HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG
--------*--------
TIỂU LUẬN
MÔN: QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC – ĂNGGHEN
VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Đề tài:
LÝ LUẬN CỦA MÁC – ĂNGGHEN VỀ VAI TRÒ CỦA
GIAI CẤP TƯ SẢN TRONG TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI
CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên
: NGUYỄN VĂN THÔNG
Lớp
: CH – XDĐ &CQNN – K17
Hà Nội, 9/2012
MỞ ĐẦU
1. Lý do và tính cấp thiết để chọn đề tài tiểu luận
“Bây giờ học thuyết nhiều chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin” (Hồ
Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản chính trị QGHN,2000, Tập 2, trang 268).
Và sự thực lịch sử đã chứng minh cho tính đúng đắn, cách mạng, khoa học
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Lý luận của Mác – Ăngghen về vai
trò của giai cấp tư sản trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và
ý nghĩa của nó với cách mạng Việt Nam hiện nay” để làm tiểu luận.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài tiểu luận
Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ những nhận định, đánh giá của Mác và
Ănghen về giai cấp tư sản trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
và vận dụng để chỉ ra ý nghĩa của những tư tưởng lý luận đó đối với cách
mạng Việt Nam hiện nay. Để đạt được những mục tiêu đó thì cần phải thực
hiên các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu bối cảnh ra đời tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản để nhận thức hoàn cảnh Mác – Ăngghen đưa những lý luận của
mình về giai cấp tư sản.
Thứ hai: Tiến hành phân tích, làm rõ những tư tưởng, lý luận của Mác
và Ăngghen về giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản trong tác phẩm Tuyên
ngôn.
Thứ ba: Đưa ra thực trạng và ý nghĩa lý luận về vai trò của giai cấp tư
sản đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài tiểu luận
Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử,
chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Phương pháp chung: phân tích tổng hợp, logic-lịch sử, diễn dịch-qui
nạp.
Phương pháp cụ thể: lược thuật tài liệu, trao đổi thảo luận nhóm, đọc
nhanh ...
4. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo đề tài
gồm có kết luận tiểu luận gồm 3 chương 7 tiết sau:
3
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời vào khoảng tháng 2 năm 1948,
chính Ăngghen đã nói tác phẩm Tuyên ngôn ra đời gần đúng vào cuộc khởi
nghĩa Berlin.
Nước Đức chia thành 31 tiểu bang, 4 thành phố tập quyền. Vương
quốc Phổ là một trong những vương quốc lớn nhất của nước Đức. Vì đất
nước không thống nhất nên trong xã hội nước Đức xuất hiện nhiều mâu
thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến, giữa phong kiến và tư
bản, giữa công nhân, thợ thủ công và tư bản…
5
Phân tích lực lượng cách mạng ở nước Đức đầu năm 1848, Mác –
Ăngghen nhận định rằng ở nước Đức đã có đủ điều kiện thuận lợi để giai
cấp tư sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là thống nhất nước Đức, xóa
bỏ chế độ phong kiến thối nát đó.
Giai cấp tư sản đã không làm cuộc cách mạng để xóa bỏ phong kiến
mà chỉ chủ trương cải cách giành quyền tự do dân chủ cho mình bằng cách
duy trì chế độ quân chủ lập hiến. Như vậy giai cấp tư sản đã không quan
tâm đến việc giải quyết nhu cầu của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
Giữa lúc đó, Mác và Ăngghen nhận thức sâu sắc rằng: cần phải làm cho giai
cấp vô sản trở thành một lực lượng độc lập và làm cho họ tiến gần tới việc
thực hiện những mục đích của cộng sản chủ nghĩa. Tại Luân Đôn thủ đô
nước Anh tổ chức “Liên minh những người chính nghĩa” ra đời năm 1836
và cuối năm 1847 họp Đại hội lần thứ hai. Mác và Ăng-ghen được ủy nhiệm
soạn thảo Cương lĩnh dưới hình thức một bản tuyên ngôn.
Mác và Ăngghen đã tập trung sức lực, trí tuệ để hoàn thành Tuyên
ngôn Đảng cộng sản trong một thời gian rất ngắn và lần đầu tiên được xuất
bản tại Luân Đôn. Ít lâu sau, Tuyên ngôn được xuất bản bằng nhiều thứ
tiếng ở nhiều nước khác nhau và mỗi lần tái bản được dịch sang một thứ
tiếng khác đều được tác giả viết lời tựa mới.
các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản ngày càng gay
gắt hơn.
Do đó, ở thời kỳ này, phong trào vô sản đã phát triển mạnh mẽ và giai
cấp vô sản ngày càng chứng tỏ là một lực lượng xã hội to lớn, đóng một vai
trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của quốc gia. Giữa những
năm 40 của thế kỷ XIX, trung tâm của phong trào cách mạng chuyển sang
nước Đức. Giai cấp vô sản Đức tiến hành cuộc đấu tranh của mình nhưng sự
giác ngộ của họ còn yếu kém.
Những phong trào cách mạng nổ ra với qui mô và tính chất ngày càng
cao đã đánh dấu một thời kỳ đấu tranh có tính chất độc lập của giai cấp công
nhân, chứng tỏ giai cấp vô sản đã bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, đã trở
thành một lực lượng chính trị độc lập.
Điều kiện về mặt tư tưởng, lý luận và tổ chức
Về mặt lý luận, học thuyết Mác ra đời là kết quả của quá trình gạt bỏ
những cái cũ trong quá trình chuyển biến quan điểm, lập trường của Mác –
7
Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật triệt để, từ lập trường
dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa. Đến tác phẩm “Hệ
tư tưởng Đức” có thể nói cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin đã được hình thành.
Tuy nhiên để nó trở thành một tuyên ngôn chính thức thì cần phải được bồi
dưỡng phát triển trong những điều kiện của những phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân.
Thế kỉ XIX đánh dấu sự ra đời của nhiều học thuyết về quyền tự do,
trong đó có các tác phẩm Nền dân chủ Hoa Kỳ của Alexis de Tocqueville ca
ngợi trào lưu dân chủ đang lên không thể nào ngăn cản được. Cá nhà tư
Mác cũng đã được trình bày. Đại hội cũng đã cơ bản thống nhất về đường
lối hoạt động. Đại hội đã giao cho Ăngghen viết dự thảo Tuyên ngôn của
đồng minh những người cộng sản.
Đến cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1947 Đồng minh những người
cộng sản tiến hành đại hội lần thứ hai với sự tham gia của cả Mác và
Ăngghen. Đại hội đã thảo luận và thông qua những điều lệ của Hội liên hiệp
công nhân quốc tế do Mác soạn thảo và trình bày. Đại hội cũng đã giao cho
Mác và Ăngghen viết bản tuyên ngôn chính thức của Đảng cộng sản dựa
trên những lý thuyết mà Ăngghen đã viết trước đó.
Thời gian từ năm 1847 đến năm 1848, C. Mác và Ph. Ăngghen tập
trung nghiên cứu và soạn thảo Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Bản thân Mác
lúc này liên tục bị chính quyền nước sở tại trục xuất. Chính trong hoàn cảnh
cực kỳ gian nan đó, Mác đã cùng với Ăngghen viết thành công một tác
phẩm lý luận nổi tiếng và đã đi vào lịch sử: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản.
Mục đích của tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là tác phẩm vừa mang tính lý luận
khoa học vừa là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của những người cộng sản,
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tuyên ngôn đã nêu rõ mục
đích của cách mạng, con đường cách cách mạng, lực lượng cách mạng và
thực hiện cách mạng bằng cách nào.
Tuyên ngôn Đảng cộng sản ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu về mặt lý
luận khoa học, nó soi đường cho phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản
lúc đó còn như trong đêm tối đang tìm lối thoát.
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời nhằm đập tan những câu
chuyện hư truyền của giai cấp tư sản về bóng ma cộng sản. Nó “công khai
9
trình bày trước toàn thế giới những đặc điểm, mục đích, ý đồ của những
người cộng sản”. Nói cách khác nó như là lời tuyên chiến với giai cấp tư sản
Trong lời tựa viết năm 1883 Ăngghen đã trình bày tư tưởng chủ đạo
của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản gồm 3 vấn đề sau:
Thứ nhất, Tuyên ngôn khẳng định chính sản xuất kinh tế cùng với cơ
sở xã hội thích ứng với nó là cơ sở, nền tàng cho toàn bộ lịch sử tư tưởng
chính trị của mỗi thời đại
Thứ hai, khẳng định lịch sử xã hội từ khi có giai cấp là lịch sử đấu
tranh giai cấp.
Thứ ba, tuyên ngôn khẳng định đấu tranh giai cấp đến giai đoạn
TBCN thì giai cấp vô sản chỉ có thể tự giải phóng mình bằng cách đồng thời
giải phóng vĩnh viễn toàn bộ xã hội.
Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản có ý nghĩa lịch sử vô cùng
lớn lao. Đó là một văn kiện có tính chất cương lĩnh (cả về lý luận và thực
tiễn) đầu tiên của Đảng cộng sản, soi sáng cho giai cấp công nhân ở tất cả
các nước con đường đấu tranh thoát khỏi ách nô lệ TBCN, tiến tới một xã
hội CSCN văn minh và tốt đẹp hơn.
Trong thời đại ngày nay, các thế lực phản động quốc tế đang dùng
mọi thủ đoạn để tấn công vào chủ nghĩa Mác. Lợi dụng cuộc khủng hoảng
của CNXH thế giới hiện nay, chúng ra sức phủ nhận tính đúng đắn của các
nguyên lý mác-xít mà phần lớn đã được trình bày ở trong bản Tuyên ngôn
này. Chính vì vậy việc bảo vệ và phát triển những tư tưởng đúng đắn của tác
phẩm có ý nghĩa sâu sắc hơn bao giờ hết.
11
Chương 2: Tư tưởng cơ bản của Mác – Ăngghen về giai cấp tư sản
trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
2.1. Khái niệm giai cấp tư sản và sự ra đời của giai cấp tư sản
Mác – Ăngghen cho rằng tư sản có nguồn gốc xuất thân từ những
người nông nô chạy ra thành thị và trở thành những thị dân thời Trung cổ,
những nông nô này được chuộc đất để sản xuất thủ công nghiệp và buôn
bán. Từ những thị dân này hình thành nên những phần tử tư sản đầu tiên,
tầng lớp tư sản đầu tiên gắn liền với phương thức sản xuất kinh doanh công
nghiệp theo lối phường hội thời Trung cổ : “Từ những nông nô thời trung
cổ, đã sinh ra những thị dân các thành thị đầu tiên; từ dân cư thành thị này
nảy sinh ra những phần tử đầu tiên của giai cấp tư sản” [d4,tr541]
Sang thế kỉ 16, do có những phát hiện mới về địa lý như châu Mỹ và
con đường biển vòng qua châu Phi đến Ấn Độ đã đem lại thị trường rộng
lớn cho giai cấp tư sản mới ra đời. Điều này cũng kích thích việc sản xuất và
trao đổi, làm cho phương thức kinh doanh công nghiệp theo lối phường hội
phong kiến không còn phù hợp với nhu cầu luôn luôn phất triển theo sự mở
rộng của thị trường. Do đó sản xuất phường hội được thay thế bằng công
trường thủ công, và cũng từ đó xuất hiện tầng lớp kinh doanh bậc trung thay
cho trùm phường trước kia.
Các thị trường lớn lên không ngừng với các nhu cầu luôn luôn tăng
lên làm cho công trường thủ công không còn đáp ứng được nữa, cuộc cách
mạng trong sản xuất công nghiệp với sự xuất hiện máy hơi nước cùng với
các loại máy móc khác đã dẫn đến sự thay thế công trường thủ công bằng
nền sản xuất hiện đại công nghiệp. Kéo theo đó là tầng lớp công thương bậc
trung phải nhường chỗ cho công thương triệu phú tức là giai cấp tư sản hiện
đại với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Mác – Ăngghen đã đi đến kết luận “Xem thế thì biết bản thân giai
cấp tư sản hiện đại cũng là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, của
một loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi” [d4,
tr542]
2.2. Đặc điểm và vai trò của giai cấp tư sản trong tác phẩm Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản
2.2.1. Đặc điểm của giai cấp tư sản
tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo
và chính trị.[d1,tr544]
Giai cấp tư sản đã đem những làn gió mới đến cho xã hội, nhưng đó
không phải là một cuộc cải cách đơn thuần mà là một cuộc áp đặt ách thống
14
trị mới, tuy không tàn bạo như phong kiến nhưng cũng đủ dìm người dân
xuống tận cùng của xã hội. Giai cấp tư sản bất chấp mọi giá để thu về lợi
nhuận lớn nhất, làm cho túi tiền của họ ngày càng phồng lên. Mác –
Ăngghen đã có những nhận định đắt giá về cái cách mà giai cấp tư sản
thống trị xã hội, nó dẫm lên tất cả những thang giá trị của loài người. Tuy
nhiên đó chưa phải là tất cả…
Trong tác phẩm Mác – Ăngghen đưa ra hàng loạt những luận điểm để
chứng minh rằng giai cấp tư sản là một giai cấp sẵn sàng đạp đổ và hủy hoại
tất cả những gì là giá trị truyền thống hay những giá trị mang tính lịch sử.
Đối với nó chỉ cần lợi ích là đủ, đó là lợi nhuận, là đồng tiền. “ Giai cấp tư
sản tước hết hào quang thần thánh của hết thảy những hoạt động xưa nay
vẫn được trọng vọng và tôn sùng” và “xé toang tấm màn tình cảm bao phủ
những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những
quan hệ tiền nong đơn thuần thôi”. [d2,tr544]
Mỗi bước tiến của giai cấp tư sản về mặt kinh tế cũng là một bước
tiến về chính trị tư tưởng. Từ chỗ nó bị áp bức về chính trị đến chỗ nó độc
chiếm hẳn quyền lực về chính trị trong nhà nước. Mác – Ăngghen đã lần
lượt đưa ra những bước phát triển của giai cấp tư sản, từ chỗ bị chế độ
phong kiến chuyên chế áp bức đến đoàn thể vũ trang tự quản trong công xã,
cộng hòa thành thị độc lập, đóng thuế và lao dịch trong chế độ quân chủ, rồi
là lực lượng đối lập với chế độ quân chủ phong kiến trong công trường thủ
công, để rồi đại công nghiệp và thị trường thế giới đực thiết lập thì nó chiếm
được hẳn quyền thống trị chính trị trong nhà nước. Tuyên ngôn có đoạn “
để làm công cụ cho việc đàn áp và bóc lột giai cấp vô sản và để che đậy đi
những mặt đen tối của họ mà thôi.
Chính vì vậy thời đại của tư sản theo Mác và Ăngghen nó khác với tất
cả các thời đại trước đó. Nó khác ở chỗ hoạt động sản xuất kinh doanh buôn
bán của tư sản lan ra khắp toàn cầu, nó xâm nhập vào mọi hang cùng ngõ
hẻm, nó đặt mối liên hệ ở nhiều nơi. Từ khi xuất hiện giai cấp tư sản hoạt
động sản xuất kinh doanh của loài người mang tính quốc tế. giai cấp tư sản
mở rộng ảnh hưởng của nó trên khắp địa cầu bởi nguồn nguyên liệu trong
nước và cả nhu cầu tiêu thụ trong nước đã không còn đáp ứng được nó nữa.
Cũng chính bởi nhu cầu của con người nên nền đại công nghiệp của tư sản
phải là sự hợp tác, giao lưu, nó hình thành nên thị trường thế giới một cách
tự nhiên như nó vốn có. “Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã
16
làm cho sản xuất và tiêu dùng trong tất cả các nước mang tính chất thế
giới”. [d4,tr545]
Theo Mác – Ăngghen những tư liệu sản xuất và trao đổi là cơ sở cho
sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản thì đã được sinh ra trong lòng
xã hội phong kiến. Tuy nhiên những lối sản xuất, trao đổi, tổ chức của
phong kiến đã không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đang lên, nó trở
thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Và nhu cầu
đập tan xiềng xích ấy thì giai cấp tư sản đã làm. Giai cấp tư sản đã làm một
cuộc cách mạng không những trong sản xuất, trong trao đổi mà còn cả trong
quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Tuy xã hội TBCN vẫn chưa
có công bằng dân chủ thực sự nhưng giai cấp thống trị-giai cấp tư sản đã tạo
ra một bước tiến bộ vượt bậc so với các xã hội trước đó.
Mác – Ăngghen kết luận “Vậy là chúng ta đã thấy rằng: những tư
liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở cho giai cấp tư sản hình thành, đã được
tạo ra từ trong lòng xã hội phong kiến. Những tư liệu sản xuất và trao đổi
chiếm những thị trường mới và bóc lột triệt để hơn nữa những thị trường
cũ.”.[d1,tr549]
Mác – Ăngghen đã phân tích quá trình phát sinh, phát triển của
CNTB và giai cấp tư sản cũng như sự diệt vong tất yếu của giai cấp tư sản
và CNTB. Từ việc đưa ra lý luận về các cuộc khủng hoảng trầm trọng và
kéo dài của giai cấp tư sản, hai ông chỉ ra rằng giai cấp tư sản không thể nào
giải quyết được những cuộc khủng hoảng ấy mà chỉ có thể làm cho nó trở
nên trầm trọng hơn mà thôi “Đi đến chỗ sửa soạn cho những cuộc khủng
hoảng toàn diện hơn và ghê gớm hơn và giảm bớt những biện pháp ngăn
ngừa những cuộc khủng hoảng ấy”.[d1,tr549] .Chính vì lẽ đó, giai cấp tư
sản đã làm cho mâu thuẫn giữa họ và giai cấp vô sản ngày càng sâu sắc hơn,
làm cho người công nhân càng hận thù họ thêm. Và vì vậy giai cấp tư sản
không những đã rèn vũ khí để giết mình mà còn tạo ra người sử dụng vũ khí
ấy – giai cấp công nhân.
Ở cuối chương I, Mác – Ăngghen cho rằng xã hội nào cũng có hai
giai cấp đối kháng, giai cấp áp bức và giai cấp bị áp bức. Nhưng muốn áp
bức một giai cấp thì phải đảm bảo cho họ đủ những điều kiện sinh hoạt để
họ có thể chịu vòng nô lệ ấy. Các ông đưa ra so sánh “Người nông nô, giữa
lúc chế độ nông nô còn thịnh, đã tiến tới chỗ trở nên một thành viên của
công xã, cũng như những người tiểu tư sản đã vươn tới địa vị người tư sản,
18
dưới ách của chế độ chuyên chế phong kiến. Người công nhân hiện đại, trái
lại, đã không vươn lên được cùng với sự tiến bộ của công nghiệp, mà còn
luôn luôn sa xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh hoạt của chính
giai cấp họ.”[d1,tr556]
Vậy hiển nhiên giai cấp tư sản không thể làm tròn vai trò thống trị của
mình vì nó không thể đảm bảo cho giai cấp nó thống trị ngay cả mức sinh
hoạt nô lệ. Chính vì vậy Mác – Ăngghen khẳng định xã hội không thể sống
kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan: Những quan hệ xã hội thay thế
những quan hệ đó chưa kịp có xương cốt thì đã già cỗi ngay”. [d1,tr545]
Như vậy, giai cấp tư sản có vai trò hết sức tích cực trong sự phủ nhận chế độ
chuyên chế phong kiến, thiết lập chế độ dân chủ, bước đầu mang đến nền
dân chủ cho con người.
Giai cấp tư sản đã chỉ ra cho loài người thấy rõ bộ mặt của phong
kiến “biểu hiện tàn bạo của vũ lực trong thời trung cổ, - biểu hiện mà phe
phản động hết mực ca ngợi, - đã được bổ sung một cách tự nhiên bằng bênh
lười chảy thây như thế nào”.[d4,tr544] Phải chăng Mác – Ăngghen đã dùng
con mắt của nhà nghiên cứu xã hội để phê phán vào chính diện của xã hội
phong kiến khi dùng những ngôn từ hết sức sắc bén và sinh động để đả kích
thói chây lười, ỷ lại của lớp quí tộc phong kiến.
Mác và Ăngghen đánh giá xã hội phong kiến là xã hội của QHSX
phong kiến cũ kĩ và quan hệ đạo đức gia trưởng, nó “cứng đờ và hoen rỉ”.
Nó bao gồm những gì lỗi thời nhất, thô bạo nhất thì nay đã được thay thế
bằng một xã hội mới tiến bộ hơn về nhiều mặt. Nếu như ở xã hội phong kiến
giai cấp địa chủ nắm trong tay quyền sở hữu ruộng đất và thu địa tô cắt cổ
đối với người nông dân thì trong xã hội tư bản do giai cấp tư sản xây dựng
nên điều đó đã được xóa bỏ. Nếu như dưới xã hội phong kiến người dân chỉ
tuân theo duy nhất mệnh lệnh của một người “nhà vua – thiên tử” thì nay
giai cấp tư sản mang lại quyền dân chủ hơn đối với mọi người trong xã hội.
Tuy chỉ là nền dân chủ tư sản, phục vụ lợi ích tư sản nhưng xã hội dưới thời
giai cấp tư sản mang tính “người” hơn. Có thể nói CNTB đã đưa loài người
đi đến một xã hội tiến bộ và nhân văn hơn. Đây là một đánh giá rất công
bằng của hai ông đối với CNTB và giai cấp tư sản.
Thứ hai, giai cấp tư sản từng bước xóa bỏ QHSX phong kiến mở
đường cho sản phẩm xã hội tăng lên mạnh mẽ, tạo ra khối lượng vật chất
khổng lồ bằng nhiều thế hệ trước gộp lại. Nhà nước tư sản đã xóa bỏ hàng
20
Họ làm cho loài người thấy rằng họ có khả năng làm được những gì
“Chính giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoạt động
21
của loài người có khả năng làm được những gì. Nó tạo ra những kì quan
khác hẳn những Kim tự tháp Ai Cập, những cầu dẫn nước ở La Mã, Những
nhà thờ kiểu gô-tích; nó đã tiến hành những cuộc viễn chinh khác hẳn
những cuộc xâm lăng và chiến tranh thập tự” [d4,tr544]. Mác – Ăngghen
đánh giá cao những thành tựu mà giai cấp tư sản đã đem đến cho loài người.
Thứ ba, giai cấp tư sản đã xóa bỏ chế độ chuyên chế phong kiến, thiết lập
nên chế độ dân chủ tư sản, dân tộc tư sản. Sở dĩ giai cấp tư sản có thể lật đổ
giai cấp phong kiến và chế độ chuyên chế để thiết lập nên chính quyền tư
sản là vì: tư sản đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, quan hệ sản xuất
mới, quan hệ sản xuất TBCN. Cùng với đó giai cấp tư sản rất quan tâm và
tận dụng hành quả của cuộc cách mạng khao học công nghệ vào sản xuất,
đây cũng là một yếu tố khiến CNTB phát triển.
Giai cấp tư sản nhờ cải tiến công nghệ sản xuất mà làm cho phương
tiện giao thông trở nên tiện lợi, giá cả hàng hóa trở nên rẻ hơn, thế giới trở
nên văn minh hơn. Không những làm cho sản xuất vật chất phát triển mà
giai cấp tư sản còn khiến cho sản xuất tinh thần phát triển không kém.
“Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc thành tài sản
chung của tất cả các dân tộc. Tính chất chật hẹp và phiến diện dân tộc ngày
càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa
phương, muôn hình muôn vẻ đang nảy nở một nền văn học toàn thế
giới.”[d1,tr546]
Mác – Ăngghen đã nhìn thẳng vào vấn đề để phân tích và nhìn ra thực
chất của sự phát triển của giai cấp tư sản và CNTB, nhưng bên cạnh những
mặt trái của nó thì các ông không thể phủ nhận những thành tựu tích cực mà
tư sản đạt được. Giai cấp tư sản đã “lập ra những đô thị đồ sộ” vì thế nó đã
Chương 3: Ý nghĩa lý luận về vai trò của giai cấp tư sản
trong giai đoạn hiện nay
3.1. Khái quát sự hình thành phát triển của giai cấp tư sản
Sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản gắn liền với CNTB.
CNTB trải qua bao nhiêu giai đoạn thì giai cấp tư sản cũng phát triển qua
bấy nhiêu giai đoạn.
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của
xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu, phôi thai và phát triển từ
trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một
hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ XVIII. Sau cách mạng
Pháp cuối thế kỷ XVIII, hình thái chính trị của "nhà nước tư bản chủ nghĩa"
dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà
nước của chế độ phong kiến, quý tộc. Và sau này hình thái chính trị – kinh
tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới.
Thực chất giai cấp tư sản ra đời đầu tiên ở châu Âu vào khoảng thế kỉ
XV khi mà các xưởng dệt, luyện kim, nấu đường… hình thành. Khi đó, giai
cấp tư sản là chủ của các nhà máy, xí nghiệp có thuê mướn nhiều nhân
công, họ chỉ có địa vị về kinh tế chứ không hề có một chút địa vị về chính
trị nào và bị chế độ phong kiến chèn ép. Cuộc cách mạng Hà Lan ở thế kỉ
XVI được coi là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới, đánh dấu
thắng lợi của giai cấp tư sản trước chế độ phong kiến, mở ra thời kì lịch sử
thế giới cận đại.
Thế kỉ XVIII đánh dấu bước phát triển mới của CNTB, cách mạng tư
sản Anh giành thắng lợi thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, mở đường cho
CNTB phát triển. Sau đó nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở các nước
châu Âu làm cho địa vị giai cấp tư sản ngày càng được củng cố và phát triển
mạnh mẽ. Cuộc cách mạng công nghiệp trong lĩnh vực sản xuất xuất phát từ
nước Anh cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX đã tạo đà cho sự xác lập của
CNTB trên phạm vi châu Âu và toàn thế giới.
24
đến "nền sản xuất lớn" với sự tái đầu tư mở rộng và gắn liền với cách mạng
khoa học - công nghệ. Việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh
25