số bộ tộc có quy định nghiêm ngặt không cho phép thanh niên được cưới vợ nếu
chưa trải qua những thử thách nhất định về sự chuẩn bị thể lực
Dù trình độ phát triển lực lượng sản xuất xã hội đến mức độ nào thì vai trò
quyết định giá trị phát triển để có tư chất thể lực vẫn có trong đời sống xã hội và tự
nhiên. Sự phát triển của chúng luôn là bộ phận quan trọng của nền giáo dục con
người.
Trong xã hội nô lệ, điển hình là thời cổ Hy lạp, để tiến hành chiến tranh xâm
lược và đàn áp nô lệ; giai cấp chủ nô đã rất chú trọng đến việc giáo dục cho các
chiến binh có những kiến thức phong phú và có thể lực tốt; từ đó họ có những đội
và phát triển sâu rộng của Thể dục thể thao như là một bộ phận quan trọng của nền
văn hóa xã hội (Thể thao nghiệp dư và nhà nghề). Đồng thời trong giai đoạn này đã
xuất hiện cơ sở về nền lý luận giáo dục thể chất tư sản. Thể dục thể thao trong xã hội
tư bản biểu hiện rõ rệt tính chất giai cấp; Giai cấp tư sản sử dụng Thể dục thể thao
với mục đích đặc quyền của tầng lớp bóc lột, đánh lạc hường quần chúng lao động
và đặc biệt là lôi kéo tầng lớp thanh niên ra khỏi đời sồng chính trị xã hội và phong
trào cách mạng; kích động và đào tạo thanh niên để chuẩn bị cho chiến tranh.
2. Một số khái niệm cơ bản của Giáo dục thể chất.
Giáo dục Thể chất: Là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ,
hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ
của con người.
Hệ thống Giáo dục thể chất: là sự tổng hợp các cơ sở khoa học về quan điểm
và phương pháp luận của Giáo dục thể chất cúng với các cơ quan tổ chức thực hiện
và kiểm tra công tác Giáo dục thể chất quốc dân.
Văn hóa Thể chất: là một bộ phận của nền văn hóa chung, là một loại hình
hoạt động đặc biệt nhăm hình thành các tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe và khả
năng làm việc của dân chúng. Các yếu tố cơ bản của hoạt động này là các bài tập thể
lực có liên quan chặt chẽ với quá trình hình thành, phát triển của nền văn hóa, giáo
dục chung của con người. Giáo dục Thể chất là bộ phận cấu trúc nên nền văn hóa thể
chất.
Phong trào Thể thao: là một hình thức đặc biệt của các hoạt động xã hội, có
nhiệm vụ phối hợp nâng cao trình độ văn hóa thể chất và phát triển thể thao trong
nhân dân. Phong trào thể thao là hoạt động có tính mục đích của các tổ chức nhà
nước, xã hội nhằm phát triển Thể dục thể thao. Phong trào thể thao là một bộ phận
hoạt động văn hóa, giáo dục; nó có vị trí và chức năng quan trọng trong giáo dục sự
hài hòa về nhân cách và thể chất con người.
4
4
Phát triển thể chất: là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất tự nhiên
về hình thái, chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội. Phát triển thể chất
Trong các trường Đại học và cao đẳng, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm
chung trong chỉ đạo, kiểm tra công tác giáo dục thể chất – phong trào thể thao và
theo dõi sức khỏe của sinh viên. Bộ môn Giáo dục thể chất có trách nhiệm về việc
tổ chức và tiến hành quá trình sư phạm và giáo dục thể chất cho sinh viên theo kế
5
5
hoạch giảng dạy của trường. Các hoạt động Thể dục thể thao quần chúng và nâng
cao thành tích thể thao do chi hội thể thao đại học và chuyên nghiệp( Ban văn thể )
Trường cùng với Bộ môn Giáo dục thể chất phối hợp với các tổ chức quần chúng
khác như Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường thực hiện. Công tác kiểm tra
sức khỏe định kỳ và theo dõi tình trạng sức khỏe của sinh viên trong quá trình luyện
tập và thi đấu Thể dục thể thao do Y tế trường phối hợp với Bộ môn Giáo dục thể
chất tiến hành.
2. Các hình thức Giáo dục thể chất:
Giáo dục thể chất trong các trường đại học phải được tiến hành bằng các hình
thức sau:
- Giờ học thể dục thể thao:
+ Giờ chính khóa: (150 tiết chia thành 5 học phần) trang bị các kiến thức về lý
luận giáo dục thể chất; nguyên lý kỹ thuật một số môn thể thao theo điều kiện cơ sở
vật chất và con người của trường; các phương pháp tập luyện để duy trì và nâng cao
thể lực cho sinh viên.
+ Giờ ngoại khóa: ( 320 tiết chia ra 4 năm học, năm thứ nhất và thứ 2 mỗi
năm 60 tiết, năm thứ 3 và năm thứ tư mỗi năm 100 tiết) nhằm củng cố và hoàn thiện
các bài học trong giờ chính khóa.
+ Các bài tập thể dục vệ sinh và chống mệt mỏi hàng ngày.
+ Các hoạt động thể thao quần chúng: Giải thể thao của khoa, trường và các
đội tuyển trường tham gia thi đấu ở các giải do các cấp ban ngành tổ chức.
3. Trách nhiệm của sinh viên:
- Tham gia đầy đủ các buổi học thể dục thể thao( cả lý luận và thực hành)
theo thời khóa biểu và kế hoạch giảng dạy của nhà trường.
cơ thể. Hoạt động của cơ thể bao gồm sự phối hợp của hoạt động tâm lý, hoạt động dinh
dưỡng và vận động trong mối liên hệ chặt chẽ với môi trường xung quanh và chịu sự
tác động của môi trường. Sự thay đổi của môi trường bao gồm cả sự thay đổi của môi
trường tự nhiên và xã hội sẽ dẫn đến những thay đổi trạng thái của cơ thể.
- Trao đổi chất và năng lượng:
Sự thống nhất của cơ thể với môi trường bên ngoài thể hiện ở sự trao đổi chất
và năng lượng. Không một tế bào nào của cơ thể có thể tồn tại nếu không liên tục
nhận được các chất dinh dưỡng, ô xy và đào thải các sản phẩm phân giải. Sự trao đổi
chất và năng lượng liên tục của cơ thể được phân chia ra làm hai quá trình. Quá trình
Đồng hóa là quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng và ô xy để tích lũy tiềm năng vật
chất của cơ thể; Quá trình di hóa là quá trình liên tục phân giải các chất hóa học
phức tạp đã hấp thụ được đào tạo thành năng lượng cho cơ thể sống và hoạt động.
Quá trình trao đổi chất của cơ thể được chia làm Ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Đưa các chất dinh dưỡng và ôxy vào cơ thể
- Giai đoạn 2: Các cơ quan- tổ chức hấp thụ các chất dinh dưỡng và ô xy để
tích lũy và giải phóng năng lượng
- Giai đoạn 3: Đào thải các sản phẩm phân giải
Ô xy được đưa vào cơ thể bằng hệ hô hấp và hệ tim mạch; còn các chất dinh
dưỡng( đường- đạm- mỡ- muối khoáng- vitamin) vào cơ thể cùng thức ăn.
7
7
Quá trình trao đổi chất xảy ra mạnh và liên tục trong suốt cuộc đời con người;
Các tế bào luôn phân hủy và được sản sinh; trong 3 tháng cơ thể đã thay đổi gần ½
lường Prôtêin; ví dụ : sau 5 năm học, niêm mạc dạ dày của sinh viên đã thay đổi tới
500 lần. Sự trao đổi chất của cơ thể luôn xảy ra song song với sự trao đổi năng
lượng; sự cân bằng giữa năng lượng hấp thụ và năng lượng tiêu hao là chỉ số quan
trọng để đánh giá sự trao đổi năng lượng. Cân bằng dưỡng khi hấp thụ lớn hơn tiêu
hao, lúc này cơ thể éo lên, ưa vận động, nếu để cân bằng dương kéo dài sẽ bị bệnh
béo phì, sức khỏe giảm sút; cân bằng amaam sẽ làm sút cân, người mệt mỏi, giảm
khả năng vận động; nếu để kéo dài sẽ dẫn đến bệnh suy dinh dưỡng.
dài và khi lượng dự trữ đường đã cạn; 80 % năng lượng của cơ thể được cung cấp
8
8
bằng cách phân giải mỡ. Vì vậy việc tập luyện TDTT có tác dụng kích thích việc sử
dụng mỡ, chống được bện béo phì.
Đạm ( Prôtêin) là chất cấu tạo cơ bản của cơ thể. Song nếu bị đói kéo dài,
đường và mỡ dự trữ đã cạn thì đạm cũng có thể sử dụng để cung cấp năng lượng ( 1g
đạm khi phân giải cung cho 4,1 Kcal); Đạm không được dự trữ trong cơ thể, vì vậy
khi bị đói- đạm của cơ quan này sẽ được sử dụng để duy trì sự sống của cơ quan
khác quan trọng hơn.
Muối khoáng, vi tamin, nước: là những chất không sinh năng lượng.
Nước và muối khoáng chủ yếu để duy trì áp suất thể dịch của cơ thể và ổn định môi
trường bên trong cơ thể. Vitamin có tác dụng xúc tác các quá trình chuyển hóa các
chất và nâng cao khả năng hoạt động của cơ thể, đặc biệt là các hoạt động thể lực.
2. Cơ thể con người là bộ máy vận động:
Vận động ;à điều kiện để cơ thể tồn tại và phát triển. Cơ thể con người
được cấu tạo và hoạt động giống như một bộ máy vận động. Bộ máy vận động của
cơ thể gồm có xương- cơ- dây chằng( là những bộ phận trực tiếp đảm nhiệm chức
năng vận động); các hệ cơ quan (hô hấp- tuần hoàn& máu) đảm bảo cung cấp Ôxy
và vận chuyển các chất dinh dưỡng cho cơ tồn tại, phát triển và cung cấp năng lượng
cho cơ quan vận động hoạt động. Tất cả các hoạt động đều chịu sự điều khiển của hệ
thần kinh TW.
2.1 Bộ máy vận động: (Gồm xương, cơ, dây chằng& thần kinh điều khiển
hoạt động của cơ) trong đó xương, cơ, dây chằng là bộ phận trực tiếp thực hiện các
động tác.
- Bộ xương: (Gồm hơn 200 chiếc) Là giá đỡ thân thể và bảo vệ các cơ
quan nội tạng. Các xương liên kết với nhau tạo nên các khớp xương; trong khớp có
sụn và dịch nhầy; xung quanh khớp có dây chằng giữ cho khớp ổn định – vững chắc.
Mỗi khớp chỉ có khả năng hoạt động theo một hướng và mức độ nhất định nhưng
nếu được tập luyện thì mức độ linh hoạt của khớp sẽ tăng lên đáng kể song cấu trúc
+ Chức năng dinh dưỡng: cung cấp các chất dinh dưỡng đến các mô cho
hoạt động sống của các tế bào
+ Chức năng điều khiển: các nội tiết tố và các chất khác có trong máu có
tác dụng điều hòa hoạt động của các cơ quan - tổ chức.
+ Chức năng bảo vệ: Nhở quả trình thực bào và quá trình miễn dịch của
bạch cầu.
10
10
+ Chức năng điều nhiệt: Màu làm nhiệm vụ vận chuyển nhiệt, làm cho cơ
thể không bị quá nóng và sưởi ấm cho các bộ phận bị lạnh.
b. Hệ tuần hoàn: (Gồm có Tim và hệ thống các mạch máu) Màu được di
chuyển trong hệ tuần hoàn nhờ lực bóp của tim và sự nhu động của thành mạch máu;
máu được đảy từ tim vào các động mạch, sau đó chia nhánh nhiều lần, cuối cùng ở các cơ
quan và tổ chức là mao mạch (các mạch máu rất nhỏ có cấu tạo các màng bán thấm).
Tim là bộ phận quan trọng nhất của hệ tuần hoàn; cấu tạo như một cái
bơm để đảy máu đi và hút máu về; nhờ tim mà máu tuần hoàn trong cơ thể. Tim hoạt
động tự động song cũng chịu sự tác động gián tiếp của các cơ quan tổ chức khác đặc
biệt là hệ thần kinh. Tim được chia làm 4 ngăn, hai buồng phía dưới là tâm thất phải
và trái, hai buồng phía trên là tâm nhĩ phải và trái.
Sự tuần hoàn diễn ra theo hai vòng:
Vòng lớn bắt đầu từ Tâm thất trái theo động mạch mang các chất dinh dưỡng
và Ôxy tới các tổ chức cơ quan sau đó theo tĩnh mạch trở về tâm nhĩ phải.
Vòng tuần hoàn nhỏ từ Tâm nhĩ phải đổ xuống tâm thất phải rồi từ đó theo
theo động mạch đem khí cácbonic lên phổi đổi lấy Ôxy và trơ về tâm nhĩ trái; từ tâm
nhĩ trái màu lại đổ xuống tâm thất trái để chuẩn bị một vóng tuần hoàn mới.
Sơ đồ vòng tuần hoàn
1. Động mạch chủ 2. Động mạch gan 3. Động mạch ruột 4. Lưới mao
mạch 5. Tĩnh mạch cửa 6. Tĩnh mạch gan 7. Tĩnh mạch chủ dưới 8. Tĩnh
mạch chủ trên 9. Tâm nhĩ phải 10. Tâm thất phải 11. Động mạch phổi 12.
Lưới mao mạch 13. Tĩnh mạch phổi 14. Tâm nhĩ trái 15. Tâm thất phải
Ôxy- Hấp thụ Ôxy.
Tần số hô hấp: là số lần thở trong một phút; bình thường khoảng 16-20
lần/phút; khi vận động có thể tăng lên đến 30- 40 lần/phút.
Thể tích hô hấp: Là lượng không khí đi qua phổi trong một lần thở; bình
thường khoảng 250- 700 ml; khi hoạt động nặng có thể lên tới 2- 2.5 lít.
Thông khí phổi: là lượng không khí đi qua phổi trong một phút ( = Thể tích
hô hấp X tần số hô hấp)
Dung tích sống: Là lượng không khí tối đa mà người ta có thể thở ra sau khi
hít vào hết sức; dung tích sống phụ thuộc vào tuổi- giới tính- tình trạng sức khỏe-
12
12
trình độ tập luyện và nhiều yếu tố khác ; Bình thường khoảng 2.5- 3.5 lít còn VĐV
có trình độ cao có thể tới 6- 7 lít.
Nhu cầu Ôxy: Là lượng Ôxy mà cơ thể cần trong một phút để đảm bảo sự
trao đổi chất; nó tương ứng với mức năng lượng tiêu hao của cơ thể.
Hấp thụ Ôxy là lượng Ôxy thực tế cơ thể đã sử dụng trong một phút; Vo2
max là khả năng hấp thụ Ôxy tối đa; ở người bình thường khoảng 2- 3.5 lít , ở các
VĐV các môn thể thao sức bền có thể lên tới 6 lít.
d. Điều hòa sự hoạt động của cơ thể: Mọi sự hoạt động của cơ thể đều chịu
sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương và cơ chế điều hòa thể dịch.
- Hệ thần kinh trung ương điều khiển sự hoạt động của các cơ quan bằng các
xung động thần kinh và việc tiếp nhận các tín hiệu từ bên ngoài và bên trong cơ thể;
hệ thần kinh hoạt động theo cơ chế phản xạ; mỗi một phản xạ của cơ thể xảy ra theo
một đường lan truyền hưng phấn cố định (cung phản xạ)
Sơ đồ cung phản xạ
- Cơ chế điều hòa thể dịch điều hòa hoạt động của các cơ quan thông qua các
chất chứa trong máu. Các chất hóa học đó có thể là nội tiết tố do các tuyến dịch tiết
ra- các chất khí- các sản phẩm trao đổi chất
3.Cơ sở sinh lý của hoạt động thể lực:
3.1 Kỹ năng vận động: Là một hình thức hành động được hình thành theo cơ
phản ứng, đó là khoảng thời gian từ khi kích thích cho tới khi có phản ứng trả lời; 2
là thời gian của động tác đơn lẻ; 3 là tần số động tác) hoặc hình thức phức tạp là kết
quả của các thử nghiệm vận động và bài tập thể thao như chạy ngắn, tần số đánh
bóng, tốc độ đập bóng Để thực hiện các hình thức sức nhanh thì các quá trình hưng
phấn và các quá trình sinh hóa trong thần kinh và cơ phai xảy ra thật nhanh, các
trung tâm thần kinh phải có tính linh hoạt cao; trong hoạt động thể thao thì sức mạnh
và tốc độ có liên quan mật thiết với nhau; sự phát triển sức mạnh ảnh hưởng rất lớn
đến tốc độ. Trong quá trình tập luyện thì sức nhanh phát triện chậm và khó khăn hơn
nhiều so với sức mạnh và sức bền; sức nhanh phát triển tốt nhất là ở độ tuổi thanh
thiếu niên.
- Sức mạnh: Là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài của cơ bắp; Sức mạnh
cơ bắp phụ thuộc vào đặc tính của các quá trình thần kinh điều khiển sự co cơ và số
lượng các đơn vị vận động chứa trong cơ. Để có thể thực hiện sức mạnh tối đa, cơ
phải được huy động với số lượng tối đa đồng thời sự hưng phấn cũng phải rất tập
trung để tránh các nhóm cơ đối kháng cùng tham gia vào một cử động. Sự cung cấp
dinh dưỡng cho cơ cũng có vai trò hết sức quan trọng để cơ phát húy sức mạnh. Cơ
sở sinh lý cơ bản để phát huy sức mạnh là cần phải có số lượng lớn cơ tham gia co
cùng một lúc đồng thời các cơ đối kháng thì lại thả lỏng (tăng cường sự phối hợp
giữa các nhóm cơ, muốn làm được điều đó phải có quá trình tập luyện). Ngoài ra
luyện tập còn làm sợi cơ phát triển ( tăng tiết diện ngang do tích lũy dĩnh dưỡng
chuẩn bị cho việc chuyển hóa thành năng lượng).
- Sức bền: Là khả năng thực hiện hoạt động trong một thời gian dài; đó là sự
thể hiện khả năng chống đỡ của cơ thể đối với những biến đổi bên trong xảy ra khi
hoạt động cơ bắp kéo dài. Sự phát triển của sức bền phụ thuộc vào mức độ hoàn
thiện của sự phối hợp chức năng vận động và chức năng dinh dưỡng; vào sự bền
14
14
vững chức năng của các cơ quan nội tạng, đặc biệt là cơ quan hô hấp và tim mạch;
sự phát triển sức bền phụ thuộc vào mức độ phát triển chức năng của hệ tuần hoàn và
hệ hô hấp; khả năng dự trữ năng lượng của cơ thể Trong các hoạt động thể thao, có
phát triển trình độ tập luyện; hiệu quả của các bài tập tỷ lệ thuận với khối lượng và
cường độ vận động, ( thường thì khối lượng vận động và cường độ vận động có tác
động lên cơ thể tỷ lệ nghịch, khi cường độ vận động lớn thì người tập chỉ thực hiện
trong thời gian ngắn- khối lượng vận động đạt được nhỏ như chạy cự lý ngăn và
ngược lại như chạt cự lý dài)
15
15
- Người ta phân biệt lượng vận động bên trong và lượng vận động bên ngoài:
lượng vận động bên trong là mức độ biến đổi về sinh lý- sinh hóa trong cơ thể khi
thực hiện bài tập; thường thì lượng vận động bên ngoài và lượng vận động bên trong
tương xứng với nhau, cường độ và khối lượng vận động càng lớn thì biến đổi trong
cơ thể càng mạnh nhưng cơ thể luôn có sự biến đổi thích nghi và hơn nữa cơ thể
chịu tác động của lượng vận động trong các trạng thái khác nhau nên cùng một
lượng vận động thì cúng có những phản ứng khác nhau của cơ thể. Việc lập kế hoạch
và điều chỉnh lượng vận động là nội dung cơ bản trong xây dựng phương pháp giáo
dục thể chất; song hiệu quả của tập luyện còn phụ thuộc vào trật tự kết hợp một cách
khoa học giữa lượng vận động và quãng nghỉ. Có hai hình thức nghỉ ngơi( nghỉ thụ
động và nghỉ ngơi tích cực)
- Căn cứ vào mức độ hồi phục sau vận động , người ta chia ba loại quãng
nghỉ: Đầy đủ- Ngắn- Vượt mức. Nghỉ đầy đủ là quãng nghỉ đủ cho lượng vận động
tiếp theo ở vào thời điểm khả năng vận động hồi phục về mức ban đầu; Nghỉ ngăn là
lượng vận động được lặp lại khi các chức năng riêng lẻ hoặc toàn bộ cơ thể chưa
được hồi phục dầy đủ; Vượt mức là quãng nghỉ đủ để lượng vận động lặp lại ở vào
thời điểm cơ thể được hồi phục vượt mức.
Chính vì vậy người ta đã phải áp dụng rất nhiều phương pháp tập luyện khác
nhau để tăng hiệu quả của việc tập luyện thể dục thể thao.
1.2 Những cách thức tiếp thu và định mức hoạt động vận động: Có hai
cách thức tiếp thu động tác là tiếp thu từng phần và tiếp thu toàn thể;( tùy theo mức
độ phức tạp hay đơn giản của từng bài tập); Trong quá trình lịch sử đã hình thành
các hình thức định mức hoạt động khi thực hiện các bài tập thể lực là thể dục – thể
- Phương pháp nguyên vẹn: Khi chia nhỏ ĐT bị biến động lớn về cấu trúc nên
người ta phải thực hiện bằng việc đơn giản hóa cấu trúc ĐT bẵng cách lược bỏ các
phần tương đối độc lập, sau đó mới lại ghép dần chúng lại và hoàn thiện chúng trên
cơ sở thực hiện toàn vẹn ĐT ( ví dụ tập nhảy cao kiểu úp bụng trình tự tập là: Chạy
đà ngắn dậm nhảy kết hợp đá lăng qua xà thấp; Chạy đà ngắn dậm nhảy kết hợp đá
lăng qua xà kết hợp mở hông bên chân dậm nhảy và tiếp đất bằng tay- vai- chân bên
chân lăng qua xà thấp Thực hiện toàn bộ ĐT với đà ngắn mức xà thấp; Tập nâng
dần xà )
2.1.2 Phương pháp tập ổn định và phương pháp tập biến đổi trong giáo dục tố
chất vận động:
- Phương pháp tập ổn định theo chế độ vận động liên tục và ngắt quãng: được
sử dụng trong giáo dục tất cả các tố chất vận động; trong đó phương pháp tập ổn
định liên tục thường được sử dụng nhiều trong giáo dục sức bền( phương pháp tập
đồng đều); còn phương pháp tập ổn định ngắt quãng sử dụng nhiều trong giáo dục
sức mạnh(tạ) sức nhanh( chạy cự lý 200m).
- Phương pháp tập biến đổi theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt
quãng: Ở đây sự biến đổi là có chủ đích để mở rộng tính linh hoạt của các kỹ xảo,
mở rộng khả năng điều chỉnh động tác, tạo khả năng phối hợp vận động một cách
tinh tế và hiệu quả. Phương pháp tập biến đổi liên tục thường được áp dụng trong
các bài tập có tính chu kỳ ( điển hình là phương pháp chạy biến tốc trên cự ly
dài) Các phương pháp tập biến đổi ngắt quãng là sự luân phiên có hệ thống giữa
vận động và nghỉ ngơi ( Phương pháp tăng tiến là điển hình của nhóm này)
2.1.3 Phương pháp tổng hợp:
17
17
Trong thực tế thì tất cả các phương pháp luôn được phối hợp với nhau
thành những bài tập tổng hợp cho phù hợp với mục đích và nội dung của các buổi
tập; Các bài tập tổng hợp rất đa dạng do sự kết hợp đan xen giữa các phương pháp và
cả về lượng vận động và quãng nghỉ
2.2. Phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu:
- Tự nhủ, tự đặt nhiệm vụ
18
18
2.3.2 Phương pháp trực quan:
- Thị phạm động tác
- Tranh ảnh, phim, video,
- Mô hình, sa bàn
- Các công cụ tái tạo cảm giác ( máy gõ nhịp, máy ghi âm, tiếng còi, đèn
hiệu ) thậm chí cả những tác động trực tiếp vào cơ thể người tập( vỗ mạnh vào
người tập ở các vị trí cần có cảm giác, nắn trực tiếp các tư thế )
- Đinh hướng theo các vật chuẩn, % lực sử dụng để thực hiện ĐT,
CHƯƠNG V
CÁC NGUYÊN TẮC VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
1. Nguyên tắc tự giác tích cực: Quá trình giáo dục phải tạo được cho người
tập một thái độ học tập tốt, sự cố gắng nắm bắt được những kỹ năng- kỹ xảo và
những hiểu biết liên quan; sự tự giác – tích cực được thể hiện trong quá trình giáo
dục thể chất :
- Hình thành hứng thú bền vững đối với mục đích tập luyện nói chung và đối
với nhiệm vụ cụ thể của từng buổi tập.
- Xác định được mục tiêu , nhiệm vụ và phương thức tập luyện của buổi
tập( cần phải tập gì, tập như thế nào, tại sao phải tập ĐT này chứ không phải là ĐT
khác, vì sao phải tuân theo nguyên tắc như thế này chứ không phải như thế kia)
- Hình thành việc phân tích một cách có ý thức các hoạt động tập luyện, thói
quen kiểm tra mức độ hợp lý của việc sử dụng sức với chất lượng của ĐT
- Giáo dục tính tự lập, khả năng sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm
vụ tập luyện
2. Nguyên tắc trực quan: Trực quan trong giảng dạy là quá trình sử dụng rất
nhiều loại cảm giác, sự thụ cảm của nhiều cơ quan cảm giác của cơ thể để có thể tiếp
xúc trực tiếp nhiều mặt với hiện thực xung quanh. Tính trực quan có vai trò đặc biệt
quan trọng trong Giáo dục thể chất vì hoạt động của người tập về cơ bản là mang
chiến thuật, tăng tỷ lệ sử dụng sức khi thực bài tập và tăng thời gian tác động của bài
tập (nhưng phải tuân thủ nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa ).Một vấn đề cũng hết
sức quan trọng là nhiệm vụ tăng lên phải đảm sự phong phú, đa dạng không gây
nhàm chán( ví dụ một buổi học có thể có từ một đến nhiều kỹ thuật với những yêu
cầu khác nhau hoặc trong một buổi học có thể áp dụng nhiều phương pháp tập khác
nhau).
6. Mối quan hệ lẫn nhau của các nguyên tắc về phương pháp: Các nguyên
tắc giáo dục thể chất liên quan chặt chẽ và có phần trùng nhau; đó là vì tất cả các
nguyên tắc đó phản ánh các mặt riêng lẻ và các quy luật của cùng một quá trình mà
về bản chất là thống nhất. Nguyên tắc tự giác tích cực là tiền đề chung để thực hiện
tất cả các nguyên tắc khác; không có bất cứ nguyên tắc nào có thể thực hiện được
dạy đủ nếu loại trừ, đối lập với các nguyên tắc khác; như vậy là có một nguyên tắc
lớn nhất là phải biết kết hợp hài hòa tất cả các phương pháp và tuân thủ các nguyên
tắc về phương pháp một cách đầy đủ thì quá trình giáo dục thể chất mới đạt hiệu quả
cao.
CHƯƠNG VII
KIỂM TRA VÀ TỰ KIỂM TRA Y HỌC TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO
DỤC THỂ CHẤT.
Tập luyện các bài tập giáo dục thể chất và thể thao có những tác dụng to lớn
và phức tạp đối với cơ thể, góp phần tích cực tăng cường sức khoẻ, phát triển thể lực
20
20
và nâng cao khả năng làm việc, trong điều kiện quá trình tập luyện được tổ chức và
tiến hành thích hợp, dựa trên các nguyên tắc giáo dục thể chất và phù hợp với đặc
điểm y – sinh học của người tập. Kiểm tra và tự kiểm tra y học đối với người tập
trong quá trình giáo dục thể chất là những biện pháp rất cần thiết để đảm bảo hiệu
quả giáo dục nâng cao sức khoẻ, ngăn ngừa các tác động xấu có thể xẩy ra.
Kiểm tra y học là một bộ phận của y học và là thành phần hữu cơ của hệ thống
giáo dục thể chất. Kiểm tra y học trong quá trình giáo dục thể chất nghiên cứu trạng
thái sức khoẻ, mức độ tập luyện của người tập dưới tác động của quá trình tập luyện.
Trước các cuộc thi đấu hoặc sau khi người tập bị đau ốm, chấn thương, giáo
viên có thể cho tiến hành kiểm tra y học bổ sung để xác định lại trạng thái sức khoẻ
và trình độ thể lực ở thời điểm hiện tại, cho phép hoặc không cho phép tham gia thi
đấu và luyện tập.
Nội dung kiểm tra y học chung thường bao gồm:
1) Hỏi về tiểu sử bản than, gia đình và quá trình tập luyện để nắm vững
các thông tin về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, đặc điểm phát triển thể lực, điều
kiện sống và làm việc, thời gian và tính chất tập luyện TDTT v.v…
2) Kiểm tra sự phát triển thể lực
3) Kiểm tra chức năng của các cơ quan.
4) Thử nghiệm chức năng với lượng vận động định lượng
Các nội dung kiểm tra y học nêu trên do giáo viên, huấn luyện viên kết hợp
với các bác sĩ tiến hành. Khi cần thiết, có thể có cả các bác sĩ chuyên khoa và các
chuyên gia chẩn đoán chức năng y học thể thao cùng tham gia.
2. KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC
Sự phát triển thể lực là một trong những yếu tố quan trọng của tình trạng sức
khỏe và trạng thái chức năng của cơ thể. Sự phát triển thể lực thường được đánh giá
thông qua mức độ phát triển của các tổ chức xương, cơ, hình dáng, kích thước của
các bộ phận cơ thể và các chức năng cơ bản bằng các phương pháp quan sát, đo đạc,
thử nghiệm chức năng v.v…
Phương pháp quan sát dung để đánh giá trạng thái da, bộ xương, mức độ
phát triển của cơ và lớp mỡ mô dưới da. Khi quan sát cần phải xác định hình dáng
lồng ngực, lưng, bụng và tứ chi. Tất cả các yếu tố nêu trên tạo nên thể hình của
người tập.
Hình dáng lồng ngực có thể có thể có các hình dạng ống, hình phễu và phẳng
dẹt. Hình dáng lồng ngực xác định theo vị trí bên dưới của sương sườn, tỉ lệ chiều
dày và chiều rộng của lồng ngực (xem hình)
Hình dáng lồng ngực
a. Lồng ngực hình phễu b. Lồng ngực hình ống c. Lồng ngực phẳng dẹt
22
Chân có hình dáng bình thường khi đứng thẳng hai chân tiếp xúc với nhau ở
các điểm 2 mắt cá trong, hai cạnh trong của khớp gối và cạnh trong của đùi. Khi
chân có hình chữ O, thì hai cạnh trong của chân không tiếp xúc với nhau. Nếu
khoảng cách đó hơn 5cm thí có thể coi là loại nặng. Chân hình chữ X khi đứng thẳng
hai mắt cá trong không tiếp xúc với nhau nhưng hai đầu gối chạm nhau (xem hình)
Hình dáng chân
a. Bình thường b. Hình chữ X c. Hình chữ O
Chân hình chữ O hoặc chữ X có thể là kết quả của một số bệnh tật đã mắc
phải, như còi xương, do cơ bắp phát triển yếu hoặc do khi còn trẻ phải làm việc nặng
quá sớm, không tương ứng với các mức độ phát triển của bộ xương.
Hình dáng bàn chân có thể bình thường hoặc bàn chân bẹt. Hình dáng bàn
chân có thể xác định bằng cách quan sát và in dấu bàn chân. Bình thường mặt dưới
bàn chân có độ cong tự nhiên, khi in dấu bàn chân tỉ lệ giữa phần cong so với phần
tiếp xúc với mặt đất là 2/1. Nếu vòm bàn chân sụt xuống thì hình bàn chân được gọi
là bàn chân bẹt, tỉ lệ giữa phần cong và phần tiếp xúc với đất trên hình in sẽ ít hơn
2/1 (xem hình).
Hình dáng bàn chân
a. Bình thường b và c. Bàn chân bẹt các mức độ khác nhau
24
24
Các phương pháp nhân trắc hay còn gọi là phép đo người, bổ sung cho
phương pháp quan sát và cung cấp những số liệu khách quan, chính xác về sự phát
triển thể lực, độ tương ứng của thể lực với tuổi, giới tính cũng như những sai lệnh về
phát triển thể lực có thể xảy ra dưới tác động của tập luyện TDTT không hợp lý.
Các phương pháp đo người cần phải được tiến hành vào cùng một thời gian
trong ngày, tốt nhất là vào buổi sang, theo một phương pháp tiêu chuẩn, đã được
kiểm tra độ chính xác. Người được kiểm tra phải mặc quần áo lót ngắn để không làm
ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo.
Trong kiểm tra y học, để đánh giá sự phát triển thể lực ít nhất cần phải đo các
chỉ số sau: chiều cao đứng và ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng bụng, vòng cổ, vòng
vào hết sức và vòng ngực thở ra hết sức. Thước dây được đặt trên lồng ngực phía
lưng ngang với góc dưới xương bả vai, phía ngực ngang qua mũi ức của xương ức.
Khi đo cần chú ý để người được đo không căng cơ và nâng vai khi hít vào, không cúi
khom lưng khi thở ra hết sức được gọi là độ linh hoạt của lồng ngực hay hiệu số giãn
ngực. Trung bình hiệu số này vào khoảng 5-7cm. Ở các VĐV các môn thể thao sức
bền hệ số này có thể lên tới 10 -12cm.
Vòng bụng được đo ở hai trạng thái căng cơ và thả lỏng cơ.
Vòng cánh tay đo ở phần cẳng tay lớn nhất khi cơ thả lỏng.
Vòng đùi và vòng cẳng chân đo khi người được đo đứng ở tư thế chân rộng
bằng vai trọng lượng cơ thể phân bố đến hai chân, cơ chân thả lỏng. Vòng đùi đo ngay
dưới nếp lằn mông. Vòng cẳng chân đo ngay qua phần to nhất của cẳng chân.
Các chiều rộng, chiều dầy của các bộ phận cơ thể được đo bằng compa nhân trắc
(xem hình).
26
26