Phân tích tình hình tài chính ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh và đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh - Pdf 20

Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần chủ động về hoạt
động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng.
Điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp
ứng kịp thời với những thay đổi của nền kinh tế và tận dụng những cơ hội
để phát triển doanh nghiệp. Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đối
sách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả. Nếu việc cung ứng sản xuất và
tiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảo
cho hoạt động tài chính có hiệu quả và ngược lại việc tổ chức huy động
nguồn vốn kịp thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp
lý sẽ tạo điều kiện tối đa cho hoạt động SXKD được tiến hành liên tục và
có lợi nhuận cao. Do đó, để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến
lược của mình các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá
tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính. Từ đó,
phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của hoạt động tài chính của
doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các
mặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài
chính tạo tiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Như vậy phân
tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất
cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của
doanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh
mà còn thông qua đó xác định được xu hướng phát triển của doanh
nghiệp, tìm ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai
gần. Việc phân tích tài chính là một công cụ quan trọng cho công tác quản
lý của chủ doanh nghiệp nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung
Sau một thời gian thực tập và đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động sản
xuất kinh doanh ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh cho thấy hiệu
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phân tích tài chính doanh nghiệp:
“Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình sử dụng các báo cáo tài
chính của doanh nghiệp để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp” (Nghiệp vụ ngân hàng thương mại - TS Nguyễn Minh Kiều, NXB
Thống kê 2005). Khái niệm này mới chỉ cho thấy nguồn thông tin phục vụ cho
phân tích tài chính là các thông tin kế toán (bộ báo cáo tài chính của doanh
nghệp). Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân tích tài chính có thể dựa vào các
nguồn thông tin khác phục vụ cho quản lý.
“Phân tích tài chính bao gồm việc đánh giá các điều kiện tài chính của
doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai” (Quản trị tài chính căn bản -
TS Nguyễn Quang Thu, NXB Thống kê 2005). Khái niệm này chưa chỉ ra được
nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là gì, do đó cũng chưa cho
thấy được mục tiêu của phân tích tài chính.
Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp được đề cập trong giáo trình
“Tài chính doanh nghiệp” (Chủ biên: TS Lưu Thị Hương - Khoa Ngân hàng tài
chính trường Đại học kinh tế quốc dân) được coi là khái niệm đầy đủ nhất về
phân tích tài chính. Theo đó, “phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
3
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và
các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp đó”.
1.1.2. Các yêu cầu về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là 1 trong những nội dung rất coe bản
của hoạt động kinh doanh nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được biểu hiện dưới
hình thái tiền tệ. Hay nói cách khác , tài chính doanh nghiệp là những mối quan
hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức , huy động phân phối, quản lý và sử

kinh doanh.
1.3. Nội dung của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Nhằm phát huy vai trò và nhiệm vụ của phân tích báo cáo tài chính trong
quản lý doanh nghiệp , Nội dung cơ bản của phân tích BCTC trong cac doanh
nghiệp bao gồm:
1.3.1.Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian
Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường kết hợp chặt chẽ những
đánh giá về trạng thái động để đưa ra bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Nếu như trạng thái tĩnh được thể hiện qua BCĐKT thì trạng
thái động (sự dịch chuyển của các dòng tiền) được phản ánh qua bảng kê nguồn
vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ), qua BCKQKD. Thông qua các báo cáo tài
chính này, các nhà phân tích có thể đánh giá sự thay đổi về vốn lưu động ròng,
nhu cầu vốn lưu động, từ đó, có thể đánh giá những thay đổi về ngân quỹ của
doanh nghiệp. Như vậy, giữa các báo cáo tài chính có mối liên quan rất chặt chẽ:
những thay đổi trên BCĐKT được lập đầu kỳ và cuối kỳ cùng với khả năng tự
tài trợ được tính từ BCKQKD được thể hiện trên bảng tài trợ là liên quan mật
thiết tới ngân quỹ của doanh nghiệp.
Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp nhất định, người ta
còn chú trọng tới các chỉ tiêu quản lý trung gian nhằm đánh giá chi tiết hơn tình
hình tài chíh và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
5
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
Những chỉ tiêu này là cơ sở xác lập nhiều hệ số (tỷ lệ) rất có ý nghĩa về hoạt
động, cơ cấu vốn, v.v… của doanh nghiệp.
Lãi gộp = Doanh thu - Giá vốn hàng bán
Thu nhập trước khấu hao và lãi (EBT) = Lãi gộp - Chi phí bán hàng, chi
phí quản lý
Thu nhập trước khấu
hao và lãi (EBT)

doanh nghiệp không đầu tư mà đi thuê…). Tỷ lệ này thường cao ở ngành khai
thác, chế biến dầu khí (đến 90%); ngành công nghiệp nặng (đến 70%) và thấp
hơn ở các ngành thương mại, dịch vụ (20%).
Ngoài ra, tỷ lệ này cũng phản ánh mức độ ổn định sản xuất kinh doanh lâu
dài. Tỷ lệ này tăng lên, phản ánh doanh nghiệp đang nỗ lực đầu tư cho một chiến
lược dài hơi nhằm tìm kiếm lợi nhuận ổn định lâu dài trong tương lai.
Về nguồn vốn, việc phân tích tập trung vào cơ cấu và tính ổn định của
nguồn vốn: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, vốn vay cổ đông, .v.v…Vốn
chủ sở hữu chiếm tỷ trọng càng lớn sẽ đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp.
• Tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Để xem xét tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, người ta phân
tích chỉ tiêu vốn lưu động ròng. Chỉ tiêu này cho ta thấy khái quát về tính chắc
chắn ổn định của tài chính doanh nghiệp.
Vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Yêu cầu của chỉ tiêu này là phải dương và càng cao càng tốt.
Chỉ tiêu này dương (>0) biểu hiện tài sản có định được tài trợ vững chắc
bằng nguồn vốn ổn định. Không xảy ra tình trạng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn
để đầu tư tài sản cố định. Đồng thời, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn.
Ngược lại, khi chỉ tiêu này có giá trị âm (<0), đơn vị đã sử dụng nguồn vốn
ngắn hạn để đầu tư tài sản cố định. Tài sản cố định không được tài trợ đủ bằng
nguồn vốn ổn định làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp không đảm
bảo.
• Tình hình nguồn cung ứng vốn và và việc sử dụng các nguồn đó
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
7
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
Một trong những công cụ hữu hiệu của quản lý tài chính là biểu kê nguồn
vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ). Nó giúp nhà quản lý xác định rõ các nguồn
cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn đó.

kho của doanh nghiệp sẽ cho phép CBTD đánh giá được tình trạng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Phân tích hàng tồn kho phải gắn với việc kiểm tra sổ
sách, kho bãi của doanh nghiệp để xác định liệu hàng tồn kho có đúng như khai
báo, đánh giá phẩm chất, quy cách của hàng tồn kho, phát hiện hàng giả, hay
hàng nhận gửi
 Tài sản cố định: Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì giá trị TSCĐ
chiếm tỷ trọng lớn, nó sẽ liên quan đến mức độ đầu tư của doanh nghiệp cho sản
xuất, khả năng đảm bảo cho những khoản vay của doanh nghiệp. Thông thường
ngân hàng không quan tâm đến việc bán TSCĐ như một nguồn trả nợ. Tầm
quan trọng chủ yếu của TSCĐ trong phân tích tín dụng là vai trò sinh lãi của nó.
Khi thẩm định TSCĐ, phải chú ý TSCĐ phải được định giá trên cơ sở
nguyên giá trừ đi khấu hao. Giá trị thị trường là mức giá mà tài sản có thể bán
được ngay trên thị trường. Việc định giá tài sản trên cơ sở nguyên giá trừ đi
khấu hao là hoàn toàn hợp lý. Song CBTD phải nhận thấy việc đó có thể không
phản ánh đúng giá trị thực hoặc giá trị thì trường của tài sản.
1.4. Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm hệ thống các
công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các
mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình
hình hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi
tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh
giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Về mặt lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
như: phương pháp so sánh, phương pháp chỉ tiêu, phương pháp tỷ lệ, phương
pháp loại trừ, phương pháp liên hệ, phương pháp tương quan và hồi quy bội,
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
9
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
phương pháp phân tích tài chính Dupont,…Việc lựa chọn phương pháp phân
tích nào là tùy thuộc vào chủ thể phân tích và các thông tin thu thập được.

Khả năng thanh
toán nhanh
=
Tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn
+ Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
của doanh nghiệp nhưng với góc độ chính xác và thận trọng hơn. Hệ số này
khác với hệ số thanh toán hiện hành ở chỗ nó đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏi
công thức tính, bởi hàng tồn kho là tài sản khó chuyển hoá thành tiền nhất trong
TSLĐ và dễ bị giảm giá trị khi bán gấp. Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán
nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà
không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ.
• Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán
tức thời
=
Tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay tức thời của doanh nghiệp
bằng nguồn vốn bằng tiền (tiền và các chứng khoán ngắn hạn), không bị chi
phối bởi thời gian chuyển đổi của hàng tồn kho và các khoản phải thu. Về mặt lý
thuyết, hệ số này lớn hơn 0.5 là dấu hiệu tốt, nếu hệ số quá lớn thì chứng tỏ
doanh nghiệp giữ tiền mặt quá nhiều, làm giảm khả năng sinh lời, nhưng nếu
quá nhỏ thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Nhiều chủ nợ cho rằng nhìn chung hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
nên ở mức bằng 2, hệ số khả năng thanh toán nhanh (tương đối) nên ở mức bằng
1, hệ số khả năng thanh toán tức thì nên ở mức 0.5 là hợp lý. Tuy nhiên, trong
thực tế các hệ số này được chấp nhận là cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào đặc
điểm, tính chất kinh doanh, mặt hàng kinh doanh của mỗi ngành kinh doanh, cơ

càng lớn càng có sự đảm bảo cao cho các khoản nợ vay.
• Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số nợ trên
=
Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này cho thấy cứ một đồng vốn do chủ sở hữu đóng góp thì có bao
nhiêu đồng vốn do vay mượn mà có. Thông thường các chủ nợ mong muốn tỷ
số này càng thấp càng tốt. Tỷ số này càng thấp thì tương ứng với mức độ tự chủ
về tài chính của doanh nghiệp càng cao, giảm bớt rủi ro đối với các chủ nợ.
• Tỷ số nợ dài hạn trên tổng nguồn vốn dài hạn
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
12
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
Tỷ số nợ dài hạn trên
=
Nợ dài hạn
Tổng nguồn vốn dài hạn
Tỷ số này cho thấy tầm quan trọng của nguồn vốn vay dài hạn trong mối
quan hệ với tổng nguồn vốn dài hạn (bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu).
Tỷ số nợ dài hạn trên tổng vốn dài hạn thấp chứng tỏ doanh nghiệp trong dài hạn
hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn tự có, ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay.
• Khả năng thanh toán lãi vay (số lần có thể trả lãi)
Khả năng
thanh toán lãi vay
=
LNTT + Lãi vay
Lãi vay
Tỷ số này nói lên trong kỳ doanh nghiệp đã tạo ra lợi nhuận gấp bao
nhiêu lần lãi phải trả về tiền vay, chỉ ra mức độ của lợi nhuận đảm bảo khả năng

khoản phải thu
=
Doanh thu
Các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân số vòng quay khoản phải thu trong kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp. Số vòng quay khoản phải thu cao cho thấy vốn
của doanh nghiệp được quay vòng nhiều (khoản thu được từ những khoản phải
thu sẽ tạo vốn đi vào quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó tạo ra hàng hoá và
hàng bán được sẽ tạo ra những khoản phải thu mới ), hoặc cho thấy tương quan
lớn giữa doanh thu của doanh nghiệp so với các khoản phải thu, cho thấy tình
hình thu tiền bán hàng của doanh nghiệp là tốt, từ đó doanh nghiệp có khả năng
tái đầu tư hoặc khả năng thanh toán các khoản đến hạn cao.
• Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền
=
Các khoản phải thu * 360
Doanh thu
Kỳ thu tiền bình quân được xác định bằng cách lấy số ngày bình quân của
chu lỳ kinh doanh chia cho số vòng quay khoản phải thu. Chỉ tiêu đó phản ánh
số ngày bình quân để thu hồi khoản phải thu của doanh nghiệp và được sử dụng
để phân tích bổ sung hoặc để tính những chỉ tiêu tổng hợp khác.
Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của
công ty. Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị
chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu kỳ thu tiền bình quân quá cao thì sẽ giảm sức
cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu.
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
14
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
• Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Hiệu suất

SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
15
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
nghiệp, và nó cũng phản ánh được sự gia tăng tổng hợp về các mặt trong hoạt
động của doanh nghiệp.
• Doanh lợi tài sản (ROA)
ROA =
LNTT và lãi
Tổng tài sản bình quân
hoặc
ROA =
LNST
Tổng tài sản bình quân
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất cho biết khả năng sinh lời tổng tài sản. Nó
phản ánh cứ một đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận, tỷ lệ này càng cao càng tốt.
 Nhóm tỷ số về khả năng tăng trưởng
Tổng tài sản năm sau
=
Tổng tài sản năm n+1
Tổng tài sản năm n
Lợi nhuận năm sau
=
LN năm n+1
LN năm n
Tăng trưởng
=
Tổng TS năm n+1 - Tổng TS năm n
* 100
Tổng TS năm n

phân tích và chỉ tiêu cơ sở. So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân
tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh
lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.
Thông thường trong khi phân tích báo cáo tài chính, chúng ta nên kết hợp
cả hai hình thức so sánh tương đối và tuyệt đối. Sự kết hợp này sẽ bổ trợ cho
nhau giúp chúng ta vừa có được những chỉ tiêu cụ thể về khối lượng và giá trị
hoạt động của doanh nghiệp vừa thấy được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
trong kỳ phân tích. Điều này sẽ giúp rất nhiều trong việc so sánh hoạt động của
các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành.
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
17
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
Một chỉ tiêu tài chính đơn thuần chưa thể hiện đầy đủ mức độ đạt được của
doanh nghiệp như thế nào, chỉ thông qua so sánh ta mới thấy sự tăng trưởng phát
triển hay suy thoái của chỉ tiêu đó. Nội dung so sánh gồm:
- So sánh số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy được xu
hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp
- So sánh số hiện thực với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của doanh
nghiệp.
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, và với
số liệu của doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
là tốt hay xấu.
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số
tuyệt đối và số tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên
tiếp.
1.4.3. Phân tích bằng phương pháp Dupont
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh
mức sinh lời của doanh nghiệp như LNST / Tài sản (ROA), LNST / VCSH
(ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau, cho

0702000948- C.T TNHH
Tên giao dịch : Kim Anh limited liability company
Tên viết tắt là : Kim Anh CO.,LTD
Trụ sở công ty : Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Tel : 03503860573
Mã số thuế : 0600338464
Người đại diện : Bà Vũ Thị Nhị- chức vụ: Giám đốc
Tiền thân của công ty là Công ty Vinh Quang được thành lập năm 1996
với số vốn ban đầu la 5 tỷ đồng chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ
bản. Sau 5 năm phát triển để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
19
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
trường, năm 2001 công ty đã chính thức đổi tên thành: Công ty TNHH Một
thành viên Kim Anh, đồng thời mở rộng lĩnh vực hoạt động kinh doanh với số
vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng.
Trong những năm qua công ty đã không ngừng lớn mạnh và phát triển vững
chắc về mọi mặt, thường xuyên xây dựng kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực chỉ
huy điều hành, quản lý, đổi mới trang thiết bị, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng địa bàn hoạt động…vì vậy đã thi
công hàng trăm công trình với nhiều quy mô thuộc nhiều ngành nghề, ở nhiều địa
điểm với yêu cầu phức tạp nhưng đảm bảo tốt kiến trúc thẩm mỹ chất lượng và tiến
độ.
Hơn 8 năm Công ty TNHH Vinh Quang ngày càng khẳng định chỗ đứng
vững chắc của mình trong ngành xây dựng
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của công ty TNHH Một thành viên Kim Anh
_ Xây dựng và cải tạo:
• Xây dựng nhà dân dụng và công nghiệp.
• Xây dựng cầu đường cấp 3 nông thôn.
• Xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình, trang trí nội thất.

KẾ TOÁN
TÀI CHÍNH
PHÒNG
THIẾT KẾ DỰ
TOÁN
CÁC ĐỘI THI
CÔNG
ĐỘI THI
CÔNG SÔ 1
ĐỘI THI
CÔNG SÔ 2
ĐỘI THI
CÔNG SÔ 3
ĐỘI
CHÔNG
THẤM
Sơ đồ 1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty

Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
Hiện nay ở Công ty TNHH Một thành viên Kim Anh bộ máy quản lý được
tổ chức như sau:
- Ban giám đốc: Giám đốc là người có thẩm quyền cao nhất, có trách
nhiệm quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Giúp việc cho giám đốc là 2 phó giám đốc: phó giám đốc kỹ thuật thi công, phó
giám đốc kinh doanh.
- Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật thi công: là người chịu trách nhiệm
trước giám đốc về kỹ thuật thi công của các công trình, chỉ đạo các đội, các công
trình, các bộ phận kỹ thuật, thiết kế biện pháp thi công theo biện pháp kỹ thuật
an toàn cho các máy móc, thiết bị, bộ phận công trình, xét duyệt cho phép thi
công theo các biện phép đó và yêu cầu thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp đã

+ Sản xuất và kinh doanh các loại vật tư, thiết bị xây dựng.
+ Xuất khẩu, nhập khẩu vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị xây
dựng, trang trí nội ngoại thất và các vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị khác phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
2.1.4. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty
a/ Đặc điểm sản phẩm
Công ty TNHH Vinh Quang là một công ty chuyên về lĩnh vực xây dựng.
Vì vậy, sản phẩm của công ty có những đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vực
kinh doanh thông thường, là các công trình xây dựng với các đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng thường mang tính đơn chiếc, thường được sản xuất
theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư.
- Sản phẩm xây dựng rất đa dạng, có kết cấu phức tạp, khó chế tạo, khó
sửa chữa, yêu cầu chất lượng cao.
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước, quy mô lớn, chi phí nhiều,
thời gian tạo ra sản phẩm dài và thời gian khai thác sử dụng cũng kéo dài.
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
23
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp Chuyên đề thực tập
- Sản phẩm xây dựng là công trình cố định tại nơi xây dựng, phụ thuộc
vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương và thường đặt ở ngoài trời.
- Sản phẩm xây dựng là sản phẩm tổng hợp liên ngành, mang ý nghĩa
chính trị, xã hội, văn hoá, quốc phòng cao.
Những nét đặc thù của sản phẩm xây dựng đặt ra nhiều yêu cầu không
chỉ đối với mặt kỹ thuật xây dựng mà cả mặt quản lý và kinh doanh xây dựng
đối với các công ty xây dựng nói chung và Công ty TNHH Vinh Quang nói
riêng.
b/ Đặc điểm về quy trình sản xuất và khai thác, chế biến sản phẩm
- Nhận thầu thông qua đấu thầu hoặc giao thầu trực tiếp.
- Ký hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư công trình (Bên A).
- Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, công ty

giảm chi phí sản xuất.
Đối với Công ty TNHH Vinh Quang tận dụng khai thác được các nguyên
vật liệu cho thi công các công trình là phương trâm của công ty. Khai thác
nguyên vật liệu theo phương châm này vừa tránh được chi phí vận chuyển bốc
rỡ vừa đảm bảo được nhu cầu kịp thời cho thi công. Từ đó góp phần giảm giá dự
thầu xây lắp. Để làm được điều đó công ty luôn cố gắng tạo lập và duy trì mối
quan hệ với các nhà cung ứng trên địa bàn hoạt động của mình để có được
nguồn cung ứng nguyên vật liệu đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng mà vẫn
tiết kiệm được chi phí, thu mua với giá phù hợp, đồng thời tích cực tìm kiếm
những đối tác cung ứng mới.
Do sản phẩm chính của công ty là các công trình xây dựng nên nguyên
vật liệu chính để sản xuất sản phẩm bao gồm: xi măng, sắt thép, gạch, cát, đá,
sỏi…
Các đối tác đầu vào chính của công ty :
- Đối tác cung cấp xi măng: tổng công ty xi măng Việt Nam trong đó có
các nhà máy xi măng: Hoàng Thạch, Chinh - fon, Xuân Mai, Bỉm Sơn…
- Đối tác cung cấp sắt thép: tổng công ty thép Việt Nam bao gồm: công ty
gang thép Thái Nguyên, thép Việt - Úc, thép Việt - Nhật…
- Đối tác cung cấp gạch, cát, sỏi, đá…: Công ty tranh thủ luôn nhà cung
cấp tại địa phương (nơi có công trình) để giảm chi phí vận chuyển và tranh
thủ những ưu đãi của địa phương.
d/ Đặc điểm về lao động
SVTH: Lê Văn Dũng Lớp: TCNH -17A3
25

Trích đoạn TNHH MỘT THÀNH VIÊN KIM ANH Về hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status