Bạo lực gia đình trong các gia đình nông thôn việt nam hiện nay - Pdf 25

CHƯƠNG I
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo lực gia đình là một vấn đề có tính chất toàn quốc được xem như là một đề tài
thu hút giới nghiên cứu trong mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn
Bạo lực gia đình đặc biệt là bạo lực với phụ nữ và trẻ em là hiện tượng phổ biến
tồn tại ở tất cả các nước Bạo lực gia đình đã và đang tác động đến một bộ phận không
nhỏ phụ nữ và trẻ em trên thế giới và trở thành một chướng ngại lớn cho quá trình bình
đẳng giới
Ở Việt Nam vấn đề bạo lực gia đình ngày càng được quan tâm hơn khi ngày càng
nặng nề hơn
Theo báo cáo của Ủy ban dân số gia đình và trẻ em Việt Nam năm 2006 : 97%
nạn nhân là những người phụ nữ
Theo các nghiên cứu trên thế giới ước tính khoảng 20 – 50% phụ nữ đã phải chịu
bạo lực về thể xác do bạn tình hoặc các thành viên trong gia đình. Ở Việt Nam, theo một
nghiên cứu của Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với tổ chức UNCEF cho thấy
21,2% cặp vợ chồng đã trải qua một trong những hình thức bạo lực gia đình, trong đó
7,3% cặp vợ chồng thường xuyên xẩy ra bạo lực. Bạo lực gia đình làm tổn hại về thể
chất, tinh thần của người bị bạo lực mà phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Bạo lực
gia đình là nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, gây ảnh hưởng không nhỏ
đến trật tự xã hội.
Những năm gần đây, nạn bạo lực gia đình đã được các cấp, các ngành, các đoàn
thể, các tổ chức xã hội và cộng đồng quan tâm, đặc biệt Nhà nước đã ban hành Luật
phòng chống bạo lực gia đình. Luật phòng chống bạo lực gia đình đang được tuyên
truyền rộng rãi trong cán bộ, nhân dân, từng bước đi vào cuộc sống của mỗi gia đình.
Nhìn chung bạo lực gia đình có chiều hướng giảm song chỉ giảm so với hình thức bạo
lực thể chất, còn bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục thì chưa giảm.
Nhận thức về phòng chống bạo lực gia đình của nhân dân nói chung, phụ nữ nói riêng
còn hạn chế. Các hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình chưa hiệu quả. Việc xử lý các vi
phạm, phê bình góp ý đối với đối tượng gây bạo lực gia đình chưa có tiến triển nhiều
Những cọn số mà chúng ta đang thấy là những con số không nhỏ . Riêng ở Việt Nam

3.2. Khách thể nghiên cứu:
• Cán bộ các ban, ngành đoàn thể tại cơ sở
• Các hội viên phụ nữ và nhân dân địa phương
• Nạn nhân bạo lực gia đình người dân ở nông thôn
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Một số tỉnh huyện : Thái Bình, Đà Nẵng , Tây Ninh , An Giang ,Hà Nội, Nghệ
An…
3.4. Thời gian nghiên cứu : T8/2009 – T12/ 2010
4. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XXH:
4.1. Phương pháp luận
Ở đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa
duy vật biện chứng làm phương pháp luận. Vấn đề bạo hành trẻ em trong gia đình nó có
liên quan mật thiết đến các yếu tố khác . Chính vì vậy, khi nghiên cứu nghiên cứu vấn đề
này phải xem xét từng trường hợp, từng điều kiện kinh tế,văn hóa,chính trị, xã hội của
từng gia đình nông thôn . Đồng thời, chúng ta cũng phải đặt trong mối liên hệ với các
nhân tố khác như nhà trường, các nhóm xã hội, truyền thông đại chúng. Ngoài ra, chúng
ta cũng phải xem xét vấn đề đó trong một quá trình lich sử cụ thể cũng như tác động từ
truyền thống văn hóa làng xã
Dân gian xưa ta đã từng có câu “ Thương cho roi cho vọt , ghét cho ngọt cho bùi “
Nhưng quan niệm đấy có còn đúng và như thế có phải bạo hành không? Và việc cha mẹ
cho rằng người làm cha mẹ có quyền “ cho roi , cho vọt “ ?
4.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
4.2.1.Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã đọc và phân tích một số tài liệu liên quan
đến vấn đề bạo hành gia đình Đồng thời chúng tôi quan tâm đến báo cáo trên các tạp
chí, sách, báo để đưa vào những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài.
4.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu :
4.2.3.Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT
5.1. Giả thuyết nghiên cứu

ta cũng phải xem xét vấn đề đó trong một quá trình lich sử cụ thể cũng như tác động từ
truyền thống văn hóa làng xã
Dân gian xưa ta đã từng có câu “ Thương cho roi cho vọt , ghét cho ngọt cho bùi “
Nhưng quan niệm đấy có còn đúng và như thế có phải bạo hành không? Và việc cha mẹ
cho rằng người làm cha mẹ có quyền “ cho roi , cho vọt “ ?
1.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
1.2.1.Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã đọc và phân tích một số tài liệu liên quan
đến vấn đề bạo hành gia đình Đồng thời chúng tôi quan tâm đến báo cáo trên các tạp
chí, sách, báo để đưa vào những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài.
1.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
1.2.3.Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
2. 6. THAO TÁC HÓA KHÁI NIỆM
2 .1. Bạo hành: bất kì hành vi nào xảy ra trong gia đình và xã hội gây tổn thương đến
thể chất, tinh thần và tình dục của người khác , bao gồm các hoạt động như đe doạ, ép
buộc hoặc tước đoạt quyền tự do của họ.
2.2 Bạo lực gia đình
Tháng 12/1993, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về bạo lực gia
đình như sau: “Bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc
có khả năng dẫn đến, những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay những đau
khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay
tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay trong cuộc sống
riêng tư”.
Ở Việt Nam, 21/11/2007, trong kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá XII đã thông
qua bản dự thảo Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Luật này đã đưa ra định nghĩa
về bạo lực gia đình như sau: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia
đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với
các thành viên khác trong gia đình.
2.3 Hình thức bạo lực gia đình :
2.3.1 Bạo lực thể chất :gồm những hành vi bạo lực mà người gây ra bạo lực

hộ
2.7. Khái niệm “vai trò”
Vai trò là một tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những
người mang các địa vị Ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tập hợp hay nhóm các
kỳ vọng, hành vi (Dahrandorf)
2.8. Khái niệm “giáo dục”
Giáo dục có hai nghĩa:
Nghĩa rông: Giáo dục được coi là sự tá sự tác động đến con người từ toàn bộ hệ
thống và các quan hệ xã hội. Với mục đích chuyển tải những kinh nghiệm xã hội hay
những tri thức cần thiết cho cuộc sống xã hội của con người. Do vậy con người có thể
học hỏi kinh nghiệm của tri thức đó ở mọi lúc, mọi nơi, mọi nhóm xã hội khác nhau.
Nghĩa hẹp: Giáo dục là sự tác động có định hướng, có kế hoạch, có mục đích đến
con người từ phái chủ thể giáo dục nhất định, nhằm truyền đạt cho chúng ta một hệ
thống các tri thức, chuẩn mực, kinh nghiệm xã hội, làm cho chúng ta dần có được phẩm
chất năng lực theo yêu cầu của xã hội. Những kiến thức hay kinh nghiệm đó chỉ có thể
nhận được qua chủ thê giáo dục như gia đình, nhà trường. Với nghĩa này thì giáo dục
được coi như là một thiết chế xã hội hay là một hệ thống xã hội có tổ chức
Gia đình hòa
thuận, 65.1
Đôi lúc có mâu
thuẫn, 31.7
Thường xảy ra
mâu thuẫn, 3.2
Gia đình hòa thuận
Đôi lúc có mâu thuẫn
Thường xảy ra mâu thuẫn
CHƯƠNG 3
I. THỰC TRẠNG BẠO HÀNH GIA ĐÌNH QUA CÁC NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi chửi mắng, xúc phạm cao nhất (chiếm tới
90%), tiếp theo là hành vi đánh, đá, tát (chiếm 52,67%), các hành vi

Số em bị bố đánh chiếm 23% (gấp 6 lần mẹ đánh); bị dì ghẻ, bố dượng đánh chiếm
20,3%.
Môi trường gia đình ảnh hưởng nhiều tới thái độ ứng xử, hành vi của các em. Số liệu
điều tra trên 200 học sinh Tp.HCM của nhóm đề tài Viện Nghiên cứu Phát triển cho thấy
sự thiếu trách nhiệm của cha mẹ, ít quan tâm đến con cái, quá chú trọng vào việc kiếm
tiền, thiếu quan tâm, hoàn cảnh gia đình phức tạp ảnh hưởng nhiều đến tâm lý trẻ em,
gây cho các em chứng trầm cảm, cộc cằn, hung dữ, là nguy cơ dẫn đến bạo lực.
Theo điều tra, nhóm cha mẹ thường xuyên đánh lộn, cãi nhau chiếm 33,4%; cha
mẹ hàng ngày uống rượu chiếm 9,1%; cha mẹ li thân, li dị hoặc đã chết chiếm 11,1%;
cha mẹ thường xuyên đi xa, ít quan tâm đến con chiếm 9,6%.
Hình 2: Hành vi của cha mẹ
Đây là những nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần trẻ tổn thương, tâm trạng bực bội,
khó chịu, dễ có hành động gây hấn, hung dữ hoặc có hành vi bạo lực không kiểm soát
được
Cũng theo thống kê của TTTV và CSSKPN Gia Lâm thì bạo hành gia đình xảy ra
đều bắt nguồn từ người chồng, gây bạo lực theo bản năng là 8,37%; bạo hành sau khi
uống rượu là 22,96%; đòi hỏi vấn đề tiền bạc là 16,94%; các nguyên nhân khác là 5,2%;
còn lại gần 50% (cụ thể là 46,53%) là do kẻ gây bạo hành tự tìm kiếm lý do. Điều đó cho
thấy sự lạm dụng quyền của người đàn ông trong gia đình vẫn còn ở mức báo động,
người phụ nữ lại hoàn toàn bị thụ động trong vấn đề này.
Một nghiên cứu tình trạng bạo lực gia đình ở Tây Ninh trong thời gian qua
luôn được các Ngành, các cấp quan tâm chú trọng, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động tuyên
33.4
9.1
11.1
9.6
0
5
10
15

BLGĐ phổ biến là hành vi bạo lực về thân thể: 2.210/3.493 vụ, chiếm tỷ lệ 63,26%, bạo
lực về tinh thần: 1.030/3.493 vụ, chiếm tỷ lệ 26,12%; bạo lực về kinh tế: 216/3.493 vụ,
chiếm tỷ lệ 6,18%; bạo lực về tình dục: 52/3.493 vụ, chiếm tỷ lệ 1,48%.
Hình 3: Tỷ lệ đối tương bạo hành ở Tây Ninh
Qua số liệu báo cáo của Tòa án Nhân dân tỉnh Tây Ninh hai năm 2008-2009 (Tòa án địa
phương) đã thụ lý 4.369 vụ, đã giải quyết ly hôn 4.108 vụ; trong đó có 154 vụ do bị đánh
đập, ngược đãi; vợ, chồng, ngoại tình: 128 vụ, mâu thuẫn kinh tế: 54 vụ; rượu chè, ma
túy: 08 vụ. Đặc biệt, đã có 08 bản án xử lý hình sự về bạo lực gia đình (BLGĐ) trong đó
có 04 vụ chồng giết vợ.
Theo nghiên cứu khảo sát về gia đình Việt Nam của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu về gia đình và giới và Quỹ Nhi đồng
Liên hiệp quốc cho thấy, hiện nay có tới 21,2% số cặp vợ chồng đã từng trải qua một
dạng bạo lực gia đình nào đó như: bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác, bạo lực tình dục,
bạo lực kinh tế, mà tỷ lệ những phụ nữ không dám nói lên sự thật còn chiếm khá cao:
26,2%, so với con số này ở các ông chồng là 16,7%. Cứ 5 cặp vợ chồng thì có 1 cặp
từng trải qua các hình thức bạo lực gia đình nghiêm trọng nhất. Phụ nữ thường là đối
tượng của bạo lực, bởi tỷ lệ này là rất nhỏ, chỉ chiếm có 0,6% phụ nữ đánh chồng so với
3,4% số nam giới đánh vợ. Trong các trường hợp bạo lực gia đình, các cặp vợ chồng
hiếm khi chia sẻ vấn đề của họ với bố mẹ, bạn bè hoặc chính quyền do lo sợ bị mất mặt,
hoặc ngại “vạch áo cho người xem lưng”.
Phụ nữ, 2808,
81%
người già, 317,
9%
nam giới, 52, 1%
trẻ em, 316, 9%
Phụ nữ
người già
trẻ em
nam giới

người. Người say rượu không ý thức được hành vi của mình. Những người say rượu
thường gây bạo lực đối với các thành viên trong gia đình. Những người nghiện rượu, say
rượu gây bạo lực gia đình là quá rõ, song thực tế ở không ít gia đình, có những người
chồng, người con trai không phải say rượu mà lại mượn rượu để gây bạo lực gia đình.
Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình tiếp theo là do kinh tế quá khó khăn (chiếm
85,71%). Không thể coi nghèo đói là yếu tố gây ra bạo lực gia đình, bởi vì có nhiều cặp
vợ chồng quanh năm nghèo đói nhưng vẫn sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, kinh
tế quá khó khăn, sự nghèo đói và bạo lực gia đình là 2 mặt của một vấn đề. Trong nhiều
trường hợp do sự nghèo đói nên đã không đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của các thành
viên trong gia đình (ăn, ở, học hành, đi lại ). Những khó khăn vất vả trong việc kiếm
tiền đè nặng lên cuộc sống gia đình, gây nên sự bực dọc khiến cho các mối quan hệ trong
gia đình luôn căng thẳng, gieo mầm cho bạo lực gia đình. Sự nghèo đói làm nảy sinh bạo
lực gia đình thì ngược lại, chính bạo lực gia đình lại tăng thêm sự nghèo đói. Sự căng
thẳng thường xuyên trong gia đình gây sức ép nặng nề làm các thành viên gia đình
38.5
35.4
27.9
61.5
64.6
72.1
0
20
40
60
80
100
120
V ợ hơ n chồng B ằng nhau Chồng hơ n vợ
S o s ánh thu nhập của vợ - c hồng
K hông c ó bạo lự c

vợ cố chấp, thách thức
chồng
Series1, Gây
chấn thương
giảm sức khỏe,
76.81, 54%
Series1, suy
nhược thần
kinh, 65.42,
46%
Gây chấn thương giảm
sức khỏe
suy nhược thần kinh
Xét tương quan giữa chênh lệch thu nhập vợ - chồng và mức độ mâu thuẫn
trong gia đình, kết quả thu được là: ở những gia đình vợ có thu nhập cao hơn
chồng thì thường xảy ra mâu thuẫn hơn. Ở mức độ ”thỉnh thoảng”, tỷ lệ có mâu
thuẫn ở gia đình mà vợ thu nhập hơn chồng là 29%, tỷ lệ này ở gia đình mà chồng
có thu nhập cao hơn là 18,5%. Khi hai vợ chồng có thu nhập bằng nhau, tỷ lệ gia
đình ”không bao giờ” có mâu thuẫn chiếm tới 56,1% trong khi đó, ở những hộ mà
vợ có thu nhập cao hơn, tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 42%.
Tương tự trường hợp mâu thuẫn gia đình, tỷ lệ xảy ra BLGĐ cũng đi theo chiều
hướng như vậy. Ở những gia đình có tình trạng thu nhập của vợ cao hơn, tỷ lệ xảy
ra BLGĐ cũng cao hơn (chiếm 38,5%), trong khi ở trường hợp chồng có thu nhập
cao hơn thì tỷ lệ này chỉ chiếm khoảng 28%
Điều này chỉ có thể giải thích do xuất phát từ tâm lý cho rằng người có ưu thế về
kinh tế sẽ là người có quyền quyết định mọi việc. Bởi vậy, nếu người vợ có thu
nhập cao hơn chồng thì quyền lực của người chồng trong gia đình có nguy cơ bị
lung lay. BLGĐ chính là cách để họ bảo vệ vị trí của mình trong gia đình, uy
quyền của mình đối với vợ con.
3. HẬU QUẢ CỦA BẠO LỰC GIA ĐÌNH

phía người vợ và những đứa con….
Theo một nghiên cứu khác tại Đà Nẵng cho biết :
Hậu quả đối với phụ nữ
Cũng theo trung tâm giám định pháp y thành phố Đà Nẵng, trong 4 năm (2002 - 2005)
có 1.680 phụ nữ và trẻ em bị bạo hành đến giám định pháp y, trong đó có 190 trường
hợp bị chồng đánh (chiếm 13,31%). Theo báo cáo của Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ
em thành phố Đà Nẵng, hiện nay nạn nhân của nạn bạo hành trong gia đình có 90% là
nữ giới. Trong số đó,45% bị chồng đánh đập, gần 80% bị sỉ nhục, đe doạ, hơn 70% bị bỏ
mặc,không quan tâm, gần 10% bị chồng cấm đoán tham gia các hoạt động xã hội và gần
20% bị chồng bắt ép mang, phá thai theo ý muốn.
Hậu quả đối với trẻ em
Những đứa trẻ ở trong gia đình thường xuyên có cảnh bạo lực sẽ có các di chứng như là
nhiễu tâm lý và trầm cảm, sự gây hấn, sự sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng. Theo số
liệu của Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em, 80% các em bỏ nhà đi lang thang hoặc phạm
pháp do cha mẹ mâu thuẫn. Các em khi bỏ nhà đi sẽ phải chịu những thiệt thòi như bị
bóc lột sức lao động, bị xua đuổi, không có chỗ ở ổn định, bị đánh đập hay đau ốm
không ai chăm sóc và có thể bị lạm dụng tình dục, bị nhiễm các thói hư tật xấu.
III. CÁC NHÂN TỐ CÓ QUAN HỆ ĐẾN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Nhằm tìm giải pháp hữu hiệu nhằm giảm tình trạng bạo lực, đề tài tiến hành
nghiên cứu nhân tố có liên quan đến bạo lực gia đình, cụ thể gồm những nhân tố sau
Khi xét một nghiên cứu của ĐH Đà Nẵng cho biết
1 Tôn giáo và tình trạng bạo lực gia đình
Bảng 1:
Mối quan hệ giữa tôn giáo và các hành vi bạo lực gia đình thường
Tôn giáo
Đạo Phật
Thiên Chúa
giáo
Không theo tôn
giáo

83
94
72
27
20
82
76
95
Tiến hành kiểm định Khi bình phương với H0: Các hành vi bạo lực không có mối tương
quan đối với tôn giáo. H1: Các hành vi bạo lực có mối tương quan đối với tôn giáo
Bảng2: Kiểm định Khi bình phương
Hành vi bạo lực thường xảy
ra
Value
Chi-square
18,534
df
4
Phớt lờ, thờ ơ, vô trách
nhiệm
Sig
0,005
So sánh các giá trị Sig của các hành vi với 0,05 chỉ có hành vi “Phớt lờ, thờ ơ, vô
trách nhiệm” có giá trị Sig = 0,005<0,05 còn lại tất cả các hành vi khác đều có giá trị Sig
> 0,05 => Bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Từ đó có thể kết luận rằng các
hành vi bạo lực thường xảy ra trong gia đình không có mối tương quan đối với tôn giáo
2 Nghề nghiệp và tình trạng bạo lực
Bảng 3:
Mối quan hệ giữa nghề nghiệp và các hành vi bạo lực gia đình thường gặp
Nghề nghiệp

4
4
10
10
12
15
13
12
3
1
12
12
16
23
27
21
3
1
23
16
27
30
51
31
25
3
34
37
46
26

31.6
43.9
16.5
3.8
4.6
0
38.5
46.8
7.3
2.8
00
71.4
0
28.6
0
00
30
60
10
0
3.1
3.8
36.5
39.3
12.6
4.7
0%
20%
40%
60%

Trung cấp
Cao đẳng,
Đại học
Số vụ
Số vụ
Số vụ
Số vụ
Đánh đấm, tát tai
Chửi mắng, nhục mạ, xỉ vả
Cấm tham gia các hoạt động xã
hội, quan hệ với mọi người Ngăn
chặn sử dụng các biện pháp tránh
thai
Bắt mang, phá thai theo ý muốn
Phớt lờ, thờ ơ, vô trách nhiệm
Kiểm soát thu nhập,chi tiêu
Không đóng góp vào kinh tế gia
đình
87
96
61
31
18
65
70
87
15
23
12
7

- Do tâm lý của người phụ nữ là cam chịu, che giấu cho chồng, không dám nói lên sự
thật
.5 Môi trường quản lý xã hội và bạo lực
Việc phòng chống bạo lực gia đình hiện chưa được quan tâm đúng mức, các biện
pháp được thể hiện trong bảng 2-6 chủ yếu chỉ mang tính giáo dục, không có hiệu quả
răn đe mạnh đối với người vi phạm
Hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta trong việc phòng chống bạo lực gia đình đủ cơ
sở pháp lý nhưng thiếu khả năng thực thi do những nguyên nhân
CHƯƠNG 4 : NỘI DUNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
I. BẠO LỰC THỂ CHẤT :
1. Về mặt sức khỏe và tính mạng :
Bạo lực thể chất gây ảnh hưởng hết sức to lớn đến sức khỏe và tính mạng của nạn
nhân bị bạo lực. Bị đánh đập hành hạ về mặt thể xác khiến cho nạn nhân suy giảm sức
khỏe mất khả năng lao động và có thể dẫn đến một số bệnh như tâm thần cũng như một
số thì tìm cách tự tử
Theo kết quả cuộc điều tra của Uỷ ban các vấn đề xã hội thực hiện tại 10 huyện
thuộc 8 tỉnh trên cả nước vào năm 2006, kết quả thu được cho thấy 10% số vụ bạo hành
gia đình dẫn đến những thương tích nặng gây tàn phế. giảm khả năng lao động, tử vong
do đánh đập, đầu độc hoặc sử dụng hung khí.•
Và chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 7 năm 2006 , trung
tâm tư vấn chăm sóc sức khỏe bênh viện Đa khoa Đức Giang đã tiếp gần 1.300 phụ nữ
đến kêu cứu trong tình trạng mặt mũi bị thâm tím , gãy tay, chân , răng , xương sườn do
chồng hoặc gia đình nhà chồng đánh đập
Theo báo cáo của sở y tế An Giang :
Trong năm 2005 trong số 1319 bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực gia đình thì có
1011 người có hành vi tự tự và 30 người trong số đó đã chết
Theo báo cáo của bộ công an thì cứ 2 -3 ngày có một vụ chết người liên quan đến bạo
lực gia đình . Khảo sát trong số 1113 người bị chết do 115 người chết vì bạo lực gia đình
:39 vụ chồng giết vợ và 8 vụ vợ giết chồng ( Ks: 23.8.06)
Theo thống kê của trung tâm tư vấn sức khỏe phụ nữ thì trong số phụ nữ là nạn

về kinh tế . Tôi đau khổ đủ rồi . Dù không còn gì tôi cũng quyết định ly hôn và sẽ cố
gắng nuôi cọn một mình “
Còn rất nhiều. Tình trạng bạo hành vẫn cứ diễn ra và từ đó tình trạng ly hôn cũng đang
ngày càng gia tăng
3. Sự thay đổi vị thế giữa nam và nữ
Ngày nay thực tế nhiều trường hợp phụ nư kiếm được nhiều tiến hơn chồng nhưng vẫn
bị chồng đánh . Sở dĩ có tình trạng như vậy là có các ông chồng cảm thấy địa vị trụ cột
làm chủ gia đình của mình đang bị đe dọa
Theo nghiên cứu của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thì những trường hợp này
chiềm 72% trong só những vụ xung đột gia đình
Bạo lực thể chất không chỉ là hình thức , hành vi đánh đập gây thương tích cho
nạn nhân mà bên cành đó còn có những hành thức khác như cấm đoán việc ăn . ngủ ,
mặc quần áo. khiến sức khỏe nạn nhân bị suy kiện thậm chí dẫn đến tử vong
Tại Bắc Giang , chồng ép vợ cởi quần áo, nhốt vào chuồng chó và gọi mẹ vợ sang
chứng kiến .Khiến cho nạn nhân không chỉ chịu hành hạ về mặt thể xác mà gây ra nhưng
đau đớn về mặt tinh thần
* Trẻ em cũng là đối tượng phải chiuk những bạo lực về thể chất như bắt nhịn ăn
bị phạt đánh đòn chỉ vì điểm kém hoặc không nghe lời cha mẹ . Hoặc cha mẹ có những
hành động suy nghĩ sai lếch trong việc giáo dục con cái lạm dụng quyền cha mẹ để thực
hiện những hành vi tàn bạo đối với con cái mình
Hiện nay dư luận đang bức xúc vụ người mẹ cắt ngon tay đưa con 3 tuổi của
mình chỉ vì em đã nghịch tờ tiền, cắt ngón chân em vì em trèo lên cây bị ngã
Những người già trong gia đình cũng là đối tượng bị bạo lực về thể chất. Việc con
cái đánh cha mẹ thậm chí bỏ đói , không chăm sóc khi cha mẹ ốm đau bệnh tật , đói rét
cũng là hành vi gây tổn hại nặng nề về sức khỏe cũng như tinh thần
Một nghiên cứu khác năm 2009 của hoạt động của “Chương trình chung giữa
Chính phủ và Liên hiệp quốc về Bình đẳng giới” (MDGF-1694). Cho thấy rằng : có
32% phụ nữ đã từng kết hôn cho biết họ đã phải hứng chịu bạo lực thể xác trong đời
và 6% đã từng trải qua bạo lực thể xác trong vòng 12 tháng trở lại đây .
Tỷ lệ bị bạo lực hiện thời và trong đời trên cả nước lần lượt là 34% và 9%. Trong

người khác", bà Nguyễn Thị Tâm, giám đốc Hồn Việt, cho biết.
Hình 9: Bạo hành của người vợ với người chồng trong gia đình tri thức
vợ doanh nhân bị
bạo hành tinh thần,
87, 33%
vợ trí thức , 87,
33%
vợ nhà quản lý , 91,
34%
vợ doanh nhân bị bạo hành tinh
thần
vợ trí thức
vợ nhà quản lý
Đời tư của con người vì thế không chỉ là chuyện riêng của mỗi cá nhân. Trong
đời tư của con người hiện đại, một trong những vấn nạn mang tính thời đại là tình trạng
bạo lực gia đình. Chúng ta đều biết rằng, có một nghìn lẻ một cách biểu hiện tình yêu đối
với nhau. Thế nhưng, có lẽ còn tồn tại nhiều hơn thế những cách hành hạ nhau, không
chỉ bằng hành động "vũ phu" hay "vũ phụ" mà cả bằng những lời nói "ngọt lọt tới
xương", đặc biệt ở trong môi trường gia đình
Đau thể xác lắm khi còn dễ khắc phục hơn nhiều so với những nỗi đau tinh thần.
Không ngẫu nhiên mà trong "Báo cáo nghiên cứu, khảo sát bạo lực gia đình tại một số
tỉnh, thành phố" năm 2006 của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội vừa được công bố
trong tháng 3 này tại ''Hội nghị đại biểu về các vấn đề dân cử về phòng, chống bạo lực
gia đình và phòng chống HIV/AIDS'', tổ chức ở Vĩnh Long, vấn đề bạo lực tinh thần đã
được chú trọng cao độ, nhất là tình trạng "khẩu chiến".
Trong những cuộc điều tra xã hội đã được tiến hành, đa số người dân đều cho
rằng bạo hành tinh thần là chửi mắng, sử dụng ngôn ngữ để xúc phạm nhân phẩm người
khác. Thực ra thì bạo hành tinh thần còn bộc lộ ở nhiều hành vi khác như: cấm đoán, cô
lập không cho tiếp xúc với người khác; quấy rối và gây áp lực một cách thường xuyên
về tâm lý

trẻ
Một Cuộc khảo sát được Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội đưa ra tại
cuộc Hội thảo “Vai trò của nữ nghị sĩ trong việc thúc đẩy các biện pháp phòng, chống
bạo lực gia đình” vừa diễn ra tại TP.Huế.
Theo Uỷ ban này, qua phỏng vấn 2.000 người tại 8 tỉnh, TP, cho thấy hàng năm
có hơn 1/4 gia đình có hành vi bạo hành tinh thần.
Tại ĐBSCL, số bệnh nhân là nạn nhân hoặc có dấu hiệu là nạn nhân bạo lực gia đình đã
điều trị hàng năm là gần 1500 người/năm, trong số đó gần 1200 người tự tử và 300
người bị giết. Ở Tây Nguyên có tỷ lệ gần 800/50 người tự tử/ bị giết.
Đặc biệt, trong tổng số hơn 1000 vụ giết người hàng năm, số liên quan đến bạo
lực gia đình chiếm 14%.
III.BẠO LỰC TÌNH DỤC
Nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy, cứ 4 phụ nữ có một
người phải chịu bạo lực tình dục ít nhất một lần trong đời, do chính chồng hay bạn tình
của mình gây ra.
Với quan niệm của người Á Đông, nhất là người Việt Nam không ai mang
chuyện "phòng the" ra trước ánh sáng, nhưng kết quả nghiên cứu của WHO đưa ra khiến
chúng ta phải suy nghĩ.
Theo UNICEF, cứ 100 trẻ em được hỏi thì có 3 em đã bị hiếp dâm hoặc chịu hình
thức xâm hại khác khi còn nhỏ và 2 trong số đó bị ép buộc 1 lần hoặc vài lần. Trong số
những trường hợp này, cứ 100 người thì có hơn 9 người gây ra hành vi lạm dụng tình
dục được xác định là họ hàng, hơn 1 là cha, cha dượng hoặc người tình của mẹ.
Cũng theo số liệu điều tra, bạo lực tình dục chiếm khoảng 10-69% tổng số các vụ bạo
lực gia đình.
Theo số liệu của Bộ Y tế, 1/3 người nhiễm HIV đang là phụ nữ và tình dục -
BLTD được xác định là ngòi nổ gây ra căn bệnh AIDS đối với phụ nữ, bởi có đến 70%
số ca lây nhiễm qua con đường này. BLTD làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV của phụ nữ
qua việc cưỡng ép tình dục, không cho phụ nữ sử dụng bao cao su, chồng đi quan hệ
“bên ngoài” rồi về lây bệnh cho vợ, cố tình lây cho bạn đời để cùng chết!
Trong quá trình đi khảo sát, hiếm hoi lắm các chuyên gia nghiên cứu mới có thể

nữ phải chịu bạo lực tình dục; 54% phụ nữ phải hứng chịu bạo lực tinh thần, và 9% đối
với hình thức bạo lực kinh tế.
Đặc biệt, những người phụ nữ mang thai cũng có nguy cơ bị bạo hành do người
chồng gây ra.
"Trong đó, chỉ có 1% phụ nữ bị bạo hành tìm đến các sự trợ giúp của xã hội, đây là một
tỉ lệ quá ít.", ông Nguyễn Phong, Vụ trưởng vụ Thống kê Xã hội, Môi trường – Tổng cục
Thống kê đánh giá.
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
Trung
du và
miền
Bắc
Trung
Bộ và
Đông
Nam Bộ
Việt
Nam
Thể xác Tình dục Thể xác hoặc tình dục
CHƯƠNG 5:
1. NHẬN THỨC , QUAN ĐIỂM , THÁI ĐỘ VÀ CAN THIỆP ĐỐI VỚI BLGD

tìm đến sự can thiệp của bạn bè, người có uy tín. Khi tâm sự riêng với phụ nữ bị bạo lực
(đánh, chửi), có 55% các chị nói khi bị đánh thì chạy sang nhà hàng xóm, 32,5% về nhà
mẹ đẻ, 12,5% ngồi khóc.
Lý do chị em tìm đến sự can thiệp, giúp đỡ là mong chồng được phân tích phải trái,
đúng sai, giúp cho chồng hiểu để thay đổi hành vi từ đó giữ vững hạnh phúc gia đình.
Phụ nữ bị bạo lực tìm đến sự giúp đỡ của chính quyền, tổ hòa giải khi hạnh phúc
gia đình có nguy cơ bị tan vỡ (chiếm 35,93% người được phỏng vấn trả lời); khi bị bạo
lực nhiều lần ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe (chiếm 43,98% người được phỏng vấn
trả lời).
Phụ nữ bị bạo lực đưa vụ việc ra tòa khi không còn hy vọng cứu vãn hạnh phúc
gia đình và có ý định ly hôn (chiếm 59,26 người được phỏng vấn trả lời). Khi hạnh phúc
gia đình còn có thể hàn gắn được, vì danh dự gia đình, vì con cái thì vụ việc không được
đưa ra tòa.
Về thái độ của cộng đồng đối với vấn đề bạo lực gia đình thì hầu hết là chê trách
cả vợ và chồng, song có tới 60,83% lên án người chồng, 16,57% lên án người vợ nhưng
điều đáng để chúng ta lưu tâm là có 13,94% người được hỏi cho rằng đó là vấn đề riêng
của các gia đình nên không quan tâm và nếu có quan tâm nhiều khi lại bị gây phiền
phức.
4.2. Sự can thiệp của chính quyền, đoàn thể, gia đình, cộng đồng đối với các vụ bạo
lực gia đình.
Vai trò của các tổ chức, cá nhân nêu trên là rất quan trọng đặc biệt là : Công an xã,
tổ hoà giải, trưởng thôn, cán bộ các đoàn thể, những người có uy tín trong cộng đồng
dân cư và gia đình 2 bên đều có vai trò rất quan trọng trong việc can thiệp các vụ bạo lực
gia đình, cần tổ chức như thế nào để phát huy tốt vai trò của các tổ chức, cá nhân trên
trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, kết quả nghiên cứu này rất có ý nghĩa
trong việc đề ra giải pháp phòng chống bạo lực gia đình ở cơ sở.
Để giảm nạn bạo lực gia đình thì việc ngăn ngừa bạo lực xẩy ra là chính, do đó
công tác tuyên truyền tư vấn cho các thành viên gia đình để giảm đi những bất đồng,
mâu thuẫn và hành vi bạo lực ở mức độ chưa trầm trọng là rất cần thiết. Tuy nhiên từ kết
quả nghiên cứu thì sự can thiệp của các tổ chức nêu trên chủ yếu đối với các vụ bạo lực

được các tổ chức, cá nhân trên can thiệp thì bạo lực gia đình sẽ giảm đi (chiếm 94,63% ý
kiến ). Ngoài ra các quy định như Gia đình văn hóa, hương ước của thôn, quy định của
dòng họ cũng góp phần đáng kể vào việc làm hạn chế bạo lực gia đình Nghiên cứu về
”Giải pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ” của tác giả Lê Thị Thu
(PCT Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2000) cho thấy: theo trả lời của bản thân những
người trong gia đình có xảy ra bạo lực thì gia đình hai bên, bà con hàng xóm là những
người can thiệp giúp đỡ nhiều nhất khi xảy ra vụ việc chồng đánh vợ. Trong khi đó, tỷ lệ
những vụ BLGĐ được chính quyền và công an can thiệp là rất thấp
Hình 11 : Sự can thiệp với BLGĐ
Gia đình nhà
chồng, 49.5, 29%
Ga đình nhà vợ,
17.7, 10%
Hội phụ nữ, 36.3,
21%
Bà con lối xóm,
62.7, 37%
Ban hòa giải, 4.5,
3%
Gia đình nhà chồng Ga đình nhà vợ Hội phụ nữ Bà con lối xóm Ban hòa giải
Theo khảo sát của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2001), tỷ lệ các ý kiến coi
các hành vi bạo lực có thể chấp nhận được trong gia đình như sau: mắng chửi (45% nữ
và 45,1% nam); bỏ lửng (9,9% nữ và 11,7% nam); tát (7,9% nữ và 8,4% nam); xỉ vả
(4,6% nữ và 6,2% nam); cấm đoán quan hệ với mọi người (3,8% nữ và 4,3% nam). Mặc
dù chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng tỷ lệ nam nữ chấp nhận đấm đá hay đánh bằng roi, gậy và
cưỡng ép quan hệ tình dục vẫn còn. Cũng trong cuộc khảo sát này, một tỷ lệ khá lớn ý
kiến chấp nhận các hành vi bạo lực của chồng đối với vợ trong cuộc sống gia đình (đánh
hoặc mắng chửi) nếu vợ mắc một số lỗi được đưa ra:
Chồng có thể đánh vợ khi vợ có hành vi: ”quan hệ lăng nhăng” (30,7%); ”cờ bạc/nghiện
hút” (22%); ”hỗn láo” (15%)

của địa phương. Giao trách nhiệm cho các cán bộ y tế có trách nhiệm chữa trị vết thương
cho nạn nhân, các cán bộ y tế không được có thái độ kỳ thị, gây khó khăn đối với nạn
nhân bị bạo lực gia đình.
4. Áp dụng các biện pháp giáo dục tại cộng đồng dân cư. tổ chức họp, phê bình, góp
ý đối tượng gây bạo lực gia đình. Đối tượng bị góp ý, phê bình là người từ đủ 16 tuổi
trở lên có hành vi bạo lực gia đình đã được tổ hòa giải ở cơ sở hòa giải nhiều lần mà vẫn
tiếp tục có hành vi bạo lực. Xử lý nghiêm người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng
chống bạo lực gia đình, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành
chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi
thường theo luật định.
5. Tích cực triển khai hiệu quả các phong trào thi đua tại địa phương.Tiếp tục vận
động hội viên phụ nữ và nhân dân thực hiện tốt các phong trào thi đua như "Phong trào
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; "Phong trào phụ nữ tích
cực học tập. lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc", đưa vấn đề phòng chống
bạo lực gia đình vào Quy ước, Hương ước của địa phương. Tuyên truyền vận động hội
viên phụ tích cực xây dựng gia đình đạt 4 chuẩn mực no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc và gia đình văn hóa. Trong triển khai thực hiện cần tổ chức sơ tổng kết, đánh giá
kết quả, tuyên truyền khen thưởng biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân điển hình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status