VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – VẤN
ĐỀ CƠ BẢN NHẤT CỦA TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật tố tụng dân sự (TTDS) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải
quyết các vụ việc dân sự. Là luật hình thức độc lập mang tính tổng hợp của nhiều ngành
luật nội dung khác nhau như: Luật Dân Sự, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Thương
Mại, Luật Lao Động… Nhưng những luật nội dung này đều mang những đặc trưng cơ bản
của Luật Dân Sự như tính bình đẳng, tự quyết và thoả thuận giữa các bên… đòi hỏi Luật tố
tụng dân sự cũng phải thể hiện được bản chất tương ứng trong việc đánh giá và xác định
vai trò quan trọng của các đương sự, đặt họ vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình giải
quyết các vụ việc dân sự. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc
cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra trong
giai đoạn hiện nay.
Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có phán quyết giải
quyết hoặc chấm dứt (bãi nại) tranh chấp. Trong đó, hoạt động chứng minh là hoạt động cơ
bản, trước tiên và quan trọng nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới. Hoạt
động này là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như là căn
cứ để toà án đưa ra các phán quyết của mình. Có thể nói mục đích của hoạt động tố tụng là
chứng minh và bản án, quyết định của toà án chính là kết quả cuối cùng của quá trình
chứng minh đó.
Kế thừa có chọn lọc các quy của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989),
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động (1996) không thể phủ nhận về tính hoàn thiện và phát triển đúng đắn
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Mặc dù vậy, là một ngành luật còn non trẻ, kinh
nghiệm lập pháp còn thiếu trong khi các quan hệ xã hội lại phát sinh và thay đổi một cách
nhanh chóng nên qua một thời gian áp dụng Bộ luật đã bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý nói
chung và cách nhìn nhận về vai trò, vị trí của đương sự trong hoạt động chứng minh nói
riêng. Một mặt không phản ánh được đúng đắn bản chất của tố tụng dân sự, không phát
huy được vai trò chủ động và tích cực của đương sự trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích
(bao gồm yêu cầu về việc dân sự và vụ án dân sự )
Để làm nền tảng cho việc đánh giá, nhận xét được khách quan, đề tài tìm hiểu các quy định
của hoạt động tố tụng về lĩnh vực dân sự của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, đối chiếu,
so sánh các quy định trong luật tố tụng của một số nước có nền lập pháp tiên tiến trên thế
giới trong cùng lĩnh vực.
Khảo sát những số liệu thực tế nhằm bổ trợ cho những vấn đề lý luận.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi xây dựng, phân tích những khái niệm cơ bản như tố tụng dân sự, đương sự, đặc
điểm, bản chất của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự… từ đó, chỉ rõ vai trò quan
trọng, trung tâm của đương sự trong hoạt động này dựa trên sự so sánh, đối chiếu với các
chủ thể khác của hoạt động chứng minh. Phân tích rõ những tác động của xu thế thời đại
ảnh hưởng đến vai trò chứng minh của đương, đồng thời đưa ra những luận điểm để giải
thích về vai trò quan trọng nhất của đương sự.
Đề tài hướng đến giải quyết tính thực tế của vấn đề. Sau khi xây dựng và đánh giá về vấn
đề lý luận chung, chỉ rõ vai trò chứng minh của đương sự là quan trọng nhất và ngày càng
quan trọng hơn, khái quát những mặt được và những mặt hạn chế của Bộ luật tố tụng dân
sự 2004 đã mạnh dạn đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao nhận thức về vai trò
của đương sự cũng như tạo cơ chế để họ có thể thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ chứng
minh của mình, giảm gánh nặng cho hệ thống tòa án.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp
phân tích, so sánh, quy nạp, thống kê…
5. Tình hình nghiên cứu
Pháp luật tố tụng liên quan đến việc giải quyết các vấn đề dân sự đã được xây dựng và áp
dụng từ lâu nhưng mới chính thức được pháp điển hóa một cách có hệ thống và đồng bộ
trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 nên các đề tài nghiên cứu còn rất hạn chế. Những
bài viết, công trình mang tính toàn diện và có hệ thống trước đây như “Chứng cứ và hoạt
động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ của Vũ Trọng Hiếu
(1998), “Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự” –
niệm cơ bản như: tố tụng dân sự, đương sự, hoạt động chứng minh… chỉ rõ nghĩa vụ
chứng minh của đương sự là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự cũng như khái lược
một số nét cơ bản về quy định của pháp luật qua từng thời kỳ về vai trò chứng minh của
đương sự.
Phần thứ hai với tiêu mục là “Xác định vai trò chứng minh của đương sự – một vấn đề cơ
bản nhất của tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay” là nội dung chính của đề tài. Tác giả đi
vào giải quyết các vấn đề liên quan để chỉ rõ vai trò chứng minh của đương sự là quan
trọng nhất trong sự so sánh với các chủ thể khác của họat động chứng minh, khẳng định
vai trò này ngày càng quan trọng hơn trong bối cảnh hiện nay.
Phần thứ ba, sau khi đi nghiên cứu một cách toàn diện và chặt chẽ các vấn đề lý luận ở hai
phần trên, tác giả đi vào phân tích những bất cập, tồn tại của Bộ luật TTDS hiện hành và
đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục, giải quyết, hiện thực hóa những quy định của
pháp luật còn chưa có cơ chế cụ thể đảm bảo.
1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA
ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Tố tụng dân sự
Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án và thi hành án
được giải thích là “tố tụng dân sự”[2]. Tuy nhiên, cần xem xét một cách chính xác hơn về
cụm từ được sử dụng lâu đời và có nhiều tranh luận này mới có thể đặt nền tảng nghiên
cứu các vấn đề liên quan trong đó. Được ghép từ danh từ “tố tụng” là kiện thưa tại tòa án
nói chung[3] có gốc từ tiếng la tinh procedere có nghĩa là tiến bước, gợi nên một cách thức
cần thiết phải thực hiện để đạt được mục đích, “tố tụng” thường được sử dụng một cách
lẫn lộn với danh từ “thủ tục” bởi tính chất định trước buộc phải tuân theo trong một việc
nhất định. Mặc dù cũng dùng để chỉ định một cách thức tiến hành bắt buộc nhưng danh từ
“thủ tục” bao hàm trong đó nghĩa rộng hơn trên nhiều mặt vượt ra ngoài nghĩa của trình tự
giải quyết vụ việc tại tòa án (như thủ tục nhập học, thủ tục đi xuất khẩu lao động…). Tố
tụng khác biệt với thủ tục ở chỗ nó được dùng một cách triệt để và chỉ xuất hiện ở trong
các trình tự tại cơ quan tư pháp đồng thời gợi ra một cách nhìn nhận trong đó có sự tranh
tụng – mâu thẫn yêu cầu tài phán. Trong một thời gian dài của quá trình phát triển, danh từ
một ngành luật thực định của đông đảo quần chúng. Vì vậy, cần thiết phải định nghĩa rõ
ràng dựa trên sự thừa nhận chính thức về vị trí và vai trò của ngành luật trong hệ thống
pháp luật.
Thứ hai, việc định nghĩa với cụm từ “tố tụng dân sự” một mặt phản ánh được tính chất
“nệ thức” – phụ thuộc yếu tố hình thức, thủ tục trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự
bảo đảm hạn chế tính độc đoán của các thẩm phán cũng như giúp các chủ thể tham gia có
thể bảo vệ được mình thông qua những quy định mang tính chất thủ tục. Mặt khác phản
ánh được đối tượng điều chỉnh về mặt nội dung của ngành luật hình thức tổng hợp này là
các ngành luật mang yếu tố “riêng tư” giữa các bên không có sự tham gia của nhà nước ở
một bên chủ thể tranh chấp và gợi được tính tranh tụng, đối lập một cách bình đẳng giữa
các bên đương sự.
Thứ ba, hiệu quả mang lại từ tố tụng không phải là ở việc tạo ra nhiều thủ tục khác nhau
mà nằm ở việc giải quyết nhanh chóng, chính xác, khách quan vụ việc, giảm thiểu được
gánh nặng về cơ cấu, tổ chức cũng như trong cách thức áp dụng pháp luật. Khi các đối
tượng điều chỉnh là thống nhất về mặt bản chất thì có thể quy nạp chúng về một thủ tục
chung để giải quyết không cần thiết phải có nhiều thủ tục khác nhau. Hiệu quả của tố tụng
dân sự trong những năm qua đã minh chứng cụ thể cho điều đó.
Như vây, tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới góc độ pháp lý là một ngành luật tố tụng cụ
thể còn dưới góc độ thực tiễn là những hình thức thực tiễn do các chủ thể tham gia vào quá
trình tố tụng tiến hành.
Dưới góc độ pháp lý:
Tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều
chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc về dân sự, hôn
nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại tòa án đảm bảo sự nhanh chóng,
chính xác trong quá trình giải quyết và thi hành án, đặt ra các chế tài bảo vệ quyền
lợi của nhà nước, của công dân.
Dưới góc độ thực tiễn:
Tố tụng dân sự là một quy trình, thủ tục do pháp luật quy định buộc mọi chủ thể tiến
hành và tham gia tố tụng phải tuân theo nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ
án dân sự và thi hành án, bảo vệ quyền lợi của nhà nước và của công dân.
có thể là cơ quan, tổ chức (khi cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi
ích nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách). Luật tố tụng dân sự có quy định về trường
hợp các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân khác thì có các quyền và nghĩa vụ như đương sự nhưng những cơ
quan tổ chức này không được coi là đương sự trong vụ án bởi họ không liên quan trực tiếp
đến vụ án. những chủ thể này khởi kiện bởi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật trao cho,
các quyền và lợi ích của họ không phát sinh từ chính bản án do họ khởi kiện.
Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án
nhưng dù là ai thì họ phải có năng lực hành vi và năng lực tố tụng. Trong trường hợp
không có hoặc có nhưng không đầy đủ thì họ phải thực hiện thông qua người đại diện hợp
pháp của mình (Điều 57 – BLTTDS 2004)
Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức đi kiện hoặc được cơ quan tổ chức khởi
kiện để bảo vệ quyền lợi công cộng. Nguyên đơn tham gia tố tụng với sự chủ động cao thể
hiện ở việc họ có thể lựa chọn thời điểm khởi đầu vụ án dân sự (thời điểm khởi kiện), giới
hạn phạm vi xét xử của tòa án thông qua đơn khởi kiện vì “tòa án chỉ giải quyết trong
phạm vi đơn khởi kiện”(Điều 5 BLTTDS) (mặc dù sau này còn có thể có yêu cầu phản tố
của bị đơn hoặc yêu cầu của những người có quyền lợi liên quan nhưng những yêu cầu này
phải có quan hệ gần gũi với việc khởi kiện ban đầu), có quyền lựa chọn tòa án trong một số
trường hợp (Điều 36 BLTTDS). Nguyên đơn là người cho rằng quyền và lợi ích của mình,
của xã hội đang bị xâm phạm, thông thường họ là một phần trong quan hệ pháp luật nội
dung đang tranh chấp.
Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bị kiện. Trong tranh chấp, họ bị suy đoán là đã
có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc của xã hội. Bị
đơn tham gia tố tụng một cách bị động, tư cách của họ chỉ được xác lập sau khi nguyên
đơn xác định tư cách của mình, họ có thể nới rộng phạm vi giải quyết vụ kiện nhưng vẫn bị
phụ thuộc vào đơn khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.
Đương sự thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đây không phải là
một bên trong quan hệ pháp luật nội dung nhưng quyền hay nghĩa vụ của họ phát sinh khi
có tranh chấp sảy ra. Do vậy, họ bị lôi kéo vào vụ kiện, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền
và lợi ích của mình. Họ có thể có yêu cầu độc lập (không phụ thuộc vào yêu cầu của
đến kết luận cuối cùng. Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tư duy, móc nối các sự
kiện đó chính là chứng minh. Chứng minh được hiểu “là làm cho thấy rõ là có thật, là
đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ”[12]. Quá trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi
mặt của đời sống xã hội và nó là động lực cho sự phát triển, khám phá tìm tòi.
Hoạt động chứng minh trong TTDS là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung
nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh
bởi luật tố tụng dân sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền,
nghĩa vụ cụ thể và kết quả của hoạt động này sẽ là một bản án, quyết định của tòa án mang
tính chất bắt buộc áp dụng. Nó là công cụ để tòa án có thể nhận thức được chính xác sự
việc đã sảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết các tranh chấp phát
sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan. Đối với các đương sự, chứng minh
là phương tiện duy nhất để họ có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình. Khi vụ
việc dân sự được tòa án thụ lý và giải quyết cũng đồng nghĩa với việc bên nguyên đơn cho
rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, bên bị đơn không thừa nhận các quyền và lợi
ích đó của nguyên đơn nên yêu cầu tòa án phân xử. Trong quá trình tố tụng có thể phát
sinh nhiều chủ thể khác, khi họ đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì họ cũng có nghĩa
vụ chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình là đúng, là có thật. Toàn bộ
quá trình giải quyết vụ việc dân sự là chứng minh giả thuyết do các bên đưa ra.
Cho dù giả
thuyết đó có được công nhận là đúng, là có thật hay không thì toàn bộ quá trình đó vẫn
được coi là hoạt động chứng minh.
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động của tòa
án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập,
nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình
và phán quyết của tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật.
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự có ba đặc điểm cơ bản:
- Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn ra suyên suốt
vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi tòa án ra
phán quyết. Khởi đầu là việc chứng minh của nguyên đơn cho yêu cầu của mình thông qua
là cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và triệt để của giai đoạn trước. Phải có hoạt động thu
thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và kết
quả của họat động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ vụ án
dân sự, nhận thức này có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ
thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ và đúng hay không. Bốn giai đoạn
này kéo dài, nối tiếp và đan xen nhau, không thể tách bạch cơ học từ thời điểm nào đến
thời điểm nào là giai đoạn cung cấp, thu thập, nghiên cứu hay đánh giá chứng cứ. Nhưng
có thể nhận thấy rằng những giai đoạn này kéo dài suyên suốt quá trình giải quyết vụ án
dân sự, nó chỉ kết thúc khi tòa án ra phán quyết. Mặc dù có thể tòa án cấp dưới đã ra quyết
định giải quyết vụ án nhưng bản án này lại được giải quyết tiếp theo trình tự phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm thì lại phát sinh hoạt động chứng minh mới độc lập với hoạt động
chứng minh trước đây.
- Chủ thể của hoạt động chứng minh rất đa dạng
Như đã phân tích ở trên, chứng minh là làm cho rõ là đúng, là có thật. Trong một vụ án cụ
thể có rất nhiều ý kiến cần phải được chứng minh là đúng, là có thật đồng nghĩa với việc
chủ thể thực hiện hoạt động chứng minh là đa dạng. Nguyên đơn chứng minh cho yêu cầu
của mình, bị đơn chứng minh cho bác yêu cầu, yêu cầu phản tố (nếu có) tòa án chứng minh
cho phán quyết của mình, Viện kiểm sát chứng minh cho kháng nghị phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm của mình… Ngoài ra, khi đương sự không đủ khả năng tham gia tố tụng
hoặc không hiểu biết về pháp luật, không có kinh nghiệm tố tụng họ có thể nhờ người khác
thay mình tham gia tố tụng từ đó phát sinh ra các chủ thể khác tham gia tố tụng như người
đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… họ có quyền và nghĩa vụ
không giống nhau xuất phát từ vị trí tố tụng cũng như thỏa thuận giữa họ và đương sự
nhưng đây cũng là những chủ thể của họat động chứng minh.
1.2 Nghĩa vụ chứng minh của đương sự – một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân
sự
Thuật ngữ nguyên tắc (principium ) được sử dụng lần đầu dưới thời La Mã cổ đại là có
nghĩa là cơ sở, cốt lõi nền tảng. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc “là những quy
định, phép tắc, tiêu chuẩn làm chỗ dựa để xem xét, làm việc”[13]. Khi thực hiện một công
việc nhất định cần tuân thủ một cách triệt để các nguyên tắc thì mới có thể đạt được những
đối với mỗi vụ án cụ thể. Từ việc điều tra, thu thập chứng cứ tòa án sẽ phân tích, đánh giá
và quyết định. Chính vì vậy mà trong một thời gian dài vai trò chứng minh của đương sự
trong việc giải quyết vụ án dân sự không được quan tâm và đề cao.
Khắc phục những hạn chế trước đây và phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện tại, Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2004 đã bỏ đi hẳn phần điều tra trong tố tụng dân sự, quy định nghĩa vụ
chứng minh của đương sự thành một nguyên tắc và cụ thể hóa tại điều 79 – BLTTDS:
“1. Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối
đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh
3. Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc
yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ
để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.”
Nội dung nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự được thể hiện ở hai mặt:
Thứ nhất, nghĩa vụ là việc phải làm. Đương sự có nghĩa vụ chứng minh có nghĩa là đương
sự phải thực hiện hoạt động chứng minh. Điều này không có nghĩa là tất cả các đương sự
đều phải thực hiện hoạt động chứng minh. Như khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ
quyền, lợi ích của cá nhân khác thì tư cách đương sự thuộc về người được khởi kiện nhưng
họ không bắt buộc phải chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình là có căn cứ
mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan, tổ chức đã khởi kiện, bị đơn cũng không bắt
buộc phải chứng minh… nghĩa vụ chứng minh nói một cách tổng quát nhất là thuộc về
phía đương sự đã đưa ra yêu cầu. Thuật ngữ “yêu cầu” ở đây đã được sử dụng theo nghĩa
rộng bao gồm cả yêu cầu về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là
không đúng, không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng
minh. Nội dung đối tượng chứng minh thuộc về phía đương sự bao gồm thỉnh cầu và
kháng biện. Trong thỉnh cầu có thỉnh cầu ban đầu (đơn khởi tố), thỉnh cầu bổ xung (bổ
xung yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ việc), thỉnh cầu phản tố (đòi hỏi công nhận lợi
ích của bị đơn) và thỉnh cầu dự sự (đòi hỏi của người thứ ba về việc tham gia vụ án).
Kháng biện bao gồm kháng biện về nội dung (là sự phủ nhận của bị đơn), khước biện (bị
đơn cho rằng không đúng thủ tục) và kháng chấp (bị đơn cho rằng nguyên đơn không có
công khai, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật… Hệ thống thứ hai bao gồm những nguyên tắc thể hiện vị trí tố tụng của các chủ
thể tham gia như nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, nguyên
tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc hòa giải… Các nguyên tắc có mối
quan hệ hữu cơ với nhau trong đó nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự là
nguyên tắc cơ bản nhất. Chỉ khi đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình thì mới
xuất hiện các nguyên tắc tố tụng khác. Đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh
thông qua việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp thì mới là một trong những điều kiện để tòa án tiến hành thụ lý đơn khởi kiện – thời
điểm bắt đầu của hoạt động tố tụng dân sự. Không thể có một đơn khởi kiện nào được thụ
lý mà không có chứng cứ để chứng minh (Điều 164). Các nguyên tắc khác theo đó mới có
thể phát sinh và áp dụng.
1.3 Sơ lược quy định về vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự qua
từng thời kỳ
Luật pháp là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng được hình thành trên cơ sở hạ tầng
xã hội tương ứng. Pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu nhất để giai cấp thống trị thực hiện
quyền làm chủ của mình, định hướng và duy trì sự ổn định xã hội. Vì vậy, qua từng thời kỳ
lịch sử khác nhau với sự hình thành, tồn tại và suy vong của nhiều chế độ chính trị, bản
chất của nhà nước là khác nhau nên các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của
người dân nói chung và quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong hoạt động tố tụng
dân sự nói riêng cũng không giống nhau.
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1945
Năm 1884, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta, chấm dứt thời kỳ xã hội Việt Nam
“thuần” phong kiến chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến. Chế độ phong kiến qua
đi nhưng vẫn để lại những dấu vết đậm nét về hoạt động lập pháp với nhiều bộ luật khác
nhau nhưng có quy mô và hoàn thiện nhất vào lúc bấy giờ phải kể đến ba bộ luật lớn là
Quốc Triều Hình Luật (nhà Lê thế kỷ XV), Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ (thế kỷ XV –
XVIII), Hoàng Việt Luật Lệ (luật Gia Long). Do mang ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng
phong kiến nên các bộ luật này mang tính chất hà khắc, vai trò của con người, của công
dân, của đương sự không được đề cao, thủ tục xét hỏi, thẩm vấn được quy định phổ biến,
tụng Bắc kỳ năm 1917, Bắc kỳ pháp viện biên chế năm 1921, Bộ luật dân sự, thương sự tố
tụng bắc kỳ năm 1921, và Bộ Hộ sự và thương sự Trung Kỳ năm 1942… Các bộ luật này
mang tư tưởng phong kiến và dựa trên khuôn mẫu của Bộ luật dân sự Pháp 1807. Trong
giai đoạn này, quyền con người, quyền công dân không được để ý đến các quy định tố tụng
chủ yếu là tạo điều kiện cho hoạt động bóc lột của thực dân nên vai trò chứng minh của
đương sự không được quan tâm nhằm duy trì sự bất bình đẳng. chỉ tồn tại vài quy định nhỏ
như “Về phương diện dẫn chứng… buộc bên đương sự nào nại ra phải có nghĩa vụ dẫn
chứng..” và “Các đương sự trong một vụ kiện phải dẫn chứng. Mỗi người muốn viện dẫn
một sự kiện hay một hành vi pháp lý phải chứng minh sự kiện, hành vi đó” [16]. Đây là
một quy định hiếm hoi có thể tiếp cận được bởi các văn bản thời kỳ này được viết hoàn
toàn bằng tiếng Pháp, không dịch ra chữ Quốc Ngữ cũng như không có các công trình
nghiên cứu chi tiết. Mặt khác, giai đoạn này sử dụng một cách đồng loạt các án lệ nơi tòa
án nên các quy tắc thành văn “chủ yếu vạch sẵn tỷ mỉ những lề lối phải theo như một
thông tư hành chính chứ ít có điều khoản chính xác định thức một nguyên tắc pháp lý tổng
quát” - mang tính chất thủ tục.[17]
Đồng thời với đó là việc duy trì hai hệ thống tòa án khác nhau với việc phân chia hai loại
đương sự khác nhau. Tòa án do Pháp lập xét xử các công dân của Pháp hoặc những người
được biệt đãi như người pháp, tòa án của Việt Nam xét xử những đương sự là người Việt
nhưng vẫn bị những nhà cầm quyền người Pháp thâu tóm và thống trị, Việt Nam trong giai
đoạn này “không có một nền tư pháp thuần túy bởi vì tất cả các quyền hành hư hay thực
đều do nhà cầm quyền Pháp nắm giữ”[18]. Giai đoạn này qua đi mà không có sự tiến bộ
nào của pháp luật tố tụng liên quan đến vai trò chứng minh của đương sự. [19]
1.3.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1989
Năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở khu vực
Đông Nam á được thành lập. Đánh dấu sự thay đổi toàn diện về mọi mặt trong đời sống xã
hội, trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng.
Ngày 10/10/1945 nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho tạm thời giữ các luật lệ
hiện hành của chế độ cũ mà không trái với bản chất của nhà nước cách mạng. Tuy nhiên,
sắc lệnh trên chỉ đề cập đến việc cho áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung của chế độ
cũ mà không không đề cập đến việc có cho tiếp tục áp dụng các quy định về hoạt động tố
và lời trình bày của họ không rõ ràng và đầy đủ, cho nên các tòa án phải tích cực giúp đỡ
cho các đương sự hiểu rõ những quyền lợi hợp pháp của họ để họ có thể đề xuất được
những yêu cầu và giúp cho họ biết đề xuất những chứng cứ để chứng minh.” Quy định này
đã đưa đương sự về vị trí trung tâm của hoạt động tố tụng, tòa án chỉ giải quyết trong phạm
vi đơn yêu cầu, giúp đỡ đương sự hiểu biết pháp luật và có thể đưa ra được những yêu cầu
chính đáng cũng như hỗ trợ họ thu thập chứng cứ để chứng minh.
Trong bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo thông tư số 96 –
NC/PL ngày 8/2/1977 của tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Để bảo vệ quyền lợi của
mình các đương sự có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ nhưng tòa án nhân dân không được
phép chỉ dựa vào lời khai của đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho
việc xét xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.” Mặc dù đương
sự có quyền đề xuất những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng tòa án với
vị trí của cơ quan xét xử không được thiên vị bất cứ bên nào mà phải xem xét một cách
toàn diện cũng như tìm mọi biện pháp để có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
bảo vệ quyền lợi của các bên.
1.3.3 Giai đoạn từ 1990 đến 2004
Năm 1989 được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
tiếp theo đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996. Đây là ba pháp lệnh tiền thân của bộ luật tố
tụng dân sự hiện nay, nó đã bước đầu khắc phục được tính chất tản mạn của các quy phạm
pháp luật, thu trình tự giải quyết vụ việc về những văn bản thống nhất và có giá trị cao.
Tuy nhiên, ba pháp lệnh này lại mang tính chất chung chung định hướng, các quy định còn
chưa thực sự rõ ràng, vẫn chưa thể thống nhất các vụ việc đân sự về một trình tự thủ tục
chung gây khó khăn cho đương sự và tòa án. Về vai trò chứng minh của đương sự trong
các vụ việc dân sự được quy định trong ba pháp lệnh này còn chưa nhiều và thiếu đi cơ chế
bảo đảm do vẫn tồn tại thủ tục điều tra giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án – hay nói cách
khác, trong giai đoạn này, vai trò chứng minh vẫn chủ yếu thuộc về tòa án.
Nghĩa vụ chứng minh của đương sự đã được quy định thành một nguyên tắc cụ thể
“Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình”
(Điều 3 PLTTGQVAKT) nguyên tắc này đã tạo cơ sở quan trọng để đương sự chủ động
có quyền tham gia phiên tòa, được quyền trình bày quan điểm của mình và nghe trình bày
của phía bên kia, được quyền đề xuất các câu hỏi thông qua hội đồng xét xử, được quyền
tranh luận tại phiên tòa[20]…Quá trình xét xử sơ thẩm kết thúc, đương sự có quyền kháng
cáo. Đơn kháng cáo phải ghi rõ nội dung kháng cáo và lý do. Các bên đương sự có quyền
cung cấp, bổ xung chứng cứ ở giai đoạn phúc thẩm, có quyền tham gia phiên tòa phúc
thẩm, nghe trình bày, tham gia hỏi, tranh luận như phiên tòa sơ thẩm[21]… tại thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm “Nếu tòa án đó triệu tập người tham gia tố tụng thì họ được trình bày ý
kiến trước khi kiểm sát viên trình bày ý kiến về kháng nghị” (khoản 3 Điều 76
PLTTGQCVADS)…
Nói tóm lại, Như tác giả Phan Hữu Thư đã nhận xét: “Các quy định của pháp lệnh thủ tục
giải quyết vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thiếu hoàn toàn các quy định về chứng cứ, quy trình
chứng minh, phân loại chứng cứ, phân định giá trị chứng minh của từng chứng cứ”[22].
Vấn đề chứng minh trong giai đoạn từ 1989 đến trước khi bộ luật TTDS 2004 có hiệu lực
còn có nhiều hạn chế do sự nhận thức chưa đúng đắn trên cơ sở của một nền kinh tế, xã hội
kém phát triển, các giao lưu dân sự còn đơn giản, tranh chấp diễn ra không nhiều với độ
phức tạp không cao. Với những hạn chế chung về chứng minh, ba pháp lệnh không đề cao
vai trò chứng minh của đương sự cũng như không tạo điều kiện để đương sự có thể thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình.
Tổng kết phần 1
Trong phần 1 tác giả đã đi vào nghiên cứu, xây dựng những khái niệm cơ bản nhất liên
quan đến hoạt động chứng minh của đương sự như khái niệm tố tụng dân sự, khái niệm
đương sự, khái niệm và đặc điểm của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự… làm cơ
sở cho việc nghiên cứu cụ thể về vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự. Có
thể thấy rằng tố tụng dân sự luôn bao gồm những trình tự thủ tục luật định nhằm giải quyết
những tranh chấp, bất đồng về các quan hệ pháp luật nội dung giữa những chủ thể tham
gia. Khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác bị xâm hại và
trong phạm vi quyền hạn pháp luật trao cho họ có thể thực hiện việc tự bảo vệ bằng một
trình tự tố tụng, trình tự này được gọi là tố tụng dân sự. Khi tự bảo vệ, đương sự không còn
cách nào khác ngoài việc thực hiện bằng hoạt động chứng minh – một quyền và nghĩa vụ
nay thể hiện ở việc giải quyết ba vấn đề lớn:
- Thứ nhất, vai trò quan trọng nhất của đương sự như thế nào trong quá trình đi tìm sự thật
khách quan của vụ án đặt trong tương quan với vai trò của các chủ thể khác của hoạt động
chứng minh?
- Thứ hai, dựa trên những cơ sở nào để lý giải về vai trò quan trọng hàng đầu của đương
sự?
- Thứ ba, trong giai đoạn hiện nay, dưới sự tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đang ngày càng thay đổi và có ảnh hưởng hai chiều đến
hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng, vai trò chứng minh của đương
sự trong giai đoạn này ngày càng quan trọng được thể hiện ra sao?
Việc giải quyết triệt để ba vấn đề lớn sẽ làm sáng tỏ được vai trò chứng minh của đương sự
là quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Đương sự – chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất của hoạt động chứng minh
2.2.1 Đương sự – người phát động và giới hạn hoạt động chứng minh
Chứng minh là một quá trình nhận thức kéo dài suyên suốt vụ án với bốn giai đoạn kế tiếp
nhau liên tục là thu thập, cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, giai đoạn trước là tiền
đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau củng cố và đánh giá giai đoạn trước. Tính liên tục của
bốn giai đoạn được khởi động bằng việc nguyên đơn nộp đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện
chính là biểu hiện rõ nét nhất của quyền đi kiện (tố quyền) của cá nhân, cơ quan tổ chức.
Khi pháp luật thừa nhận cho một chủ thể những quyền năng nhất định cũng đồng thời phải
đảm bảo cho quyền năng ấy được thực hiện thông qua một thủ tục tố tụng và nguyên đơn
phải cụ thể hóa quyền đó bằng một đơn khởi kiện để yêu cầu bảo vệ, đây chính là “gạch
nối” giữa luật nội dung và luật hình thức. Khi được thụ lý, đơn khởi kiện sẽ làm phát sinh