ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Phân ch và đánh giá về các biện
pháp nhằm hoàn thiện các công cụ
của chính sách (ền tệ ở Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong tiến
trình toàn cầu hóa nền kinh tế. Có thể thấy việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO) chính là cơ hội để Việt Nam tiến sâu vào hội nhập và phát
triển bình đẳng với các quốc gia trên thế giới. Song nhìn về đặc điểm, trình
độ, các mối quan hệ kinh tế hiện hữu và năng lực điều hành kinh tế vi mô, vĩ
mô, thì chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức không phải là nhỏ.
Gắn với công cụộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải giải
quyết cùng một lúc: vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở
rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Vì vậy cần
phải có những bước đi thận trọng với những chính sách linh hoạt để tránh
những “cơn sốc” hay “khủng hoảng” đối với kinh tế Việt Nam trên con đường
hội nhập.
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực
kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng
lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm
phát… Để đạt được các mục tiêu của CSTT thì việc sử dụng các công cụ của
nó có vai trò cơ bản, quyết định. Từ khi đổi mới đến nay, các công cụ của
CSTT dang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với
nền kinh tế. Việc lựa chọn các công cụ sao cho phù hợp và việc sử dụng
chúng sao cho hiệu quả nhất trong từng giai đoạn kinh tế luôn là một vấn đề
mà Nhà nước quan tâm theo dõi và đưa ra các quyết định cụ thể. Đặc biệt
tiền trong nền kinh tế nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, tạo
nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của người dân.
Điều 2, Luật NHTƯVN quy định: CSTTQG là một bộ phận của chính
sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm
chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Tùy theo điều kiện mỗi nước, CSTT có thể được xác lập theo hai
hướng: CSTT mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất
kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – CSTT chống thất nghiệp)
hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản
xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – CSTT ổn
định giá trị đồng tiền).
2. Vị trí
Vị trí CSTT: Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
thì CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực
tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các
4
chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập,
chính sách kinh tế đối ngoại.
Đối với NHTƯ việc hoạch định và thực thi CSTT là hoạt động cơ bản
nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho CSTT quốc gia được thực hiện
có hiệu quả hơn.
3. Đặc trưng của CSTT
CSTT là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính quốc
gia.
Mức độ tiền tệ hóa cao hay thấp còn thể hiện trình độ phát triển kinh tế
một nước. Vì vậy, tiền tệ đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong một nền
kinh tế. CSTT là một bộ phận trung tâm của các chính sách kinh tế - tài chính
tăng lên của GDP thực tế. Nếu mức gia tăng GDP thực tế cao hơn nhịp độ
tăng trưởng dân số thì nền kinh tế thật sự có tăng trưởng. Một nền kinh tế
phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là mục tiêu vĩ mô của bất kỳ
mọi quốc gia.
3. Tạo việc làm
CSTT phải quan tâm đến khả năng tạo công ăn việc làm, giảm thất
nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này CSTT hướng vào việc khuyến khích đầu
tư, gia tăng sản xuất, làm tăng việc làm. Ngược lại khi nền kinh tế được mở
rộng sẽ có tác dụng chống suy thoái, đạt được những tăng trưởng ổn định.
Như vậy, CSTT mở rộng hay thu hẹp đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử
dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh
hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm
thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
Sự phối hợp ba mục tiêu: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công
ăn việc làm là rất quan trọng. Vì giữ các mục tiêu có sự mâu thuẫn với nhau,
6
nên NHTƯ không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng
thời gian nhất định. Do vậy, khi đặt ra các mục tiêu cho CSTT, cần phải có sự
dung hòa. Cụ thể là phải tùy lúc, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ
tự ưu tiên. Muốn vậy NHTƯ phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến của
quá trình thực hiện các mục tiêu, nhằm điều chỉnh chúng khi có sự thay đổi
bằng những giải pháp thích hợp.
III. Các công cụ của CSTT
Để thực thi CSTT, thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTƯ đã
sử dụng hàng loạt các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín
dụng, cho vay tái chiết khấu… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hành riêng và
có ưu nhược điểm khác nhau. Do đó, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền
kinh tế để sử dụng nó một cách phù hợp, hiệu quả. Nhìn chung, các công cụ
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các NHTM phải đưa vào dự trữ
theo luật định. Mức DTBB cao hay thấp tùy thuộc vào tỷ lệ DTBB – do
NHTƯ quy định – cao hay thấp. Tỷ lệ DTBB là tỷ lệ phần trăm trên lượng
tiền gửi mà NHTM huy động được, phải để dưới dạng dự trữ. Như vậy, mỗi
ngân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi đã trừ phần dự trữ bắt
buộc. Qua đó, việc tăng hay giảm tỷ lệ DTBB, NHTƯ có thể hạn chế hoặc
bành trướng khối lượng tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng
cho nền kinh tế.
Khi tỷ lệ DTBB tăng hoặc giảm thì hệ số tạo tiền của hệ thống NHTM
giảm hoặc tăng dẫn đến khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặc
tăng. Đây là công cụ mang tính hành chính của NHTƯ. Ưu điểm của nó là có
thể tác động đến tất cả các NHTM như nhau và tác động một cách đầy quyền
lực. Bên cạnh đó việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu
doanh lợi của các NHTM.
3. Hạn mức tín dụng
8
Công cụ hạn mức tín dụng là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính
hành chính của NHTƯ. Bằng công cụ hạn mức tín dụng, NHTƯ quy định cho
các NHTM một hạn mức tăng tín dụng tối đa. Như vậy, biện pháp này cho
phép NHTƯ ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế
trong một thời gian nhất định. Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng
kể. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế nhất định như:
- Có thể làm tăng lãi suất, bởi vì cung hạn chế.
- Làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng.
- Gây ra tiêu cực trên thị trường vốn.
- Hạn mức tín dụng cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ vì
các ngân hàng thường chọn doanh nghiệp lớn dể cho vay nhằm giảm chi phí
và bảo đảm an toàn trong giới hạn tín dụng được phép.
khoán này sẽ hạ, và do vậy, lãi suất chứng khoán tăng lên. Lãi suất chứng
khoán tăng buộc các NHTM phải tăng lãi suất ngân hàng lên theo để tránh
trình trạng công chúng khỏi rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư vào chứng
khoán, nghĩa là gián tiếp thắt chặt thêm khối tiền tệ.
Ngược lại khi NHTƯ đem tiền mặt hoặc séc mua chứng khoán trên thị
trường mở, thì lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, đự trữ của các NHTM
tăng lên. Mặt khác, việc NHTƯ mua chứng khoán sẽ làm tăng cầu về chứng
khoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứng khoán sẽ tăng,
dẫn đến lãi suất chứng khoán giảm, và đến lượt lãi suất ngân hàng giảm, kích
thích doanh nghiệp đi vay, khối tiền tệ tăng lên.
Với cách vận hành như trên, thì nghiệp vụ thị trường mở có một số ưu
điểm hơn các công cụ khác trong CSTT là: NHTƯ có thể can thiệp chủ động
vào thị trường tiền tệ, từ đó tác động trực tiếp đến khả năng cung ứng tín dụng
của các NHTM. Độ linh hoạt và chính xác cao, có thể sử dụng ở bất kỳ mức
độ nào. Dễ dàng thay đổi tình thế khi có quyết định sai lầm trong việc sử dụng
10
công cụ này. Việc thực hiện có thể được tiến hành nhanh chóng ngay trong
phiên giao dịch.
Tuy nhiên, công cụ này còn có mặt hạn chế là tính tự nguyện tham gia
của các đối tác chưa cao.
6. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa
hai đồng tiền. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ
nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
Sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt
động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa. Do vậy, tỷ giá hối đoái là
một công cụ để NHTƯ thực thi CSTT của mình. Tuy nhiên, khi vận dụng
12
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CSTT
Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
I. Khái quát chung về quá trình thực hiện các công cụ của CSTT trong
những năm qua
Nhìn chung, năm 2007 thực thi CSTT của NHTƯ là cực kỳ khó khăn
bởi tác động bất lợi của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam quá lớn
trong năm, cùng với những diễn biến phức tạp của giá cả những mặt hàng chủ
yếu và những nhu cầu hội nhập của nền kinh tế. Mặc dù vậy, về cơ bản, điều
hành CSTT đã đạt được sự ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng
kinh tế, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho phát triển kinh tế, song năm 2008,
13
thực thi CSTT vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thách thức do dòng vốn
đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục gia tăng và những biến động khó lường của thị
trường tài chính quốc tế, cùng với biến động của giá cả thế giới. Điều đó đòi
hỏi NHTƯ tiếp tục thực hiện CSTT chặt chẽ và cần có những giải pháp mang
tính dài hạn để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợi của những
thách thức phải đối mặt.
Năm 2008, Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức
chưa từng có trong hơn 20 năm đổi mới. Một năm mà diễn biến kinh tế hàm
chứa cả hai thái cực nóng và lạnh, sự chuyển đổi giữa hai thái cực này cũng
diễn ra hết sức nhanh chóng.
Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước trong 6
tháng đầu năm 2008, NHTƯ đã có những phản ứng kịp thời, sử dụng đồng bộ
và quyết liệt về điều hành CSTT thắt chặt nhằm kìm chế lạm phát có hiệu quả
trong xã hội tiếp cận được với vốn vay của hệ thống ngân hàng theo tinh thần
của các gói giải pháp kích cầu của Chính phủ cũng như tạo điều kiện cho các
NHTM hoạt động ổn định và hiệu quả, NHTƯ đã hạ thấp lãi suất chỉ đạo từ
14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%.
II. Thực trạng sử dụng các công cụ của CSTT trong những năm qua
Mục tiêu năm 2007 là phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế cao ở mức
8,5%; triển khai điều hành tốt CSTT để đảm bảo ổn định tiền tệ, kiểm soát
lạm phát; vận hành các công cụ CSTT theo cơ chế thị trường; đồng thời, có
những cảnh báo sớm về diễn biến thị trường để tránh gây đột biến, dẫn tới đỗ
vỡ trên tổng thể. Thực hiện can thiệp thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực
tăng giá VND gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế.
Trong phạm vi khối lượng tiền cung ứng tăng được Chính phủ phê
duyệt năm 2007, NHTƯ đã sử dụng linh hoạt các công cụ CSTT để điều tiết
có hiệu quả khối lượng tiền cung ứng này, nhằm đạt mục tiêu mua ngoại tệ
tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam, góp
15
phần bình ổn thị trường ngoại hối, nhưng đồng thời cũng hút mạnh lượng tiền
đã cung ứng ra cho mục đích mua ngoại tệ để giảm mức độ dư thừa vốn khả
dụng của các NHTM, hạn chế sự giá tăng của tổng phương tiện thanh toán
qua đó giảm áp lực lạm phát. Cụ thể:
- Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTƯ đã hút được một lượng
tương đối lớn vốn khả dụng dư thừa của các TCTD, đồng thời vẫn điều tiết
kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một số TCTD, đảm bảo duy
trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường.
- Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của
năm 2006 để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, qua đó
hạn chế tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kém hiệu quả, giảm sức ép
tăng lạm phát trong những tháng cuối năm.
được quá 12%.
- Một diễn biến bất lợi khác trên thị trường ngoại hối trong tháng
5/2008 là với mức thâm hụt thương mại lớn, lạm phát tăng cao.
Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHTƯ đã thực hiện hàng loạt biện pháp, như
nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sát với
cung - cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho các
NHTM, việc can thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của các NHTM trong ngày,
thực hiện minh bạch các thông tin về dự trữ ngoại hối.
- Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối
năm 2008 mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến
nền kinh tế Việt Nam, nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ, song để
ngăn chặn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phát
vẫn diễn ra ở Việt Nam đến tận tháng 9, NHTƯ đã phải tiếp tục áp dụng một
số biện pháp hổ trợ thị trường như nâng cao lãi suất tín phiếu bắt buộc, trả lãi
cho tiền gửi DTBB bằng VND.
17
Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10,
các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp.
Lãi suất cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ hiện xuống còn 8,5%, lãi suất
tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng, biên độ dao động
tỷ giá được nâng lên.
- Các chỉ số thị trường tiền tệ (tốc độ tăng M2, tín dụng và lãi suất) và
các chỉ số kinh tế đạt được trong những tháng cuối năm cho thấy việc thực thi
CSTT của NHTƯ năm 2008, mặc dù có những bất cập nhất định, nhưng thực
sự đã có những tác động rất rõ nét đến việc ổn định thị trường tiền tệ, ngăn
chặn đà lạm phát đang gia tăng rất cao, tạo thế chủ động cho NHTƯ trong
thực thi CSTT, thiết lập được kỷ luật trên thị trường tiền tệ mà trước đây rất
lỏng lẻo, làm thay đổi thái độ và hành vi ứng xử của các thành viên thị trường
kinh tế toàn cầu do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình này
tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn định tỷ giá.
Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt
ngân sách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà
gây áp lực giảm giá VND.
Trên thị trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫn
nhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay
vốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm, biểu hiện ở áp lực tăng lãi suất,
thanh khoản VND mỏng manh.
Sự khan hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá.
Nhưng chính sách điều tiết vĩ mô thì lãi suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ trợ,
trần lãi suất cho vay ) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời kích thích nhu cầu
sử dụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiền
đồng, gây áp lực cho NHTƯ phải cung ứng thêm tiền đồng. Điều này tiếp tục
19
gây áp lực giảm giá VND. Đồng thời, sự biến động mạnh của giá vàng cũng
có những tác động bất lợi đến tỷ giá.
Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHTƯ đã thực hiện nâng các mức lãi
suất chỉ đạo lên thêm 1%. Đây là giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với tình
hình thực tế, vừa có tác dụng tiếp tục duy trì tăng trưởng của nền kinh tế đồng
thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước mắt ổn định thị trường
ngoại hối.
III. Đánh giá quá trình thực hiện các công cụ của CSTT trong những
năm qua
1. Những thành tựu đạt được
Mặc dù trong giai đoạn vừa qua (2007 – 2009) nền kinh tế Việt Nam có
nhiều biến động thăng trầm, phải đối phó với lạm phát ở mức cao, phải chống
chọi lại cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008), sang năm 2009 nền
13% và 15%. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD cũng được điều chỉnh
tăng trong khi lãi suất DTBB bị điều chỉnh giảm. NHTƯ còn phát hành trên
20.000 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các NHTM.
Hình 1: Diễn biến LSCB của Việt Nam thời gian qua
Nguồn: NHNN Việt Nam
21
Chính sách tiền tệ thắt chặt với hàng loạt các động thái quyết liệt trên đã
tạo ra một lực hút mạnh thu hút tiền từ lưu thông đồng thời làm giảm mạnh
cấp tín dụng từ các NHTM ra thị trường. Và kết quả là lạm phát đã bị chặn
đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm). Tỷ lệ
lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89%.
Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHTƯ đã
từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức
quan trọng. LSCB từ từ giảm xuống, cùng với LSCB, LSTCK, LSTCV cũng
được điều chỉnh giảm; các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn; Tỷ
lệ dự trữ bắt buộc được nới lỏng dần đi kèm với việc điều chỉnh lãi suất
DTBB. Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăng dần mức
cung tiền cho nền kinh tế.
- Về tỷ giá
Diễn biến tỷ giá ngoại tệ của Việt Nam từ đầu năm 2008 đến nay là hết
sức phức tạp. Trong quý 1/2008, có những lúc tỷ giá USD liên ngân hàng
xuống dưới 16.000 và tỷ giá thị trường tự do thậm chí còn thấp hơn trong
ngân hàng. Nhưng chỉ qua đầu quý 2, tỷ giá lại tăng đến chóng mặt, có lúc đã
lên tới 19.500.
NHTƯ đã quyết định nới biên độ dao động từ +1% lên +2% (từ ngày
26/06/08) đồng thời triển khai hàng loạt các biện pháp khác: kiểm soát chặt
các đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông, công bố dự trữ ngoại hối
của Việt Nam (điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam), … Nhờ đó, tỷ giá đã dần
suất. Bằng cách này chúng ta đã kích thích tăng trưởng mạnh tín dụng, giúp
các doanh nghiệp có được nguồn vốn giá rẻ nên giảm được giá thành sản
phẩm, duy trì ổn định sản xuất, kích thích được nhu cầu trong nước, …
2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân
23
2.1 Hạn chế
Có thể nói, điều hành CSTT năm 2007 về cơ bản, đạt được mục tiêu đặt
ra, tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, cùng với
việc Việt Nam gia nhập WTO nên việc điều hành CSTT đã phải đối mặt với
nhiều thách thức làm cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu còn có hạn chế nhất
định.
Thách thức lớn nhất mà điều hành CSTT năm 2007 phải đối mặt, đó là
dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều. (Theo số liệu thống kê đến tháng
10/2007, doanh số phát sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú tại
các NHTM thì có khoảng 13 tỷ USD của người không cư trú được chuyển
cho người cư trú cho mục đích đầu tư vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào
bất động sản và chi tiêu các nhu cầu tiêu dùng khác trong nước). Tình hình
này đã có tác động làm tăng tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế
(tăng M2); làm tăng cung ngoại tệ, gây sức ép làm VND lên giá; dự trữ vượt
của hệ thống ngân hàng tăng mạnh - là một nhân tố thúc đẩy tín dụng tăng
nhanh; dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) có tác động thúc đẩy thị
trường chứng khoán phát triển mạnh hơn, và một lượng vốn nhất định của dân
cư cũng như từ hệ thống ngân hàng được đầu tư trên thị trường chứng khoán,
qua đó đã làm tăng dư nợ cho vay nền kinh tế.
Cùng với việc gia tăng mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài là sự tăng giá
khó lường mang tính toàn cầu của một một số mặt hàng, như giá dầu thô, giá
lương thực, bên cạnh đó là hạn hán lũ lụt, dịch bệnh gia cầm trong nước đã có
tác động mạnh đến mức mức giá tiêu dùng nói chung. Trong bối cảnh trên,
NHTƯ thiếu tính độc lập và tự chủ trong việc quyết định và thực thi các chỉ
tiêu tiền tệ. Cần tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của NHTƯ
trong việc thực thi chính sách tiền tệ.Thường trước khi thông qua một số
Quyết định nào đó, NHTƯ phải xin phép hoặc hỏi ý kiến Chính phủ. Điều
25