VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ – VẤN ĐỀ CƠ BẢN NHẤT CỦA TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật tố tụng dân sự (TTDS) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp
luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh những quan
hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Là luật hình thức
độc lập mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật nội dung khác nhau như:
Luật Dân Sự, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Thương Mại, Luật Lao
Động… Nhưng những luật nội dung này đều mang những đặc trưng cơ bản
của Luật Dân Sự như tính bình đẳng, tự quyết và thoả thuận giữa các bên…
đòi hỏi Luật tố tụng dân sự cũng phải thể hiện được bản chất tương ứng
trong việc đánh giá và xác định vai trò quan trọng của các đương sự, đặt họ
vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.
Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách
và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra
trong giai đoạn hiện nay.
Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho
đến khi có phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt (bãi nại) tranh chấp. Trong
đó, hoạt động chứng minh là hoạt động cơ bản, trước tiên và quan trọng
nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới. Hoạt động này là cơ
sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như là căn
cứ để toà án đưa ra các phán quyết của mình. Có thể nói mục đích của hoạt
động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của toà án chính là kết
quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó.
Kế thừa có chọn lọc các quy của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994)
và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996) không thể
1
phủ nhận về tính hoàn thiện và phát triển đúng đắn của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004. Mặc dù vậy, là một ngành luật còn non trẻ, kinh nghiệm lập
có nhiều tranh luận về mặt nội hàm (như ngoài nguyên đơn, bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn có người yêu cầu, người bị yêu cầu,
người liên quan trong việc dân sự, người kế thừa quyền và nghĩa vụ…) [1].
Tuy nhiên, theo quy định của Luật Tố Tụng Dân Sự 2005 thì đương sự là
nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – những tư
cách tố tụng chỉ được xác lập khi có vụ án dân sự xảy ra. Mặt khác, trong
thủ tục “phi tụng” – giải quyết yêu cầu trong tố tụng dân sự, trong nhiều
trường hợp người bị yêu cầu không xuất hiện (yêu cầu tuyên bố một người
chết, mất tích…) nên tính chất đối lập trong tố tụng (đối tụng) giữa các bên
không được thể hiện rõ ràng cũng như vai trò chứng minh của đương sự rất
mờ nhạt. Vì lẽ đó, đề tài đi vào nghiên cứu, đánh giá những vấn đề liên
quan đến hoạt động chứng minh trong việc giải quyết vụ án dân sự chứ
không phải toàn bộ vụ việc dân sự (bao gồm yêu cầu về việc dân sự và vụ
án dân sự )
Để làm nền tảng cho việc đánh giá, nhận xét được khách quan, đề
tài tìm hiểu các quy định của hoạt động tố tụng về lĩnh vực dân sự của Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử, đối chiếu, so sánh các quy định trong luật tố
tụng của một số nước có nền lập pháp tiên tiến trên thế giới trong cùng lĩnh
vực.
Khảo sát những số liệu thực tế nhằm bổ trợ cho những vấn đề lý
luận.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi xây dựng, phân tích những khái niệm cơ bản như tố tụng
dân sự, đương sự, đặc điểm, bản chất của hoạt động chứng minh trong tố
tụng dân sự… từ đó, chỉ rõ vai trò quan trọng, trung tâm của đương sự
3
trong hoạt động này dựa trên sự so sánh, đối chiếu với các chủ thể khác của
hoạt động chứng minh. Phân tích rõ những tác động của xu thế thời đại ảnh
hưởng đến vai trò chứng minh của đương, đồng thời đưa ra những luận
điểm để giải thích về vai trò quan trọng nhất của đương sự.
trình nhìn nhận các vấn đề về chứng minh ở nhiều góc độ, khía cạnh khác
nhau nhưng là cơ sở tham khảo quan trọng để tác giả có thể hoàn thành tốt
phần nghiên cứu của mình.
6. Khả năng phát triển của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu nhìn nhận đầy đủ về vai trò tính
chất quan trọng của đương sự trong quá trình chứng minh, phản ánh đầy đủ
bản chất của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Việc nghiên cứu một cách
toàn diện và quy mô sẽ tạo ra những cơ chế mới phát huy toàn diện tính
tích cực của đương sự trong tố tụng dân sự, cán bộ tòa án sẽ không phải
mất quá nhiều thời gian cho một vụ việc mà vẫn đảm bảo được sự “tâm
phục khẩu phục” của đương sự, giảm đi sự tồn đọng các vụ án dân sự ngày
càng nhiều, tăng thêm lòng tin của nhân dân và phù hợp hơn với thông lệ
quốc tế.
Bên cạnh đó, theo đề án về việc cải cách cơ cấu của ngành tòa án
tại Nghị Quyết số 49- NQ/TW của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020, trong thời gian tới sẽ có 4 cấp tòa án được thành lập là
tòa sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm, tòa thượng thẩm và tòa án nhân dân
tối cao. Việc thành lập thêm một cấp tòa án đồng nghĩa với việc phát sinh
nhiều hơn các cơ quan, cán bộ, thêm nhiều gánh nặng cho ngân sách nhà
nước vốn đã ngày càng eo hẹp. Khi hệ thống tòa án phát triển theo chiều
cao thì đề tài đi vào giải quyết vấn đề theo chiều rộng, giảm bớt công việc
cho ngành tòa án trao trả về cho phía đương sự. Như vậy, cho dù có thêm
cấp tòa thì cũng vẫn đảm bảo được về vấn đề nhân sự, cơ cấu.
5
7. Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần danh mục chữ viết tắt, giới thiệu chung, mục lục, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3 phần:
Phần thứ nhất là những vấn đề lý luận chung. Trong phần này tác
giả xây dựng các khái niệm cơ bản như: tố tụng dân sự, đương sự, hoạt
động chứng minh… chỉ rõ nghĩa vụ chứng minh của đương sự là một
của trình tự giải quyết vụ việc tại tòa án (như thủ tục nhập học, thủ tục đi
xuất khẩu lao động…). Tố tụng khác biệt với thủ tục ở chỗ nó được dùng
một cách triệt để và chỉ xuất hiện ở trong các trình tự tại cơ quan tư pháp
đồng thời gợi ra một cách nhìn nhận trong đó có sự tranh tụng – mâu thẫn
yêu cầu tài phán. Trong một thời gian dài của quá trình phát triển, danh từ
thủ tục đã được sử dụng thay cho danh từ tố tụng như: Thủ tục giải quyết
vụ án dân sự, Thủ tục giải quyết vụ án kinh tế hay Thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động… đã không thể hiện rõ được bản chất của hoạt động tư
pháp. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã sử dụng triệt để danh từ tố tụng và
thống nhất các thủ tục giải quyết thành một trình tự tố tụng chung.
Thứ hai là danh từ “dân sự” – civil đôi khi được dùng tương đồng
với danh từ prive – lĩnh vực luật tư, bởi bản chất thỏa thuận, bình đẳng của
các bên trong việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ.
Theo quy định của Bộ luật TTDS về phạm vi giải quyết các tranh chấp tại
Điều 1 thì các ngành luật nội dung có tranh chấp được giải quyết theo trình
tự này bao gồm Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại,
Luật lao động thì danh từ “dân sự” trong “tố tụng dân sự” đang được dùng
như một bộ phận của lĩnh vực tư luật (bởi luật tư bao gồm nhiều ngành luật
khác như luật bảo hiểm xã hội…).
7
Chính bởi sự phức tạp trong cách định nghĩa và xác định chính xác
thuật ngữ tố tụng dân sự mà đã có nhiều học giả đề nghị thay thế cụm từ
này bằng một số cụm từ khác như: Luật tư pháp – vì liên quan đến lĩnh vực
tư pháp, Tư luật – luật điều chỉnh việc giải quyết việc “riêng tư” giữa các
bên, Luật tư pháp dân sự – nhằm phân biệt phạm vi của ngành luật này với
tố tụng hành chính và tố tụng hình sự, Luật tư pháp tư hay Dân sự – tố
tụng… đồng thời đưa ra một số các định nghĩa khác nhau về tố tụng dân sự
[4]. Các cách định danh này đều có cơ sở nhất định nhưng chưa giải quyết
được triệt để vấn đề, gây khó khăn cho cách tiếp cận của những nhà nghiên
cứu pháp luật cũng như không rõ nghĩa.
để giải quyết không cần thiết phải có nhiều thủ tục khác nhau. Hiệu quả của
tố tụng dân sự trong những năm qua đã minh chứng cụ thể cho điều đó.
Như vây, tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới góc độ pháp lý là
một ngành luật tố tụng cụ thể còn dưới góc độ thực tiễn là những hình thức
thực tiễn do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng tiến hành.
Dưới góc độ pháp lý:
Tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà
nước ban hành điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình
giải quyết vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động tại tòa án đảm bảo sự nhanh chóng, chính xác trong quá
trình giải quyết và thi hành án, đặt ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của
nhà nước, của công dân.
Dưới góc độ thực tiễn:
Tố tụng dân sự là một quy trình, thủ tục do pháp luật quy
định buộc mọi chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng phải tuân theo
nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án dân sự và thi hành án,
bảo vệ quyền lợi của nhà nước và của công dân.
9
Nhiều học giả trên thế giới đã nhìn nhận tố tụng dân sự như là “nô
tì”, là “khúc ruột thừa”, là luật “yểm trợ” cho luật hình thức… các cách
nhìn nhận này là sai lầm và không đánh giá được vai trò quan trọng của
luật tố tụng. Bởi lẽ, pháp luật được đặt ra không phải chỉ để cho các bên
xác lập các quyền và nghĩa vụ một cách chung chung mà còn đặt ra những
chế định nhằm đảm bảo cho các quyền đó thành thực tế. Khi lợi ích của
một bên bị tổn thương cũng là lúc họ cầu cứu đến vai trò của nhà nước.
Nhà nước với vị trí trung lập, thông qua thủ tục tố tụng xác định một cách
rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của các bên và đảm bảo thực hiện trên thực tế.
Hay nói cách khác, luật tố tụng đảm bảo quyền lợi của các bên ở
thế “động” – có phát sinh tranh chấp (khác với quyền lợi ở thể “tĩnh” –
được các bên xác lập tôn trọng thực hiện). Nói chung, luật nội dung và luật
cá nhân khác thì có các quyền và nghĩa vụ như đương sự nhưng những cơ
quan tổ chức này không được coi là đương sự trong vụ án bởi họ không
liên quan trực tiếp đến vụ án. những chủ thể này khởi kiện bởi chức năng,
nhiệm vụ được pháp luật trao cho, các quyền và lợi ích của họ không phát
sinh từ chính bản án do họ khởi kiện.
Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích
liên quan đến vụ án nhưng dù là ai thì họ phải có năng lực hành vi và năng
lực tố tụng. Trong trường hợp không có hoặc có nhưng không đầy đủ thì họ
phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của mình (Điều 57 –
BLTTDS 2004)
Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức đi kiện hoặc được
cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền lợi công cộng. Nguyên đơn
tham gia tố tụng với sự chủ động cao thể hiện ở việc họ có thể lựa chọn
thời điểm khởi đầu vụ án dân sự (thời điểm khởi kiện), giới hạn phạm vi
xét xử của tòa án thông qua đơn khởi kiện vì “tòa án chỉ giải quyết trong
11
phạm vi đơn khởi kiện”(Điều 5 BLTTDS) (mặc dù sau này còn có thể có yêu
cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu của những người có quyền lợi liên
quan nhưng những yêu cầu này phải có quan hệ gần gũi với việc khởi kiện
ban đầu), có quyền lựa chọn tòa án trong một số trường hợp (Điều 36
BLTTDS). Nguyên đơn là người cho rằng quyền và lợi ích của mình, của
xã hội đang bị xâm phạm, thông thường họ là một phần trong quan hệ pháp
luật nội dung đang tranh chấp.
Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bị kiện. Trong tranh
chấp, họ bị suy đoán là đã có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn hoặc của xã hội. Bị đơn tham gia tố tụng một cách bị
động, tư cách của họ chỉ được xác lập sau khi nguyên đơn xác định tư cách
của mình, họ có thể nới rộng phạm vi giải quyết vụ kiện nhưng vẫn bị phụ
thuộc vào đơn khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.
Đương sự thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá. Trong mỗi sự vật,
hiện tượng lại có nhiều đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận
biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan nhưng cũng tồn tại
những đặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tư
duy, giải thích, móc nối các sự kiện để có thể đi đến được kết luận và việc
đầu tiên là phải đưa ra những giả thuyết để định hướng tư duy. Như việc
một cái cây bị gãy người ta có thể nhận thấy ngay sự đứt gãy, không toàn
vẹn của cái cây đó bằng thị giác hoặc bằng xúc giác nhưng không thể nhận
biết được ngay rằng tại sao cái cây đó bị gãy? nó đã gãy lâu chưa?… mà
phải đặt ra giả thuyết, sau đó tổng hợp các sự kiện khách quan để có thể đi
đến kết luận cuối cùng. Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tư duy,
móc nối các sự kiện đó chính là chứng minh. Chứng minh được hiểu “là
làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ”[12]. Quá
13
trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi mặt của đời sống xã hội và nó
là động lực cho sự phát triển, khám phá tìm tòi.
Hoạt động chứng minh trong TTDS là một dạng của hoạt động
chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động
mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi luật tố tụng dân sự và pháp luật
liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa vụ cụ thể và kết
quả của hoạt động này sẽ là một bản án, quyết định của tòa án mang tính
chất bắt buộc áp dụng. Nó là công cụ để tòa án có thể nhận thức được chính
xác sự việc đã sảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết
các tranh chấp phát sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan.
Đối với các đương sự, chứng minh là phương tiện duy nhất để họ có thể
bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình. Khi vụ việc dân sự được tòa án
thụ lý và giải quyết cũng đồng nghĩa với việc bên nguyên đơn cho rằng
quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, bên bị đơn không thừa nhận các
quyền và lợi ích đó của nguyên đơn nên yêu cầu tòa án phân xử. Trong quá
trình tố tụng có thể phát sinh nhiều chủ thể khác, khi họ đưa ra yêu cầu
tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất. Hay nói cách
khác, hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng cứ
để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án.
Là một yếu tố quan trọng nên khái niệm chứng cứ được luật tố
tụng dân sự của nhiều nước đề cập đến. Cá biệt còn có một số nước xây
dựng luật về chứng cứ thể hiện sự quan trọng của vấn đề này. Luật tố tụng
dân sự Nhật Bản định nghĩa: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một
tình tiết được tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó tòa án
được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không?” hoặc theo điều 401
Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa “Chứng cứ là những gì mà hàm chứa
trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó
ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém hơn”.
15
Trong Luật TTDS 2004, khái niệm chứng cứ lần đầu tiên được ghi nhận
một cách tương đối đầy đủ tại Điều 81, theo đó:
“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự
và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu
thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà tòa án dùng làm
căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp
pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết
đúng đắn vụ việc dân sự”.
Quá trình chứng minh không có gì khác ngoài việc sử dụng chứng
cứ đúng đắn (thỏa mãn ba yêu cầu về tính khách quan, tính liên quan và
tính hợp pháp) bao gồm bốn giai đoạn khác nhau là cung cấp, thu thập,
nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Các giai đoạn này có mối liên hệ mật thiết
với nhau, chỉ có giai đoạn trước mới có giai đoạn sau, và giai đoạn sau sẽ là
cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và triệt để của giai đoạn trước. Phải có
hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên
cứu, đánh giá chứng cứ và kết quả của họat động nghiên cứu, đánh giá
chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ vụ án dân sự, nhận thức này có
tiếng Việt thì nguyên tắc “là những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm chỗ
dựa để xem xét, làm việc”[13]. Khi thực hiện một công việc nhất định cần
tuân thủ một cách triệt để các nguyên tắc thì mới có thể đạt được những
mục đích mong muốn. Quan điểm của chủ nghĩa Mác LêNin nguyên tắc là
kết quả cuối cùng trong sự nghiên cứu “không phải giới tự nhiên và lịch sử
loài người thích ứng với các nguyên tắc mà ngược lại, nguyên tắc chỉ đúng
khi nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử loài người”[14]. Nguyên tắc
được đúc rút ra từ hoạt động thực tiễn và chỉ đúng khi phù hợp với thực
tiễn. Trong hệ thống khoa học pháp lý hiện đại nguyên tắc được hiểu là
những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cơ bản trong việc xây dựng và hoàn
17
thiện hệ thống pháp luật. Các nguyên tắc trong pháp luật nói chung và luật
tố tụng dân sự nói riêng chỉ đúng khi nó phù hợp với bản chất của ngành
luật, với thực tế các quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh.
Nhận thức được vai trò quan trọng mang tính chất chỉ đạo, Bộ luật
tố tụng dân sự đã dành chương II với 21 điều để liệt kê các nguyên tắc của
hoạt động tố tụng dân sự. Các nguyên tắc này được xây dựng trên tính chất
của nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như tính chất của luật tố tụng dân sự
cùng với quá trình đúc rút kinh nghiệm thực tế, xây dựng, áp dụng và hoàn
thiện pháp luật tố tụng trong những năm qua. Một trong số đó là nguyên tắc
về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự “các đương
sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho
yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi
kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự” (khoản 1 Điều 6
BLTTDS 2004).
Nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong
BLTTDS năm 2004 được kế thừa từ các quy định trong Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Điều 3), Pháp lệnh thủ tục giải
quyết vụ án kinh tế năm 1994 (Điều 3) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết
Thứ nhất, nghĩa vụ là việc phải làm. Đương sự có nghĩa vụ chứng
minh có nghĩa là đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh. Điều này
không có nghĩa là tất cả các đương sự đều phải thực hiện hoạt động chứng
minh. Như khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân
khác thì tư cách đương sự thuộc về người được khởi kiện nhưng họ không
bắt buộc phải chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình là có
căn cứ mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan, tổ chức đã khởi kiện, bị
đơn cũng không bắt buộc phải chứng minh… nghĩa vụ chứng minh nói một
19
cách tổng quát nhất là thuộc về phía đương sự đã đưa ra yêu cầu. Thuật
ngữ “yêu cầu” ở đây đã được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu
về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng,
không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng
chứng minh. Nội dung đối tượng chứng minh thuộc về phía đương sự bao
gồm thỉnh cầu và kháng biện. Trong thỉnh cầu có thỉnh cầu ban đầu (đơn
khởi tố), thỉnh cầu bổ xung (bổ xung yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ
việc), thỉnh cầu phản tố (đòi hỏi công nhận lợi ích của bị đơn) và thỉnh cầu
dự sự (đòi hỏi của người thứ ba về việc tham gia vụ án). Kháng biện bao
gồm kháng biện về nội dung (là sự phủ nhận của bị đơn), khước biện (bị
đơn cho rằng không đúng thủ tục) và kháng chấp (bị đơn cho rằng nguyên
đơn không có quyền kiện họ: ví dụ như không có tư cách hoặc kiện ở tòa
không có thẩm quyền).[15]
Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có
nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bị
đơn đưa ra yêu cầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ có nghĩa vụ chứng
minh cho việc bác bỏ đó là có căn cứ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan khi đưa ra yêu cầu cũng phải chứng minh… nguyên tắc này thống
nhất với nguyên tắc về quyền tự định đoạt của đương sự, quyền và lợi ích
của họ phải do chính họ quyết định.
Thứ hai, đồng thời với việc phải làm thì nghĩa vụ còn mang lại
của các chủ thể tham gia như nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự,
nguyên tắc hòa giải… Các nguyên tắc có mối quan hệ hữu cơ với nhau
trong đó nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự là nguyên tắc cơ
bản nhất. Chỉ khi đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình thì
mới xuất hiện các nguyên tắc tố tụng khác. Đương sự phải thực hiện hoạt
21
động chứng minh thông qua việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu
cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp thì mới là một trong những điều
kiện để tòa án tiến hành thụ lý đơn khởi kiện – thời điểm bắt đầu của hoạt
động tố tụng dân sự. Không thể có một đơn khởi kiện nào được thụ lý mà
không có chứng cứ để chứng minh (Điều 164). Các nguyên tắc khác theo
đó mới có thể phát sinh và áp dụng.
1.3 Sơ lược quy định về vai trò chứng minh của đương sự
trong tố tụng dân sự qua từng thời kỳ
Luật pháp là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng được hình
thành trên cơ sở hạ tầng xã hội tương ứng. Pháp luật luôn là công cụ hữu
hiệu nhất để giai cấp thống trị thực hiện quyền làm chủ của mình, định
hướng và duy trì sự ổn định xã hội. Vì vậy, qua từng thời kỳ lịch sử khác
nhau với sự hình thành, tồn tại và suy vong của nhiều chế độ chính trị, bản
chất của nhà nước là khác nhau nên các quy định liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của người dân nói chung và quyền, nghĩa vụ chứng minh của
đương sự trong hoạt động tố tụng dân sự nói riêng cũng không giống nhau.
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1945
Năm 1884, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta, chấm dứt
thời kỳ xã hội Việt Nam “thuần” phong kiến chuyển sang chế độ thực dân
nửa phong kiến. Chế độ phong kiến qua đi nhưng vẫn để lại những dấu vết
đậm nét về hoạt động lập pháp với nhiều bộ luật khác nhau nhưng có quy
mô và hoàn thiện nhất vào lúc bấy giờ phải kể đến ba bộ luật lớn là Quốc
Triều Hình Luật (nhà Lê thế kỷ XV), Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ (thế
biến miền Bắc và miền Trung thành lãnh thổ bảo hộ của Pháp và đạo dụ
năm 1898 của Hoàng đế Đồng Khánh nhượng 3 thành phố lớn là Hà Nội,
Hải Phòng và Đà Nẵng thành đất nhượng địa cho Pháp, Việt Nam chính
thức bị thực dân Pháp đô hộ. Khi đến nước ta chúng thiết lập một chế độ đô
23
hộ hà khắc nhằm bóc lộ và vơ vét của cải đặc biệt thông qua hai cuộc khai
thác thuộc địa trên quy mô lớn. Nhằm phục vụ cho mưu đồ của mình chúng
thay đổi nước ta thành một nước thực dân nửa phong kiến. Việc đầu tiên là
ban hành các bộ luật nhằm ổn định tình hình trong nước, thiết lập sự đô hộ.
Liên quan đến hoạt động tố tụng dân sự, trong giai đoạn này chúng ban
hành một số bộ luật khác nhau như Bộ dân sự tố tụng Nam Kỳ năm 1910,
Bộ dân sự tố tụng Bắc kỳ năm 1917, Bắc kỳ pháp viện biên chế năm 1921,
Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng bắc kỳ năm 1921, và Bộ Hộ sự và thương
sự Trung Kỳ năm 1942… Các bộ luật này mang tư tưởng phong kiến và
dựa trên khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Pháp 1807. Trong giai đoạn này,
quyền con người, quyền công dân không được để ý đến các quy định tố
tụng chủ yếu là tạo điều kiện cho hoạt động bóc lột của thực dân nên vai trò
chứng minh của đương sự không được quan tâm nhằm duy trì sự bất bình
đẳng. chỉ tồn tại vài quy định nhỏ như “Về phương diện dẫn chứng… buộc
bên đương sự nào nại ra phải có nghĩa vụ dẫn chứng..” và “Các đương sự
trong một vụ kiện phải dẫn chứng. Mỗi người muốn viện dẫn một sự kiện
hay một hành vi pháp lý phải chứng minh sự kiện, hành vi đó” [16]. Đây là
một quy định hiếm hoi có thể tiếp cận được bởi các văn bản thời kỳ này
được viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp, không dịch ra chữ Quốc Ngữ cũng
như không có các công trình nghiên cứu chi tiết. Mặt khác, giai đoạn này
sử dụng một cách đồng loạt các án lệ nơi tòa án nên các quy tắc thành
văn “chủ yếu vạch sẵn tỷ mỉ những lề lối phải theo như một thông tư hành
chính chứ ít có điều khoản chính xác định thức một nguyên tắc pháp lý tổng
quát” - mang tính chất thủ tục.[17]
Đồng thời với đó là việc duy trì hai hệ thống tòa án khác nhau với
những vấn đề cụ thể gì và nêu ra những bằng chứng gì làm căn cứ – ý kiến
của bị đơn đối với những lời thỉnh cầu của nguyên đơn: có chấp nhận hay
25