Tố tụng dân sự Vấn đề cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh gia chứng cứ tại Tòa án sơ thẩm, Tòa án phúc thẩm - Pdf 20

MỞ ĐẦU
Để giải quyết các tranh chấp dân sự, Tòa án phải dựa trên việc cung cấp,
thu thập nghiên cứu, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện.
Từ khi BLTTDS 2004 ra đời, vấn đề liên quan đến chứng cứ đã được qui định
khá cụ thể. Tuy nhiên, thực tế áp dụng đã cho thấy vẫn còn nhiêu qui định của
pháp luật còn hạn chế, chưa phát huy được hiệu quả trong thực tiễn xét xử. Do
vậy, “Vấn đề cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh gia chứng cứ tại TA sơ thẩm,
TA phúc thẩm” đòi hỏi phải được quan tâm xác đáng, nhằm hoàn thiện các qui
định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CUNG CẤP, THU THẬP, NGHIÊN CỨU VÀ
ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TẠI TA CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM
1. Khái niệm, đặc điểm và bản chất của hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên
cứu và đánh giá chứng cứ
Trước hết cần phải hiểu về khái niệm chứng cứ: Theo qui định tại Điều 81
BLTTDS 2004: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được ĐS và
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho TA hoặc do TA thu thập được theo
trình tự, thủ tục do Bộ luật này qui định mà TA dùng làm că cứ để xác định yêu
cầu hay sự phản đối của ĐS là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như
những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VADS”. Theo qui định
tại Điều 82 BLTTDS, nguồn CC bao gồm: Các tài liệu đọc, nghe, nhìn được; các
vật chứng; lời khai của ĐS, lời khai của người làm chứng; kết luận giám định;
biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả định giá tài sản, thẩm
định giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật có qui định.
1
Cung cấp CC được hiểu là hoạt động tố tụng cơ bản của các chủ thể CM
giao nộp CC do mình thu thập được cho Tòa án, nhằm CM các tình tiết, sự kiện
làm cơ sở cho những yêu cầu của mình và phản đối yêu cầu của phía bên kia.
Khoản 1 Điều 6 BLTTDS cũng qui định: “ Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện
yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa
vụ cung cấp CC, CM như đương sự”. Hoạt động cung cấp CC có đặc điểm: Chủ

trong quá trình CM, làm căn cứ đưa ra kết luận của cơ quan tiến hành TT. Nghiên
cứu CC sẽ xem xét tính đúng đắn của những CC đã thu thập, đặt trong mối quan
hệ tổng hòa giữa các CC với nhau, từ đây có thể xác định được việc có cần thiết
hay không phải bổ sung CC,… là một trong những cơ sở để TA xem xét, ra các
quyết định như đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết VVDS, chuyển VVDS cho TA
khác giải quyết,… Cuối cùng, đánh giá chứng cứ nhằm xác định giá trị chứng
minh và phù hợp giữa các chứng cứ, tình tiết đã thu thập được, thông qua đó, TA
xác định đối tượng CM, làm rõ bản chất VVDS, là kết quả của quá trình cung
cấp, thu thập, nghiên cứu CC. Cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá CC là
bốn giai đoạn kéo dài nối tiếp và đan xen nhau, xuyên suốt quá trình nhằm giải
quyết VVDS, và chỉ kết thúc khi TA ra phán quyết.
II. CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CUNG CẤP, THU THẬP,
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM,
PHÚC THẨM
1. Cung cấp chứng cứ tại TA cấp sơ thẩm, phúc thẩm
Chủ thể cung cấp CC: Khoản 1 Điều 6 BLTTDS qui định: “ĐS có quyền
và nghĩa vụ cung cấp CC cho TA và CM cho yêu cầu của mình là có căn cứ và
3
hợp pháp. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp CC, CM như đương
sự”. Về mặt nguyên tắc, ai là người đưa ra yêu cầu TA giải quyết thì người đó
phải có nghĩa vụ cung cấp CC cho TA để chứng minh cho yêu cầu của mình. Như
vậy, khi ĐS và các cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích người khác, lợi ích
công cộng, lợi ích Nhà nước đưa ra yêu cầu, khởi kiện, hoặc bác bỏ yêu cầu của
người khác có nghĩa vụ cung cấp CC để CM cho yêu cầu của mình hay việc bác
bỏ yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp. Ngoài những chủ thể trên, các cá nhâm cơ
quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung
cấp đầy đủ và đúng hạn cho đương sự, TA, VKS tài liệu, CC mà mình đang giữ
khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm về việc cung cấp tài liệu chứng cứ đó;
trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho chủ thể

BLTTDS. Khi yêu cầu ĐS giao nộp bổ sung CC, TA cần phải nêu cụ thể CC cần
giao nộp bổ sung”. Theo đó, ĐS có quyền cung cấp CC trong suốt quá trình
TT.Tại phiên tòa sơ thẩm: Ở giai đoạn này, ĐS có quyền và nghĩa vụ cung cấp
thêm những CC mới nhưng họ phải chủ động đề xuất với HĐXX, chủ tọa phiên
tòa không có trách nhiệm phải hỏi về vấn đề này trước khi bắt đầu thủ tục xét hỏi.
Khi việc giải quyết VVDS đã vào giai đoạn tranh luận, chuẩn bị tuyên án, ĐS lại
cung cấp bổ sung CC, thì Thư kí TA thực hiện việc giao nhận CC và phải ghi vào
biên bản phiên tòa.Mọi CC đều phải đưa ra xem xét công khai, trực tiếp tại phiên
tòa. Nếu việc xem xét, đánh giá CC đó không thể thực hiện ngày mà cần có thời
gian xác minh thêm thì HĐXX có thể tạm ngừng phiên tòa chờ xác minh. Thứ
hai, tại TA phúc thẩm: Trong giai đoạn TA cấp phúc thẩm xem xét lại phần bản
án có kháng cáo kháng nghị, ĐS, người đại diện của ĐS, cơ quan tổ chức kháng
cáo, VKS kháng nghị có quyền bổ sung CC mới hoặc bổ sung thêm cho những
CC đã có đầy đủ hơn, việc này có thể thực hiện vào thời điểm nộp đơn kháng cáo
(gửi kèm theo đơn kháng cáo) đến TA sơ thẩm hoặc TA phúc thẩm, có thể thực
hiện trong giai đoạn TA cấp phúc thẩm thụ lý hồ sơ hoặc có thể ngay tại phiên
5
tòa. Thủ tục được tiến hành tương tự như giai đoạn khởi kiện và chuẩn bị xét xử.
Nếu ĐS kháng cáo gửi CC cho TA phúc thẩm thì TA phúc thẩm chuyển cho TA sơ
thẩm để TA sơ thẩm tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm theo hồ sơ VVDS
cho TA phúc thẩm
Như vậy, pháp luật TTDS cho phép người khởi kiện cung cấp CC trong bất
kì giai đoạn nào của thủ tục TT. Qui định này đảm bảo cho bản án, quyết định của
TA được đúng đắn, khách quan, tuy nhiên lại có hạn chế là kéo dài thời gian giải
quyết VVDS.
2. Thu thập CC tại TA cấp sơ thẩm, phúc thẩm
Chủ thể thu thập chứng cứ: Việc thu thập CC trước hết thuộc về ĐS,
người đại điện của ĐS, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ĐS trong hoạt
động thu thập CC, người khởi kiện yêu cầu bảo vệ lợi ích người khác, lợi ích
công cộng, Nhà nước. Đây là chủ thể chủ yếu trong hoạt động thu thập CC, có

vẫn không nhận được văn bản thông báo kết quả xác minh, thu thập CC của TA
thì VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm. Với thủ tục phúc thẩm, trường hợp sau
khi xét xử sơ thẩm nếu ĐS kháng cáo vì lí do TA không thu thập CC đầy đủ, thì
TA phải thông báo cho VKS ngang cấp biết để VKS chuẩn bị và tham gia phiên
tòa phúc thẩm. VKS có thể tham gia hoạt động thu thập CC bằng cách yêu cầu
ĐS, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, khoản 4 Điều
85 BLTTDS qui định: “VKS có quyền yêu cầu ĐS, cá nhân, cơ quan, tổ chức
cung cấp hồ sơ , tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm,…” Tại TA phúc thẩm mà VKS có kháng nghị,
VKS tham gia hoạt động cung cấp, thu thập CC thông qua việc xuất trình bổ sung
CC. Vai trò của VKS trong quá trình thu thập CC: Đối với giai đoạn sơ thẩm,
khoản 4 Điều 85 BLTTDS qui định cho phép VKS có quyền yêu cầu ĐS, cá nhân,
cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, tái thẩm, giám độc thẩm. VKS
7
không trực tiếp tham gia thu thập CC nhưng có quyền tham gia các phiên họp sơ
thẩm đối với các việc dân sự, các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do TA
tiến hành thu thập CC hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công
cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc một bên ĐS là người chưa thành niên, người
có nhược điểm về thể chất, tâm thần. VKS còn tham gia phiên tòa, phiên họp
phúc thẩm… (Điều 21 BLTTDS). Khoản 6 Điều 12 Nghị quyết 04/2012/NQ-
HĐTP hướng dẫn thêm trường hợp Viện kiểm sát thu thập chứng cứ bằng việc
yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ (cung cấp hồ sơ,
tài liệu, vật chứng) chỉ được Tòa án chấp nhận nếu việc thu thập chứng cứ đó
được thực hiện theo đúng quy định của BLTTDS và hướng dẫn của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Những nội dung cần xác minh khi thu thập CC: Xác định rõ quan hệ
pháp luật tranh chấp giữa các bên ĐS, xác định đầy đủ tư cách ĐS tham gia TT,
làm rõ những vấn đề cần phải CM và trọng tâm các vấn đề đó. Điều này đảm bảo

nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác, lợi ích công cộng,
Nhà nước cũng là một chủ thể của hoạt động nghiên cứu CC. BLTTDS qui định
cho ĐS có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, CC do các ĐS khác xuất
trình hoặc do TA thu thập (điểm đ khoản 2 Điều 58 BLTTDS); tại phiên tòa sơ
thẩm hoặc phúc thẩm, ĐS có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa (Điều 199,
200, 201 BLTTDS), được nghe trình bày của các bên (Điều 221 BLTTDS), được
trình bày quan điểm, ý kiến của mình (Điều 197 BLTTDS), được tham gia hỏi tại
phiên tòa (Điều 222 BLTTDS) và được tranh luận tại phúc thẩm (chương XIV
BLTTDS) tạo cho ĐS có điều kiện nghiên cứu CC, hiểu rõ hơn về VVDS, từ đó
góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ĐS. Ngoài ra chủ thể của hoạt
động nghiên cứu CC tại TA cấp sơ thẩm, phúc thẩm còn có người đại diện hợp
pháp của ĐS, người bảo vệ quyền và lợi ích của ĐS.
9
Những yêu cầu của việc nghiên cứu CC tại TA cấp sơ thẩm, phúc thẩm:
Việc nghiên cứu phải toàn diện, không bỏ sót, nhằm làm sáng tỏ bản chất vụ việc;
và được tiến hành một cách kịp thời, khách quan, không phân biệt đối xử CC
được cung cấp, thu thập bởi chủ thể này hay chủ thể khác. Nghiên cứu CC phải
tiến hành theo trình tự logic: Trước hết là nghiên cứu trong hồ sơ VVDS (các tài
liệu trong hồ sơ có đầy đủ so với danh mục tài liệu của hồ sơ hay không; nghiên
cứu đơn khỏi kiện để xác định yêu cầu của người khởi kiện, thẩm quyền của TA,
thời hiệu khởi kiện; lời khai của ĐS, người làm chứng trong hồ sơ; nghiên cứu
CC khác,…). Sau đó là nghiên cứu CC tại phiên tòa (hỏi, tranh luận, kết quả giám
định,…) Việc nghiên cứu các CC phải dựa trên thực tế khách quan, và tuân thủ
nghiêm ngặt các qui định của pháp luật tố tụng.
Nội dung của nghiên cứu CC tại TA cấp sơ thẩm, phúc thẩm: Phải xác
định phạm vi yêu cầu của ĐS và các chủ thể có liên quan; xác định thẩm quyền
giải quyết của TA; quan hệ pháp luật giữa các đương sự, từ đó xác định tư cách
ĐS, thành phần tham gia phiên tòa, các CC để giải quyết vụ việc đã đúng đắn và
đảm bảo đầy đủ đề giải quyết vụ việc hay chưa, nếu chưa đủ thì phải tiến hành
thu thập thêm như thế nào.

1. Thực tiễn áp dung và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện qui định của
pháp luật
Về cung cấp CC: Thứ nhất, Điều 175 BLTTDS qui định về thời hạn giao
nộp CC: Điều 175 BLTTDS qui định về thời hạn giao nộp CC nhưng lại không
qui định hậu quả pháp lý về việc ĐS giao nộp CC quá hạn qui định. Thêm nữa
các qui định khác của BLTTDS từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, phiên tòa sơ thẩm,
11
phúc thẩm và các văn bản hướng dẫn như đã phân tích ở trên lại cho phép ĐS
cung cấp CC trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình TT. Việc qui định như vậy
có ý nghĩa trong đảm bảo quyền lợi cho ĐS, giải quyết VVDS đúng đắn, tuy
nhiên lại làm kéo dài thời gian TT. Thực tế áp dụng còn cho thấy nhiều trường
hợp một bên ĐS tới giai đoạn tranh luận mới cung cấp CC mới, khiến cho phía
bên kia bị động, không kịp chuẩn bị CC để phản bác lại, mất quyền sao chụp CC
mà pháp luật đã qui định cho họ. Việc này còn gây bị động cho cả phía cơ quan
tiến hành TT, giảm thời gian nghiên cứu, xem xét, đánh giá CC, vụ việc, dẫn đến
giải quyết vụ việc không đúng đắn. Có những trường hợp ĐS đến phúc thẩm phúc
thẩm mới chịu xuất trình CC, dẫn đến án sơ thẩm bị hủy. Trong khi đó khoản 1
Điều 277 BLTTDS qui định bản án sơ thẩm phải bị hủy bất kể do lỗi của ĐS hay
TA gây nên áp lực tâm lý lớn cho các Thẩm phán xét xử sơ thẩm. Do đó cần bổ
sung qui định về thời hạn cung cấp chứng cứ, buộc ĐS có trách nhiệm hơn trong
hoạt động này, theo hướng nếu quá thời hạn mà ĐS không giao nộp hoặc giao nộp
không đầy đủ CC thì phải chịu hậu quả của việc này, CC giao nộp không đúng
thời hạn qui định không được chấp nhận, trừ trường hợp bất khả kháng và pháp
luật có qui định khác (qui định cụ thể các trường hợp này). Thứ hai, về qui định
tại khoản 1 Điều 83 BLTTDS: “Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng
cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Theo đó, khi thực hiện
cung cấp CC, ĐS buộc phải thực hiện việc công chứng, chứng thực cho bản sao
(trong trường hợp ĐS sử dụng bản sao), qui định này nhằm đảm bảo tính chính
xác cho những CC mà ĐS cung cấp, tuy nhiên lại “vẽ ra” thêm một thủ tục hành

thường vụ Quốc hội cần khẩn trương ban hành hướng dẫn cụ thể, đảm bảo qui
định này được thi hành hiệu quả trên thực tế. Hai là, về định giá tài sản: Điều 92
qui định TA chỉ ra quyết định định giá tài sản khi xảy ra một trong 2 trường hợp
qui định tại khoản 1, tuy nhiên nếu các ĐS không thỏa thuận được với nhau hay
1 Hướng dẫn của TANDTC năm 1977
13
với tổ chức thẩm định giá mà cũng không yêu cầu Tòa án thì giải quyết như thế
nào, có coi là ĐS không còn yêu cầu này nữa hay không
2
. Nghị quyết
04/2012/NQ-HĐTP cũng không có hướng dẫn cho qui định này. Do đó, kiến nghị
nhà làm luật sớm xem xét bổ sung hướng dẫn cho những trường hợp như thế này.
Khoản 2 Điều 92 BLTTDS qui định trong trường hợp cần thiết thì đại diện
UBND cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá nhưng
lại không qui định hướng dẫn các “trường hợp cần thiết” là những trường hợp
nào. Do đó pháp luật cần qui định cụ thể hơn về các trường hợp cần thiết này.
Trường hợp tài sản được định giá cùng một thời điểm, bởi hai trung tâm định giá
khác nhau cho kết quả khác nhau thì phải sử dụng kết quả nào cũng cần được
hướng dẫn cụ thể.
Về nghiên cứu và đánh giá CC: Điểm đ khoản 2 Điều 58 BLTTDS cho ĐS
quyền “được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, CC do các ĐS khác xuất trình
hoặc TA thu thập” nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể về việc có hay không
thông báo cho ĐS khi có CC mới, việc tiến hành ghi chép, sao chụp được tiến
hành vào thời điểm nào. Dẫn đến thực tế đa phần một bên ĐS chỉ biết tới CC mà
bên kia đưa ra khi đang ở tại phiên tòa, do đó, ý nghĩa của qui định không đạt
được. Vì vậy nên bổ sung qui định buộc một bên ĐS khi CC CC mới thì phải
thông báo bằng văn bản cho bên ĐS khác hoặc cung cấp cho bên ĐS khác một
bản sao, có công chứng hoặc chứng thực; nếu không thông báo hoặc gửi bản sao
thì sẽ phải chịu chế tài nhất định, nhằm đảm bảo cho quyền được nghiên cứu,
xem xét, đánh giá CC của ĐS.

bồi dưỡng nghiệp vụ giám định cho những người làm công tác này, tăng cường cơ
sở vật chất cho hoạt động giám định.
15
Thứ tư, về phía cơ quan tiến hành tố tụng, một số Thẩm phán nhưng lại
không hiểu rõ các qui định của pháp luật, hạn chế về nghiệp vụ, dẫn đến sai trong
nghiên cứu và đánh giá chứng cứ dẫn đến án sai phải hủy, ảnh hưởng quyền và lợi
ích hợp pháp của ĐS; hoặc mặc dù có căn cứ không vô tư khi tiến hành TT, dẫn
đến việc nghiên cứu, đánh giá CC không khách quan nhưng cơ quan tiến hành TT
lại bao che cho nhau; một số người tiến hành tố tụng hiểu rõ pháp luật nhưng lại
không thực hiện hết trách nhiệm, không tâm huyết với việc giải quyết đúng đắn
vụ việc… dẫn đến nhiều trường hợp án sai, án phải hủy, án tồn đọng không được
giải quyết,… Do đó cần phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn,
nghiệp vụ cần thiết cho thẩm quyền, kiểm sát viên, hội thẩm nhân dân,… nâng
cao ý thức trách nhiệm và “cái tâm” đối với nghề, từ đó đảm bảo cho việc các qui
định của pháp luật về cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá CC nói riêng và
các qui định khác nói chung được thi hành nghiêm túc, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể.
LỜI KẾT
Tóm lại, pháp luật đã có nhiều qui định về hoạt động cung cấp, thu thập và
đánh giá CC đảm bảo cho VVDS được giải quyết một cách đúng đắn, toàn diện,
bảo về lợi ích hợp pháp của ĐS. Tuy nhiên, như trình bày ở trên các qui định này
còn một số hạn chế, việc thực thi nhiều qui định còn vướng mắc, khó khăn, nhiều
qui định chưa được thi hành nghiêm túc. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực cả về mặt
hoàn thiện pháp luật và công tác áp dụng, tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả của các qui định pháp luật về vấn đề này trên thực tế, bảo vệ tốt hơn
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản qui phạm pháp luật
1. BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011

p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=23189990&article_details=1
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status