Tiểu luận- Phép biện chứng về mối liên
hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối
liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo
vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam
Ti u lu n- Phép bi n ch ng v m i liên h ph bi n v v nể ậ ệ ứ ề ố ệ ổ ế à ậ
d ng phân tích m i liên h gi a t ng tr ng kinh t v iụ ố ệ ữ ă ưở ế ớ
b o v môi tr ng sinh thái Vi t Namả ệ ườ ở ệ 1
L i m đ uờ ở ầ 3
L i m đ uờ ở ầ 3
Phép bi n ch ng v m i liên h ph bi nệ ứ ề ố ệ ổ ế 4
Phép bi n ch ng v m i liên h ph bi nệ ứ ề ố ệ ổ ế 4
1.1 Sự ra đời của phép biện chứng 4
1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5
M i liên h gi a t ng tr ng kinh t v b o v môi tr ngố ệ ữ ă ưở ế à ả ệ ườ
Vi t Namở ệ 9
M i liên h gi a t ng tr ng kinh t v b o v môi tr ngố ệ ữ ă ưở ế à ả ệ ườ
Vi t Namở ệ 9
1.3 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường 9
1
1.4 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 10
1.5 Hậu quả của ô nhiễm môi trường 16
1.6 Giải pháp giải quyết vấn đề 17
L i k tờ ế 19
T i li u tham kh oà ệ ả 20
2
Lời mở đầu
Chúng ta đang sống trong một mạng lưới sụ sống rộng lớn. Giống như một
mạng nhện, càng có nhiều mối liên hệ thì mạng lưới càng bền vững. Chúng
ta đã biết tất cả những mối liên kết trong sự sống sẽ không tồn tại và phát
triển được nếu không được hỗ trợ bởi môi trường. Với tốc độ phá hoại môi
trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng ta đang dần bị
biện chứng đã đạt đến trình độ cao nhất đó là phép biện chứng duy vât. Phép
biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những
nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực phù hợp với hiện
thực. Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của
tự nhiên, xã hội và tư duy. Nhờ vậy nó đã khắc phục được những hạn chế
vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể
thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào
nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và các bộ phận cấu
thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Tuy nhiên sự hạn chế
của phương pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một bức tranh
về sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm rõ được
cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát
triển. Hơn nữa phép biện chứng duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện
4
chứng duy tâm khách quan thời cổ đại mà đại biểu là Hêgen - đại diện lỗi lạc
của phép biện chứng. Hêgen cho rằng sự phát triển biện chứng của thế giới
bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối ”mà
thôi. Phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng : những ý niệm trong đầu
óc của chúng ta chẳng qua là sự phản ánh của các sự vật hiện thực khách
quan, do đó bản thân biện chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có
ý thức của sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực khách quan.Như
vậy phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật
vận động và sự phát triển chung nhất của thế giới. Vì vậy P.Ăngen đã định
nghĩa: “phép biện chứng…là môn khoa học về những quy luật phổ biến của
sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư
duy.”
1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1.2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sự liên
hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy. Vì vậy ở bất
liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại
được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian. Có mối liên hệ
bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ
ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ
khác nhau của cùng một sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và
phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối
liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các
6
quá trình tương ứng. Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi
phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại đó. Các loại liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá cho nhau. Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do
thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan
của chính sự vật hiện tượng ấy.
1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó
phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới. Các sinh vật, hiện tượng
trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng
cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới
vật chất. Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sơ lí luận của quan điểm
toàn diện. Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận
thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thức
đúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là : trong mối liên hệ qua lại
giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật
đó, hai là : trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác,
kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Hơn thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi để
nhận thức đúng sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ với nhu
cầu thực tiễn của con người. Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải đi từ
tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút
ra bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.
Nhưng quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt
động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người
từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế
và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là con
người. Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng
kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm
phục vụ cho lợi ích của con người. Nhưng tài nguyên của môi trường không
phải là vô hạn. Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo
môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi
trường bị suy thoái. Lúc đó con người phải gánh chịu hậu quả do chính con
9
người gây ra. Một sản phẩm do con người tạo ra lại phá huỷ cái mà con
người chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không chịu sự
tác động của môi trường. Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc
bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người ngày
càng được cải thiện mà nó còn làm cải thiện cả môi trường do kinh tế phát
triển nhà nước có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài
nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo
1.4 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế
ở Việt Nam
1.4.1 Trong công nghiệp
Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986
Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới. Công cuộc đổi mới này được tiến
hành trên toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như đổi
mới tư duy, hệ thống kinh tế, chính sách, thể chế quản lí hành chính… Trong
lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế chỉ huy, tập chung, quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ
Nghĩa. Trong gần hai thập kỷ qua thực hiện chủ trương và đường lối đổi mới
nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu to lớn. Chính sách đổi
mới đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng động, một xã
quan, lan truyền bệnh dịch và nhiều tác động tiêu cưc khác. Nước thải công
11
nghiệp chính là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm cho môi trường
đô thị
Khí thải của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất cũng là vấn đề cần bàn tới. Ô
nhiễm môi trường không khí chủ yếu do các ngành nhiệt điện, công ngiệp
hoá chất gây nên. Ví dụ nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nồng độ bụi trung bình
tại các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 6 lần. Tại nhà máy
nhiệt điện Uông Bí, nồng độ bụi đo trong 1 giờ từ 4 đến 4,7 mg/m
3
, gấp 13
đến 16 lần trị số cho phép. Nồng độ các chất khí độc hại khác như CO
2,
NO
2,
SO
2
… trong không khí xung quanh nhiều nhà máy và khu công nghiệp đều
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần. Điều này đã gây tác động xấu
đối với mùa màng và sức khoẻ của nhân dân của cả một vùng rộng lớn xung
quanh các khu vực nhà máy. Tuy trong thời gian qua, phần lớn các nhà máy
đã trang bị thiết bị xử lí bụi nhưng số lượng các nhà máy có thiết bị xử lí khí
độc hại cón rất ít mà chủ yếu được thải thẳng ra ngoài không khí, ảnh hưởng
trực tiếp đến sưc khoẻ con người.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng phát triển thì nhu cầu khai
thác các thành phần môi trường để làm nguyên liệu đầu vào cho hoạt động
sản xuất ngày càng tăng. Quá trình này thể hiện mối liên hệ cơ bản giữa phát
triển và môi trường đồng thời cũng là một vấn đề nan giải. Việc khai thác
quá mức nguồn tài nguyên là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hao kiệt về tài
nguyên, mất cân bằng sinh thái và suy giảm chất lượng môi trường. Nạn
nguy hiểm cho những người sử dụng các loại rau, củ, quả đó. Thực tế là
trong năm 2002, ở miền Bắc, giá nhãn và vải đã mất giá nghiêm trọng do
13
Trung Quốc không nhập khẩu vì hàng chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất
lượng… Sử dụng hoá chất không được phép trước tiên là gây ô nhiễm nguồn
nước, không tiêu thụ được hàng hoá, sau cùng là gây ra thoái hoá đất- một
sự mất mát lớn. Môi trường nông thôn cũng đang kêu cứu.
1.4.3 Trong du lịch biển
Trước tình hình tăng trưởng kinh tế, các phương tiện thông tin, giao thông
vận tải ngày càng dễ dàng và thuận tiện. Đây là điều kiện để hoạt động du
lịch phát triển trở nên nhanh chóng. Ngành du lịch nước ta hãy còn rấy nhỏ
bé so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên trong 10 năm
qua, cùng với quá trình đổi mới và chuẩn bị hội nhập nền kinh tế thế giới du
lịch nước ta cũng đã có những bước phát triển ban đầu. Năm 2001 toàn
ngành đón 2,33 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 9%so với năm 2000, vượt
kế hoạch 6% so với năm 2000. Du lịch phát triển tạo nhiều công ăn việc làm
cho dân cư và thu được một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách quốc gia. Tuy
nhiên cũng như sự phát triển trong công nghiệp và nông nghiệp, hoạt động
du lịch cũng đang tác động đến môi trường về nhiều mặt.
Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây
dựng cơ sở hạ tầng như làm đường giao thông khách sạn, các công trình thể
thao, các khu vui chơi giải trí. Điều đó gây phá hoại hoặc tổn thất tới cảnh
quan thiên nhiên, các hệ sinh thái.
Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước, đặc biệt là
các chất thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn, nhà hàng, các hoạt
động vận tải thuỷ và khách du lịch tạo nên. Hiện nay ở nước ta, tình trạng
rác thải bừa bãi tại các điểm du lịch, vui chơi giải trí còn phổ biến, điều đó
14
không những ảnh hưởng tới vệ sinh công cộng và môi trường mà còn gây
cảm giác khó chịu cho du khách.
trước tình trạng săn bắt tràn lan để làm vật chưng bày hoặc làm thịt cho các
thực khách… Hệ sinh thái đang mất đi sự cân bằng trước sự phá hoại như vũ
bão của con người.
1.5 Hậu quả của ô nhiễm môi trường
“Nếu chúng ta bắn vào thiên nhiên một phát đạn, thì thiên nhiên sẽ bắn trả
lại ta bằng đại bác ”. Thực tế cho thấy, đi kèm với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, chúng ta đang phải gánh chịu những hậu quả do chính
chúng ta gây ra. Trong vòng 7 năm trở lại đây, các thảm hoạ tự nhiên như
bão xoáy, lụt lội, hạn hán…ngày càng tăng nhanh cả về tần suất lẫn cường
độ như hạn hán ở miền Trung, bão lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, cháy
rừng ở U Minh… đã cướp đi sinh mạng của nhiều người, thâm hụt vào ngân
sách quốc gia hàng trăm tỷ đồng - một con số không nhỏ đối với một quốc
gia còn nghèo như Việt Nam. Ngoài ra, đi đôi với sự suy giảm môi trường,
các bệnh về thời tiết cũng gia tăng, thiệt hại người do các bệnh về đường
nước tăng như sốt rét, tiêu chảy Các bệnh liên quan đến đường ruột bệnh
giun, bệnh sán máng, giun trong máu… các bệnh về hô hấp như viêm phổi,
ung thư phổi… Cuộc sống của con người đang bị đe doạ
16
1.6 Giải pháp giải quyết vấn đề
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tăng cường quan
hệ thương mại song phương với các nước trên thế giới và tiến hành thủ tục
đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới(WTO), tham gia tích
cực vào các định chế kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM… và đặc
biệt là hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Để hàng Việt Nam có chỗ đứng và
khả năng cạnh tranh với các nước khác chúng ta cần:
• Tăng cường kiểm tra, giám sát sự tuân thủ về pháp luật của các cơ sở
công nghiệp
• Khuyến khích sử dụng công nghệ và dây chuyền sản xuất tiết kiệm
năng lượng, nguyên liệu, phát triển nguồn năng lượng sạch, ít khí thải.
• Bắt buộc các nhà máy mối đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến, xây
18
Lời kết
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta phải đi từ mục
tiêu cơ bản nhất của mọi sự phát triển xã hội đó là phát triển để cải thiện
nâng cao chất lượng cuộc sống và vì sự sống trường tồn bền vững. Đây là
vấn đề quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
hiện nay cũng như về lâu dài. Tất cả các bài học kinh nghiệm đã rút ra trong
quá trình quy hoạch phát triển trước đây cần phải được vận dụng triệt để cho
quá trình phát triển của tương lai sao cho tránh được những hậu quả có thể
xảy ra và đảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá trình phát triển kinh tế. Chúng
ta bảo vệ môi trường không phải nhằm mục đích hạn chế quá trình phát triển
kinh tế mà nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả kinh tế cao hơn cho quá trình
phát triển tất yếu này, đồng thời nhằm bảo vệ chất lượng cuộc sống của mỗi
con người chúng ta. Do đó, bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế có sự
thống nhất.Có phát triển mới có kinh phí đầy đủ dành cho việc bảo vệ môi
trường và có bảo vệ môi trường mới đảm bảo sự phát triển lâu dài và ổn
định.
19
Tài liệu tham khảo
G.s Lê Quý An, Du lịch và môi
trường, Tạp chí Du lịch, số 12,
1999.
Nguyễn Anh, Hội thảo khoa học
về môi trường chuyên ngành mỏ,
luyện kim, hoá chất, Tạp chí Công
nghiệp, số 19, 1999.
Craig Leisher, Môi trường Việt
Nam những điều cần làm, Tạp chí
Khoa học công nghệ và môi
trường, số 7, 2002.
T.s Danh Sơn, Các lợi ích về bảo
vệ môi trường ở nước ta, Tạp chi
Bảo vệ môi trường, số 2 năm
2001.
Lâm Minh Triết, Nguyễn Thanh
Hùng, Một vài giải pháp môi
trường cho các cơ sở sản xuất vừa
và nhỏ, Tạp chí Bảo vệ môi
trường, số 7, 2001.
20
21