phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến, vận dụng phân tích mối liên hệ giữa vấn đề tăng trưởng và công bằng xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 13

Tiểu luận Triết học

LỜI MỞ ĐẦU

Khi khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng ta và Nhà nước đã nêu
rõ chủ trương kết hợp ngay từ đầu và trong từng bước giữa tăng trưởng
kinh tế với công bằng xã hội. Mục tiêu hàng đầu của nước ta là xây dựng
một nước Việt Nam “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh”.Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định mục tiêu : tăng
trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện ngay
trong từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ
nghĩa.
Vậy Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nó như thế nào? Tại sao
trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam bên cạnh việc tăng trưởng kinh
tế thì sự phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng? Phải chăng chủ trương
đề ra đã không được thực hiện đúng?
Là một sinh viên kinh tế, việc nhận thức mối liên hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội là cần thiết. Vì vậy, với những tìm tòi
tài liệu và sách báo tham khảo cùng với sự hướng dẫn của giáo viên bộ
môn, em đã quyết định chọn đề tài “ Phép biện chứng về mối liên hệ phổ
biến, vận dụng phân tích mối liên hệ giữa vấn đề tăng trưởng và công
bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay ”. Đề tài giúp em hiểu và thấy được
những chính sách, giải pháp và hướng đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước
trong quá trình đổi mới.
Với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, những sai
sót trong khi thực hiện sẽ là điều không thể tránh khỏi, em rất mong được
những lời nhận xét và góp ý quý báu của cô giáo.
1
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
1

quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế
giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Các sự vật, hiện
tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú đến bao nhiêu thì cũng
chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất - thế
giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại tách rời
nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau theo những
quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng
định rằng: mối liên hệ phổ biến là phạm trù triết học để chỉ sự quy định, sự
tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay
giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
1.2 Các tính chất của mối liên hệ
1.2.1.Tính khách quan
Mọi mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có
của mọi sự vật, hiện tượng. Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng chịu sự
tác động của các sự vật, hiện tượng khác ( như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm,
áp suất không khí… đôi khi cũng chịu sự tác động của con người ). Con
người - một sinh vật phát triển nhất trong tự nhiên cũng luôn luôn chịu tác
động bởi các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản
thân. Ngoài sự tác động của tự nhiên, con người còn tiếp nhận sự tác động
xã hội và những người khác. Chính con người và chỉ có con người mới tiếp
nhận vô vàn quan hệ, mối liên hệ chằng chịt. Vấn đề là con người phải
hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình để giải
quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và
bản thân con người.
1.2.2.Tính phổ biến
Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
3
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
3

4
Tiểu luận Triết học
Bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động
và phát triển của sự vật. Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó
để đưa lại hiệu quả cao trong hoạt động của mình.
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nghiên cứu quan điểm duy vật về mối liên hệ phổ biến, chúng ta
rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực.
Thứ nhất là quan điểm toàn diện. Đây là quan điểm đòi hỏi chúng ta
nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các
yếu tố và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác. Đòi hỏi
chúng ta phải phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ
bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên…
Thứ hai là quan điểm lịch sử - cụ thể. Quan điểm này đòi hỏi chúng
ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý đến điều kiện,
hoàn cảnh lịch sử - cụ thể. Cũng như để xác định đường lối, chủ trương
của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao
giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước.
5
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
5
Tiểu luận Triết học
CHƯƠNG 2: Vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
ở Việt Nam hiện nay – nhìn từ góc độ phép biện chứng
về mối liên hệ phổ biến
2.1. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
2.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Gần hai thập kỷ này, trong nước ta cũng như trên thế giới, ngày càng
nhiều những cuộc điều tra khảo sát, những công trình nghiên cứu, những

nhận tình trạng bất bình đẳng ở một giới hạn nhất định đối với mọi thành
viên trong xã hội.
2.1.2. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Trước hết ta cần nghiên cứu mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
tiến bộ xã hội.
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tất yếu cho tiến bộ xã hội. Do đó,
trên thực tế, hầu hết chính phủ các nước tìm mọi cách ưu tiên các nguồn
lực của mình cho sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều của cải vật chất cho
xã hội , làm cơ sở để giải quyết hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
khác. Như thế, tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thịnh suy của từng quốc
gia dân tộc. Vậy, phải chăng cứ tăng trưởng kinh tế là có sự tiến bộ xã hội?
Nhìn một cách phổ quát là như vậy. Nhưng, trong thực tế, không phải lúc
nào tăng trưởng kinh tế cũng đi liền với sự tiến bộ xã hội, bởi còn tùy
thuộc vào mục đích của tăng trưởng kinh tế. Nếu tăng trưởng kinh tế chỉ
nhằm đạt được lợi nhuận sẽ đem lại thảm họa cho con người. Ngược lại,
tăng trưởng kinh tế để tất cả cho con người và vì con người thì luôn luôn
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Như vậy tăng trưởng kinh tế tạo
điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội.
7
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
7
Tiểu luận Triết học
CNXH khoa học nhấn mạnh động lực để tăng trưởng kinh tế và tiến
bộ xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất của khoa học kỹ thuật,
nhưng tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội chính là phương thức sản xuất. Quan
điểm này giúp chúng ta có cách nhìn biện chứng về sự tăng trưởng kinh tế
của CNTB hiện đại. Nền tảng của nó là sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
hay những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ những
năm 50 của thế kỷ 20 đến nay đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế đơn thuần

hiện trước hết ở đổi mới tư duy kinh tế, hình thành và hoàn thiện qua các
Đại hội VI, VII, VIII và IX. Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được gần
hai thập niên qua trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã khẳng định
rằng, để thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh đòi hỏi phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã
hội. Sự nghiệp CNH, HĐH do Đảng lãnh đạo và đang được thực hiện ở
Việt Nam nhằm đến nhiều mục tiêu, trong đó có vấn đề tăng trưởng kinh tế
gắn với công bằng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế cùng với chế độ chính trị ưu việt là điều kiện,
yếu tố quan trọng để có công bằng xã hội, ngày càng tạo ra công bằng xã
hội. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội biểu hiện
một cách đa dạng, chứ tuyệt nhiên không phải tăng trưởng đi trước công
bằng theo sau.
Mác viết: ''với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần
tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này
vẫn lĩnh (sản phẩm lao động, vật phẩm tiêu dùng) nhiều hơn người kia,
người này vẫn giàu hơn người kia”.
Từ những luận điểm của Mác, chúng ta thấy, công bằng xã hội
không đồng nhất với bình đẳng xã hội, công bằng xã hội, bình đẳng xã hội
không có nghĩa là chia đều, ngang bằng nhau, và trong CNXH vẫn tồn tại
9
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
9
Tiểu luận Triết học
sự bất bình đẳng; bình đẳng trong CNXH là bình đẳng về địa vị xã hội của
con ngưởi. Trong điều kiện ở những nước chậm phát triển như nước ta,
liệu có thể vừa tăng trưởng kinh tế, vừa phát triển và thực hiện công bằng-
xã hội được không? Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: ''Chủ nghĩa xã hội là công
bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không

vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo
lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”. Từ cương
lĩnh xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ mà Đảng ta đã nêu lên, rõ ràng
chúng ta đã có một quan niệm khác với các nước XHCN trước đây là đặt
ra các mục tiêu xã hội quá cao so với trình độ phát triển kinh tế hiện tại, rút
cục các mục tiêu xã hội trở thành ảo tưởng. Chúng ta cũng không quan
niệm như một số nước phương Tây chạy theo sự tăng trưởng kinh tế bằng
mọi giá mà hy sinh các mục tiêu xã hội, gây nên những xung đột xã hội,
đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo. Chúng ta quan niệm, việc thực hiện các
vấn đề xã hội, các mục tiêu xã hội tuy không thể thoát ly tăng trưởng kinh
tế, không thể vượt ra ngoài phạm vi cho phép, nhưng không thể nhận thức
một cách giản đơn: Cứ tăng trưởng kinh tế thì các vấn đề khác của xã hội
sẽ giải quyết được, cũng không chờ đến khi có cho sự tăng trưởng cao của
kinh tế mới bắt đầu thực hiện sự công bằng xã hội, mà mỗi bước tiến của
chính sách xã hội (qua những mục tiêu đạt được của nó) đều phải dựa trên
cơ sở tăng trưởng kinh tế, và ngược lại, mỗi bước phát triển kinh tế, tăng
trưởng kinh tế đều thúc đẩy tiến bộ xã hội, công bằng xã hội.
Báo cáo gần đây nhất (năm 2003) về phát triển còn người của
Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã nêu rõ chỉ số phát triển
con người (HDI) của Việt Nam được tiến hành dựa trên những tính toán
các thành tựu về phát triển quan trọng như mức sống, y tế, giáo dục liên
tục được cải thiện, từ 0,583 (năm 1985) tăng lên 0,605 (năm 1990) và
11
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
11
Tiểu luận Triết học
O,688 (năm 2002-2003). Đồng thời, báo cáo còn nhấn mạnh: kết quả có ấn
tượng nhất là tỷ lệ nghèo đã giảm mạnh từ trên 70% vào cuối thế kỷ 20
xuống còn khoảng 29% vào năm 2002.

38,48
100
22,54
39,47
37,99
100
21,89
40,21
37,81
100
20,69
41,03
38,08
Đơn vị tính: %
Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP)
12
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
12
Tiểu luận Triết học
Trong gần 5 năm qua, cơ cấu kinh tế quốc dân đã có bước chuyển
biến theo hướng tích cực. Tỷ trọng khu vực nông – lâm và thuỷ sản đã
giảm hơn 3%,trung bình mỗi năm giảm hơn 0,7%. Khu vực công nghiệp và
xây dựng tăng gần 3%, bình quân mỗi năm tăng 0,6%, khu vực dịch vụ ổn
định ở mức trên 38%. Tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế tuy còn chậm so
với yêu cầu, song xu hướng chung thời kì sau nhanh hơn thời kì trước.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong khu vực nông – lâm
nghiệp và thuỷ sản là chuyển dần từ nền sản xuất mang nặng tính tự cấp tự
túc, thuần nông, năng suất và hiệu quả thấp sang nền sản xuấthàng hoá đa
ngành, đa sản phẩm có năng suất và hiệu quả cao. Đó là xu hướng giảm tỉ

Xu hướng tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp có công nghệ cao tuy còn
nhỏ nhưng khá nhanh : năm 2000 chiếm 15,6%, năm 2005 chiếm 20,8%,
trong đó sản xuất ô tô từ 1,75% lên 3,15%, sản xuất thiết bị điện - điện tử
từ 2,29% lên 2,76%, sản xuất thiết bị văn phòng – máy tính từ 0,52% lên
1,18%.
Trong giai đoạn 2001 - 2005 tốc độ tăng trưởng bình quân toàn
khu vực dịch vụ đạt 7,6%/năm, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra. Giá trị tăng
thêm của khu vực này đạt 7%/năm, cao hơn các thời kì trước đó. Các
ngành có tốc độ tăng trưởng khá cao là thương mại, nhất là xuất nhập
khẩu, bưu chính viễn thông, du lịch. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ
đạt tốc độ tăng bình quân 14,8%/năm. Phương thức kinh doanh đa dạng,
mạng lưới kinh doanh mở rộng cả trong và ngoài nước. Tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng hóa 5 năm đạt 110,2 tỉ USD, bình quân mỗi năm
tăng 16,2% trong đó năm 2005 đạt 69,1 tỉ USD, gấp 2,21 lần năm 2001,
bình quân đầu người đạt 370 USD. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt
32,23 tỉ USD, gấp 2,13 lần so với năm 2001, kim ngạch nhập khẩu đạt
36,88 tỉ USD, gấp 2,27 lần. Không chỉ tăng trưởng nhanh cơ cấu hoạt động
14
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
14
Tiểu luận Triết học
dịch vụ cũng chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỉ trọng các ngành dịch vụ
thông thường, chất lượng thấp như thương nghiệp, nhà hàng…giảm từ
37% những năm 1996 – 2000 xuống còn 35 -36% các năm 2001 – 2005. Tỉ
trọng các ngành dịch vụ mới, chất lượng cao như bưu chính viễn thông,
khoa học – công nghệ, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn kinh doanh
bất động sản… tăng dần. Tỉ trọng dịch vụ vận tải, bưu điện tăng từ 10%
năm 2001 lên 11%, dịch vụ khoa học công nghệ từ 1,3% lên 1,45% các
năm 2003 – 2005.

Thứ nhất là về xoá đói giảm nghèo.Giảm đói nghèo không chỉ là
một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc
biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển.
Thực hiện đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với
tiến hành công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội đã hạn
chế sự phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng.
Trong thời gian qua,nhờ việc thực hiện các cơ chế, chính sách có hiệu quả,
công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể. Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhanh nên công
cuộc xoá đói giảm nghèo đã đạt nhiều kết quả to lớn.Tỷ lệ hộ nghèo đã
giảm nhanh từ 17,5% năm 2001 xuống dưới 7% (theo chuẩn nghèo cũ),
trung bình mỗi năm giảm 2 – 2,25%, tương ứng 300 – 310 nghìn người,
đạt mục tiêu đề ra. Nếu theo chuẩn nghèo mới của Việt Nam, tỷ lệ hộ
nghèo chung cả nước năm 2002 là 23%, năm 2004 là 18,1% và năm 2005
còn dưới 17%. Tỷ lệ hộ nghèo chung theo tiêu chuẩn quốc tế giảm từ
28,9% năm 2002 xuống còn 24,1% năm 2004. Trong 5 năm qua, dù năm
nào cũng có hạn hán, bão lũ lớn, dịch cúm gia cầm, dịch SARS, nhưng số
hộ, số khẩu thiếu đói giáp vụ ở nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ thấp, cao nhất là
1% và giảm dần, cón phổ biến là 0,5% số hộ nông thôn. Thu nhập và đời
16
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
16
Tiểu luận Triết học
sống của dân cư được cải thiện và tăng dần. Thu nhập bình quân một người
1 tháng của dân cư tăng từ 356,1 nghìn đồng năm 2001 – 2002 lên 484,5
nghìn đồng năm 2003 – 2004, trong đó khu vực nông thôn từ 275,1 nghìn
đồng lên 376,5 nghìn đồng( tăng 36,7%).
Thứ hai, về công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày
càng được cải thiện. Mạng lưới y tế cơ sở được nâng cấp, gần 100% xã

lao động nông nghiệp giảm từ 63,4% năm 2001 xuống 58,8% và 56,8%
năm 2005; tỷ trọngld công nghiệp và xây dựng tăng từ 13,3% đến 17,4%
và 17,9%; tỷ trọng lao động dịch vụ tăng từ 22,4% lên 24% và 25,4% trong
3 năm tương ứng. Tỷ lệ lao động được đào tạo tăng từ dưới 20,56% năm
2001 lên 21,8% năm 2004 và 24% năm 2005, là kết quả đáng ghi nhận
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá.
Thứ tư, về giáo dục đào tạo của Việt Nam đã có bước chuyển tích
cực. Mạng lưới cơ sở giáo dục đã phủ khắp các phường, xã trong nước. Số
học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi ngày càng cao: năm học 2004 – 2005
đạt 97,5%, vượt mục tiêu đề ra là 97%. Học sinh trung học cơ sở tăng bình
quân 2,8%/năm. Đến hết năm 2005 có 30 tỉnh, thành đạt tiêu chuẩn phổ
cập trung học cơ sở.
2.2.3. Những hạn chế và giải pháp
2.2.3.1. Những hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta cũng có những hạn chế.
Tính bền vững và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế chưa cao, sức cạnh
tranh của hàng hóa và sản phẩm dịch vụ còn hạn chế. Nhiều vấn đề xã hội
còn diễn biến phức tạp, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội chưa thực
sự hài hoà.
18
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
18
Tiểu luận Triết học
Hạn chế trong nông – lâm nghiệp và thuỷ sản là chưa gắn với thị
trường trong nước với thế giới. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tuy cao
nhưng đóng góp của khu vực này trong tốc độ tăng trưởng GDP cả nước
chưa đến 1%. Chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng chưa cao, chưa
tương xứng với vị trí của khu vực này trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất
lương thực vẫn trong tình trạng chạy theo năng suất, sản lượng, chưa thật

tới bình đẳng xã hội.
Hai là, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội dưới
sự quản lý và điều tiết của Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng có vai trò
quyết định và vai trò quản lý trực tiếp của Nhà nước phải được nâng lên
tầm cao mới để vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo công bằng
xã hội. Nhà nước là chủ thể số 1 trong các chủ thể xã hội tham gia vào quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năng lực quản lý của Nhà
nước cần được thể hiện rõ qua việc hoạch định một hệ thống chính sách xã
hội, một hệ thống phúc lợi xã hội tích cực, sao cho ''bao nhiêu lợi ích đều
vì dân", đồng thời có khả năng và thực hiện tốt việc điều tiết xã hội, giữ
vững an ninh xã hội, đoàn kết các giai tầng xã hội. , đảm bảo môi trường
chính trị - xã hội luôn luôn ổn định để phát triển đất nước theo con đường
XHCN.
Ba là, cần mở rộng chính sách phúc lợi xã hội thành hệ thống chính
sách an sinh xã hội nhiều tầng nấc, xem đây là một trong những chỉ báo
quan trọng của một xã hội công bằng và văn minh.
Hệ thống chính sách an sinh xã hội này bao gồm: 1) Chính sách ưu
đãi xã hội, nhằm bảo đảm mức sống ít nhất trên trung bình cho những
người có công trong quá trình cách mạng và kháng chiến trước đây; 2)
Chính sách bảo hiểm xã hội nhằm huy động sự tích góp một phần thu nhập
20
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
20
Tiểu luận Triết học
của những người lao động lúc bình thường để dành chi tiêu cho lúc gặp
khó khăn (thất nghiệp, bệnh tật tuổi già ); 3) Chính sách trợ cấp xã hội để
hỗ trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương như người tàn tật,
người già cô đơn, trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ ; 4) Chính sách cứu tế
xã hội để cưu mang những người bị thiệt hại nặng do địch họa, thiên tai

các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách
mạng và kháng chiến cũ, nhằm giảm dần khoảng cách, trình độ phát triển
giữa các vùng miền, từng bước khắc phục tình trạng "bất công tự nhiên" và
"bất công do lịch sử để lại"; giữ vững ổn định chính trị - xã hội bảo đảm
cho sự phát triển bền vững của đất nước. Bên cạnh đó, cũng có thể áp dụng
cơ chế riêng đối với những vùng có lợi thế về kinh tế để hỗ trợ những vùng
yếu thế hơn.
Bảy là, hạn chế tình trạng thu nhập bất hợp lý, kiên quyết xử lý
mạnh các trường hợp thu nhập bất hợp pháp do tham nhũng, ăn cắp của
công, buôn lậu. Tham nhũng hiện nay là một ung nhọt gây nhức nhối nhất
trên cơ thể xã hội, là một trong bốn nguy cơ cản trở quá trình Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, lúc này, chống tham nhũng là một
trong những trọng điểm để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế, làm lành mạnh
các quan hệ xã hội, đạt tới tiến bộ và công bằng xã hội. Muốn chống tham
nhũng tốt, phải mở rộng dân chủ, chống từ trên xuống dưới, từ dưới lên, rà
soát lại đội ngũ cán bộ có chức có quyền, từ trong nội bộ Đảng ra ngoài xã
hội.
22
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
22
Tiểu luận Triết học
23
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
23
Tiểu luận Triết học
KẾT LUẬN
Sau hơn 20 năm đổi mới, chủ trương kết hợp tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội đã được chứng minh là đúng đắn, bằng thực tế của những

Đỗ Nguyên Phương ( Uỷ viên Trung Ương Đảng ) - Trưởng ban
Khoa giáo Trung Ương
CIEM, Trung tâm thông tin – tư liệu
Giáo trình Lịch sử kinh tế - Nhà xuất bản Thống Kê
Tạp chí Thông tin kinh tế - xã hội số 5 (43) tháng 5/2005
Tạp chí Thông tin kinh tế - xã hội số 6 (44) tháng 6/2006
25
Lê Thị Bích Hạnh Lớp: Ngân hàng
47A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status