tăng cường vai trò giới trong truyền thông vệ sinh, nước sạch và môi trường ở gia đình nông thôn việt nam hiện nay - Pdf 25

TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ GIỚI
TRONG TRUYỀN THÔNG VỆ SINH, NƯỚC SẠCH VÀ MÔI TRƯỜNG
Ở GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Đặt vấn đề
Theo thống kê của Uỷ ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt nam cho
biết năm 1997-1998, phần lớn số lao động trưởng thành làm việc trên 60 giờ mỗi
tuần là phụ nữ (chiếm khoảng 57% so với 41% ở nam giới). Tỷ lệ nữ giới làm
việc một tuần từ 51-60 giờ tuy có thấp hơn so với số có số giờ làm việc trên 60
giờ, nhưng vẫn cao hơn so với nam giới (44% ở nam giới và 53% ở nữ giới). Tại
các gia đình, thời gian làm việc nhà của nữ giới cũng luôn cao hơn nam giới một
cách tuyệt đối ở mọi độ tuổi
1
: số thời gian trung bình làm việc nhà trong một năm
của nữ giới ở độ tuổi 11-14 là 390 giờ/năm so với 270 giờ/năm ở nam giới. Trong
Điều tra Mức sống hộ gia đình năm 2002, Tổng cục thống kê cũng cho thấy thời
gian tham gia sản xuất, kinh doanh bình quân một ngày của nữ là tương đương
với nam (4,9 giờ và 5 giờ) tuy nhiên, số giờ làm việc nội trợ của nữ giới ở thành
thị lớn hơn nhiều lớn so với nam giới (1,97 giờ/1ngày ở nữ giới và 0,78 giờ/ngày
ở nam giới); tỷ lệ này cũng không có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn
(nữ giới nông thôn làm việc nhà 2,06 giờ/ngày còn nam giới làm việc nhà 0,88
giờ/ngày
2
. Như vậy, ở mỗi gia đình, người phụ nữ là người thường xuyên đảm
nhận các công việc trong gia đình và chăm sóc các thành viên.
Do phụ nữ là người thường chịu trách nhiệm về vệ sinh gia đình và vệ sinh
cá nhân đối với con cái và các thành viên trong gia đình, chăm lo sức khỏe cho
gia đình. Điều đó cho thấy, sự tham gia của phụ nữ trong xây dựng và quản lý
các công trình nước và vệ sinh môi trường là rất quan trọng, cả nam giới và phụ
nữ cần được khuyến khích để tham gia trong việc lập kế hoạch, thực hiện và
giám sát. Chính vì vậy, trong quá trình truyền thông nước sạch, vệ sinh, môi
trường (NSVSMT) một mô hình truyền thông gắn với vai trò giới là rất quan

được tuyên truyền và thay đổi thái độ thì sẽ góp phần thay đổi thói quen đó
của cộng đồng nhanh chóng hơn.
- Vai trò tư vấn và quản lý
Vai trò của nhân viên, hoặc cộng tác viên nước sạch thuộc TTNSVSNT: là
những người có liên hệ trực tiếp với người dân. Nếu có sự phối hợp hoạt động
với Trung tâm y tế, hội phụ nữ, và các đoàn thể thì họ sẽ có thể đóng vai trò tích
2
cực và có hiệu quả trong việc truyền thông, hướng dẫn, tư vấn người dân về nước
sạch và vệ sinh.
Cán bộ truyền thông cần đóng vai trò truyền thông, tư vấn hướng dẫn, và
làm mô hình nếu cần thiết, chẳng hạn phương pháp lọc nước, cách khoan giếng
Cần chú ý đến vai trò của phụ nữ, những người trực tiếp dùng nước trong sinh
hoạt gia đình. Họ cần được đặt vào Trung tâm của các hoạt động tư vấn, tuyên
truyền kiến thức, kỹ năng. Có thể phối hợp với hội phụ nữ trong các hoạt động
này. Làm sao để người phụ nữ tự biết cách theo dõi chất lượng nước của gia
đình, biết sử dụng và vận hành đúng cách giếng nước, lọc nước Trong điều kiện
nông thôn thiếu các dịch vụ, thiếu các nguồn cung cấp thông tin, và hiểu biết của
người dân còn thấp, nhiều khi trong cộng đồng vẫn thường lưu truyền những
thông tin, kiến thức sai lạc. Chẳng hạn họ cho rằng nước máy không tốt hơn nước
sông, nước giếng. Vì họ thấy nước sông có vị “ngọt” hơn, hoặc nước giếng khoan
cũng trong như nước máy mà lại không có mùi “hắc”. Vì vậy làm sao để trong
những lúc cần thiết người dân, đặc biệt là phụ nữ biết cách tìm tư vấn hỗ trợ ở
nơi đáng tin cậy. Điều này là rất quan trọng, nó giúp làm giảm những hiểu biết
sai lầm về vệ sinh nước sạch và sức khỏe.
- Vấn đề giới trong cấp nước tập trung mô hình Công ty nhà nước, Công ty
tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
Là hình thức quan hệ giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ. Cần
lưu ý đến các nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch, và cơ chế phản hồi.
Tất cả các nội dung về công khai, minh bạch, và cơ chế phản hồi đếu phải được
đưa vào trong bản hợp đồng cung cấp dịch vụ.

gia của phụ nữ. Ở những nơi không làm tốt việc này thì phụ nữ chỉ biết đóng góp
kinh phí mà không được nâng cao nhận thức, cũng như không được tham gia vào
các hoạt động quản lý khác. Nếu được nâng cao nhận thức, và được tham gia
quản lý, phụ nữ sẽ là những người tích cực trong truyền thông và vận động cộng
đồng.
Dịch vụ chăm sóc khách hàng: có nhiều hoạt động liên quan đến quá trình
sử dụng nước, chẳng hạn như duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp, lắp bổ
sung Nhiều hoạt động có thể do cơ chế thị trường đảm nhiệm. Tuy nhiên, do
đặc thù của vùng nông thôn, những dịch vụ thị trường chưa phát triển như thành
4
phố, nên TTNSVSNT, và nhà cung cấp dịch vụ cần đóng vai trò tư vấn, hỗ trợ
nhằm đảm bảo cho người dân có được dịch vụ hoàn hảo. Đối với phụ nữ, là
người trực tiếp sử dụng nước, nhưng lại yếu kém hơn nam giới khi liên quan đến
những vấn đề về kỹ thuật. Vì vậy vai trò tư vấn hỗ trợ của TTNSVSNT và nhà
cung cấp dịch vụ càng cần chú ý đảm bảo cho phụ nữ cũng được sử dụng những
dịch vụ tốt và hoàn hảo. Phụ nữ cần có kiến thức để khi có nhu cầu họ biết tìm
đến cơ sở đáng tin cậy, có thể đáp ứng nhu cầu của họ.
5
3. Các biện pháp sau đây được đưa ra nhằm nâng cao vai trò giới trong truyền
thông nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn
3.1. Tăng cường hoạt động tuyên truyền về vệ sinh nước sạch và môi trường
tới từng hộ dân
Tiến hành một cuộc khảo sát ban đầu với mục đích: Tìm hiểu những vấn
đề còn bất cập, nảy sinh trong quá trình thực hiện các chương trình dự án ở cộng
đồng dân cư; Khảo sát những mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của người dân
đối với vấn đề nước sạch môi trường; Đánh giá mức độ tiếp cận của nữ giới, nam
giới đối với nước sạch, vệ sinh môi trường;
Xây dựng tài liệu truyền thông giáo dục về nước sạch và vệ sinh về môi
trường, bao gồm các tờ rơi, áp phích, sách lật Tài liệu cần được viết với mục
đích đưa ra những gợi ý, lưu ý nhằm thực hiện mục tiêu của chiến lược NSVSNT

3.5. Tư vấn, trang bị kĩ năng và kiến thức sử dụng các thiết bị gia đình
Hộ gia đình cần được cung cấp và hướng dẫn cách sử dụng những thiết bị
tự có chẳng hạn như giếng khoan, lu nước, bề nước Người dân, đặc biệt là phụ
nữ, cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cho việc sử dụng và quản lý những
nguồn nước mà họ tự khai thác, chẳng hạn như phương pháp xử lý nước đục,
nước có mùi, nước có sắt, cách lưu giữ nước một cách hợp vệ sinh trong mùa
khô
7
Xác định các mục tiêu và phạm
vi của chương trình thử nghiệm
Tổ chức thu thập thông tin, xử lý và phân
tích thông tin
Đánh giá phân hạng theo các
tiêu chí
Xác định các tiêu chí đánh giá để phân
hạng
Lựa chọn các phương tiện
truyền thông và cách thức phổ
biến thông tin
Tiêu chuẩn hoá và hệ thống hoá chương
trình phổ biến thông tin
Tư vấn, dịch vụ, sửa chữa, duy trì, bảo dưỡng, nâng cấp: Do đặc thù ở
vùng nông thôn, các dịch vụ không đầy đủ như ở thành phố, hơn nữa người dân
mới sử dụng, chưa có nhiều kinh nghiệm nên vai trò tư vấn của trung tâm y tế ở
đây là rất quan trọng. Chẳng hạn, phương án xử lý khi xảy ra sự cố với hố xí,
hoặc hút bể phốt khi đã đầy Trung tâm y tế có thể có những tuyên truyền, hoặc
có những tài liệu phát để người dân biết xử lý trong những tình huống cần thiết.
Trong sử dụng hố xí, thường những gì liên quan đến kỹ thuật, xây dựng thì
nam giới được hướng dẫn, còn phụ nữ thì không được tham gia. Tuy nhiên, phụ
nữ là người đóng vai trò chính trong việc dọn dẹp vệ sinh hàng ngày, và do đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status