sự kế thừa, phát triển chính thể hiến pháp 1946
trong các hiến pháp việt nam và một số kiến nghị
về hoàn thiện cơ sở hiến định của mô hình tổ chức
nhà nớc việt nam hiện nay.
3.1. Sự kế thừa, phát triển chính thể Hiến pháp 1946 trong
các Hiến pháp Việt Nam
Xét về mặt lịch sử, hơn nửa thế kỷ của nền lập hiến Việt Nam đợc đánh dấu
bằng 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến
pháp 1992. Hơn 50 năm qua, Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta vừa chiến đấu, vừa
xây dựng đất nớc để dành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, chủ quyền của
đất nớc, kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ - đó là chặng đờng mà nền lập
hiến Việt Nam đã đi qua. Đó là chặng đờng cha dài của một nền lập hiến nhng
đầy ắp những sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tinh thần khát khao hoà bình, yêu
chuộng độc lập, tự do, dân chủ của dân tộc Việt Nam. Thời điểm ra đời của mỗi
Hiến pháp gắn liền với thời điểm có tính cách mạng của dân tộc phản ánh một
thời kỳ phát triển sôi động, khẩn trơng nhng không ít những trở ngại, khúc khỉu
của xã hội Việt Nam. Qua chặng đờng phát triển đó, trên phơng diện chính thể
nhà nớc, có thể rút ra các đặc điểm chung có tính phổ biến của nền lập hiến nói
chung, đồng thời có thể rút ra những nét đặc thù, những đặc trng trong quá trình
kế thừa và phát triển của các Hiến pháp Việt Nam.
Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, Hiến pháp 1946, ra đời trên cơ sở đồng
nhất, nhất quán giữa một hệ t tởng cách mạng mang đậm đà bản chất dân chủ,
nhân dân với một cơ sở xã hội, thực tế đấu tranh giai cấp, dân tộc quyết liệt, có
tính sống còn của toàn dân tộc, một dân tộc từ kiếp nô lệ vùng dậy đấu tranh
giành độc lập, tự do. Bản chất nhân dân, dân chủ, ngay từ đầu đã đợc thể hiện một
cách nhất quán, đậm nét trong Hiến pháp.
Đến lợt mình, Hiến pháp trở thành công cụ mạnh mẽ thể chế hoá quyền của
nhân dân làm chủ Nhà nớc, làm chủ chế độ.
Trong quá trình phát triển của mình, nền lập Hiến pháp Việt Nam không
vận động một cách thụ động, đuổi theo sự phát triển của xã hội, mà nh thực tế chỉ
rõ, đã thể hiện vai trò tích cực, năng động sáng tạo, phát triển một cách khẩn tr-
nhất, luôn đợc các Hiến pháp phản ánh, thể chế hoá phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh của từng giai đoạn phát triển của đất nớc.
+ Theo sự phát triển của xã hội, các quyền tự do, dân chủ của công dân đợc
bảo đảm theo hớng ngày càng đợc mở rộng trở thành một chế định cơ bản lần lợt
bao quát tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
+ Các Hiến pháp đều thể hiện một định hớng nhất quán về xác lập một mô
hình tổ chức quyền lực nhà nớc mang đậm bản chất nhân dân. Một bộ máy nhà n-
ớc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn phát triển. Chúng luôn luôn
nhất quán với nguyên tắc đã đợc ghi trong ''lời nói đầu của bản Hiến pháp đầu
tiên và trở thành t tởng chỉ đạo của nền độc lập hiến Việt Nam, đó là nguyên tắc:
''Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân''.
Trớc khi đi vào phân tích sự kế thừa và phát triển chính thể Hiến pháp 1946
trong các Hiến pháp Việt Nam chúng ta sẽ lần lợt đề cập với hoàn cảnh ra đời và
trên phơng diện chính thể nhà nớc, đề cập tới những nội dung cơ bản, quan trọng
của các Hiến pháp Việt Nam sau này.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân pháp bắt buộc phải ký kết
Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 tại Hội nghị quốc tế với sự tham gia của các cờng quốc
hàng đầu thế giới. Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta: độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đã đợc long trọng khẳng định. Đất nớc bớc sang một
thời kỳ mới, thời kỳ miền Bắc hoàn toàn giải phóng, qúa độ lên chủ nghĩa xã hội
trong khi miền Nam vẫn phải đặt dới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu
Mĩ. Cuộc đấu tranh vì những quyền dân tộc cơ bản đã đợc thừa nhận trong điều ớc
quốc tế phải đợc thừa nhận trên thực tế. Và miền Bắc trở thành hậu phơng lớn cho
nhân dân miền Nam đánh đuổi bè lũ xâm lợc, thống nhất nớc nhà.
Trải qua một thời gian dài, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nớc
cũng nh trên thế giới đã có những thay đổi. ở miền Bắc, giai cấp địa chủ phong
kiến đã bị đánh đổ, liên minh giai cấp công nhân và nông dân ngày càng đợc củng
cố và vững mạnh. Vai trò, vị trí của Đảng Cộng sản (Đảng Lao động) đã dần đợc
khẳng định và công nhận. Trong hoàn cảnh đó, Hiến pháp 1946 không còn phù
hợp, nhu cầu cấp bách đặt ra là phải xây dựng một bản Hiến pháp mới thích ứng
chấp hành và hành chính nhà nớc cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nớc cao
nhất. Với Hiến pháp 1980, nớc ta bắt đầu một thời kỳ mới, cả nớc thống nhất qúa
độ lên chủ nghĩa xã hội với cách nhìn có phần đơn giản bằng cách thiết lập một cơ
chế kế hoạch hoá cao độ nền kinh tế quốc dân theo mô hình tập trung, quan liêu,
bao cấp, thực chất không thừa nhận sản xuất hàng hoá.
Sau những năm dài sống trong thời kỳ tập trung, bao cấp, nền kinh tế, chính
trị, xã hội nớc ta suy giảm nghiêm trọng. Đảng và Nhà nớc ta thông qua Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra phơng hớng, nhiệm vụ đổi mới toàn diện đất
nớc. Trớc hết là, từng bớc đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung
quan liêu bao cấp, để xác lập cơ chế kinh tế mới - nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. Xét theo ý nghĩa của nó, đây là sự điều chỉnh lớn, có tính
chất cách mạng, và sẽ là tiền đề, là cơ sở cho việc đổi mới các lĩnh vực khác của
đất nớc. Tiếp đến, để phù hợp với cơ chế kinh tế mới, cần phải đổi mới hệ thống
chính trị. Để làm đợc điều này, trớc tiên và cực kỳ quan trọng là phải xác định đợc
nguyên tắc, chủ trơng, đờng lối đổi mới. Một trong những nguyên tắc chủ đạo về
mô hình tổ chức quyền lực nhà nớc đợc Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra là: "Quyền
lực nhà nớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
nhà nớc trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tự pháp".
Nh vậy, Đảng và Nhà nớc ta đã có sự nhìn nhận mới về tổ chức quyền lực
nhà nớc. Nếu nh trớc đây, chúng ta phủ nhận hoàn toàn học thuyết phân quyền
đặc biệt là theo quy định của Hiến pháp 1980, thì cho tới thời điểm này, những hạt
nhân hợp lý của học thuyết đó đã đợc chấp nhận và áp dụng vào việc tổ chức
quyền lực nhà nớc. Tuy nhiên, nếu nhìn lại Hiến pháp 1946, chúng ta có thể thấy
sự tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc áp dụng hạt nhân hợp lý của học
thuyết phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nớc hồi bấy giờ. Mà đến khi Hiến
pháp 1992 ra đời đã trở lại với nhiều quy định của Hiến pháp 1946.
Về tổ chức quyền lực nhà nớc, vẫn áp dụng nguyên tắc tập quyền nhng đã
có sự nhận thức lại cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Quốc hội vẫn đợc
coi là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nớc cao
giành độc lập hoàn toàn" đợc đặt lên hàng đầu thì những quy định của Hiến pháp
1946 chứng tỏ đã tìm ra đờng lối phù hợp với hoàn cảnh lúc đó. Và "Đoàn kết
toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo" đã trở thành
nguyên tắc lập hiến. Thể hiện t tởng này, Điều 1 Hiến pháp 1946 quy định: "Tất
cả quyền bính trong nớc là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái
trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo". Điều 1 cũng khẳng định chính thể nhà nớc:
"Nớc Việt Nam là một nớc dân chủ cộng hoà", Chính thể Việt Nam dân chủ cộng
hoà là "một chính thể dân chủ rộng rãi". Điều này đợc thể hiện trong cuộc đấu
tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, không những có sự tham gia
của giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức và binh lính mà còn có sự
tham gia của những ngời xuất thân từ tầng lớp địa chủ, t sản nhng yêu nớc thơng
nòi. Vì thế, Nhà nớc dân chủ nhân dân đầu tiên của ta là Nhà nớc đoàn kết toàn
dân Việt Nam.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân dân là một phạm trù có
nội dung giai cấp. Theo đó, khái niệm nhân dân không đồng nhất với khái niệm
dân c trong một nớc. Tuy nhiên, trong một chế độ dân chủ rộng rãi, khái niệm
nhân đân đợc mở rộng, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp dân c rộng rãi nhất, trừ
một số bộ phận nhỏ thù địch với độc lập dân tộc, chống phá cách mạng.
Hiến pháp 1959 xác định: "Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà... là một nớc
dân chủ nhân dân" (Điều 2). Tính chất nhân dân của chế độ dân chủ thay cho tính
chất "dân chủ rộng rãi" ở Hiến pháp 1946, vừa thể hiện sự kế thừa, vừa thể hiện sự
phát triển. Ngay tại lời nói đầu Hiến pháp 1959 cũng khẳng định: "Nhà nớc của
ta là Nhà nớc dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng của liên minh công nông, do
giai cấp công nhân lãnh đạo". Theo quy định của Hiến pháp 1959, về hình thức
chính thể của Nhà nớc không thay đổi so với Hiến pháp 1946. Nhng Hiến pháp
cũng đã có những định hớng nhằm chuyển dần sang mô hình Nhà nớc mang bản
chất của Nhà nớc công nông của hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ.
Mà thể hiện rõ nét là các quy định về chế độ kinh tế. Điều 9, Hiến pháp 1959 quy
định: "Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên
chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ
hoàn chỉnh nó và quy định ở mức độ hoàn chỉnh hơn trong chế độ chính trị xã hội
chủ nghĩa.
Xác định bản chất giai cấp của Nhà nớc ta là Nhà nớc chuyên chính vô sản,
sứ mệnh lịch sử của Nhà nớc là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao
động, động viên và tổ chức nhân dân tiến hành xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã
hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản (Điều 2). Ngời làm chủ tập thể là nhân dân lao
động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã
hội chủ nghĩa và những ngời lao động khác mà nòng cốt là liên minh công nông,
do giai cấp công nhân lãnh đạo (Điều 3). Ta thấy, nếu nh ở Hiến pháp 1959 mới
chỉ quy định mang tính định hớng về việc tập thể hoá của ngời lao động thì đến
Hiến pháp 1980, t tởng "tập thể" đã đợc quán triệt một cách sâu sắc trở thành t t-
ởng chỉ đạo xuyên suốt nội dung của Hiến pháp. Đồng thời, bản chất giai cấp
chuyên chính vô sản cũng đã đợc thể hiện một cách rõ nét nhất, mà ở Hiến pháp
1959 chỉ mới quy định tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội.
Tính chất của Nhà nớc cũng đợc Hiến pháp thể hiện đậm nét qua việc quy
định chế độ kinh tế. Nếu nh ở Hiến pháp 1959 quy định còn bốn hình thức sở hữu,
thì Hiến pháp 1980 chỉ quy định hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể. Trong đó, kinh tế quốc doanh (thuộc sở hữu toàn dân) giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân và đợc phát triển u tiên. (Điều 18).
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp thể chế hoá vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nớc và xã hội vào một điều của Hiến pháp (Điều
4). Sự thể chế hoá này thể hiện sự thừa nhận chính thức của Nhà nớc về vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mặt khác, cũng có nghĩa là bắt buộc các cơ quan
nhà nớc, các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng phải tuân thủ sự lãnh đạo
của Đảng.
Ngoài việc thể chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng vào Hiến pháp, Hiến pháp
1980 còn xác định vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội quan trọng khác
nh Mặt trận tổ quốc Việt Nam (Điều 9), Tổng công đoàn Việt Nam (Điều 10).
Đây cũng là lần đầu tiên vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị xã hội này đợc ghi
nhận trong các điều khoản của Hiến pháp.
dân và tầng lớp trí thức (Điều 2). Về bản chất giai cấp của Nhà nớc, khác với
Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 không ghi rõ ''Nhà nớc ta là nhà nớc chuyên
chính vô sản, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động'' mà chỉ quy định
''Nhà nớc ta là nhà nớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ...''. Đây là một
sự điều chỉnh lớn thể hiện một nhận thức hoàn toàn mới về tính chất của giai đoạn
lịch sử quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng nh tính chất của chính quyền và nhiệm
vụ cách mạng. Hiến pháp sửa đổi, bổ sung đã mong muốn xây dựng một Nhà nớc
Pháp quyền bằng quy định: ''Nhà nớc Cộng hoà chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nớc
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa ... Đồng thời khẳng định một cách dứt khoát:
Quyền lực nhà nớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp (Điều 2).
Ngoài ra, kế thừa Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 cũng xác định các
nguyên tắc cơ bản khác về tổ chức quyền lực nhà nớc, nh: vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nớc và xã hội Việt Nam (Điều 4); nguyên
tắc tập trung dân chủ (Điều 6); nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa ( Điều 2);...
Để cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp 1992 quy định Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của nó là cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân (Điều 9).
Về chế độ kinh tế, Hiến pháp 1992 đã trở lại với những quy định của Hiến
pháp 1946 bằng việc thừa nhận một chế độ kinh tế nhiều thành phần với các hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng (Điều 15) và ghi nhận quyền tự do kinh
doanh của công dân (Điều 57). Nhng chúng đợc tồn tại trong một chế độ kinh tế
định hớng xã hội chủ nghĩa, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền
tảng. Quy định trên đây là một sự thay đổi lớn, phản ánh nhận thức mới về quá
trình đi lên chủ nghĩa xã hội, đó cũng là thay đổi căn bản làm cơ sở cho sự thay
đổi các chế định khác của Hiến pháp.
Khác với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 quy định đờng lối đối ngoại
rộng mở. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trên thế giới trên cơ sở tôn
trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
quyền tự do dân chủ nói riêng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung
thể hiện sự phát triển theo các hớng sau đây: thứ nhất, nếu nh ở Hiến pháp 1946 đ-
ợc thể hiện một cách cô đọng, ngắn gọn thì ở Hiến pháp 1959 đợc diễn giải theo
cả chiều rộng và chiều sâu; thứ hai, ở Hiến pháp sau phản ánh giai đoạn và trình
độ phát triển mới cả về vật chất lẫn trình độ t duy, nhận thức đã bổ sung nhiều
quyền mới mà ở Hiến pháp 1946 cha cho phép ghi nhận hoặc cha có nhu cầu ghi
nhận trong đạo luật cơ bản; thứ ba, có những quyền và nghĩa vụ mà ở Hiến pháp
1946 đợc phản ánh ở nhiều điều khoản thì ở Hiến pháp 1959 đã tập trung vào một
số điều hạn chế.
Các hớng phát triển trên cơ sở kế thừa cũng đợc lập lại ở 2 Hiến pháp sau
(1980 và 1992). Và nh trên đã chỉ rõ, về phạm vi ở hai Hiến pháp này, chế định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng đợc mở rộng, đã có nhiều
quyền mới đợc bổ sung. Không chỉ dừng lại ở phạm vi, quy định thêm những
quyền mới mà các Hiến pháp sau bao giờ cũng có sự bổ sung làm sâu sắc, phong
phú thêm các quyền đã đợc quy định ở Hiến pháp trớc. Một nét mới khác ở Hiến
pháp 1980 so với Hiến pháp 1959 là quyền công dân đợc quan niệm trong nhiều
trờng hợp không chỉ liên quan đến từng cá nhân mà là cả một thế hệ, một lớp ng-
ời.
Khi nói đến Hiến pháp 1980, ta cần thấy rõ hoàn cảnh trong nớc và quốc tế
khi Hiến pháp đợc ban hành mà nó đã in đậm trong toàn bộ nội dung của Hiến
pháp, đặc biệt đối với Chơng "quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân". Đó là việc
Hiến pháp đã thể chế hoá cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp mà
không lâu sau khi Hiến pháp có hiệu lực nó đã sớm bộc lộ tính chất chủ quan,
nóng vội, duy ý chí muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua
giai đoạn quá độ.
Chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Hiến pháp 1992, đơng
nhiên là kế thừa và phát triển của nhiều quy định của Hiến pháp 1980. Tuy nhiên,
nói một cách khách quan, đã có một sự điều chỉnh lớn các quy định của Hiến
pháp 1980. Đồng thời, ở Hiến pháp 1992 một số quyền lần đầu tiên đợc ghi nhận.
So với Hiến pháp 1946, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Theo Hiến pháp 1959, Quốc hội có cơ quan thờng trực là Uỷ ban thờng vụ Quốc
hội, do Quốc hội bầu ra với những thẩm quyền rộng rãi, những thẩm quyền mà
theo Hiến pháp 1946 là do Chủ tịch nớc thực hiện.
Cũng nh quy định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 xác định Quốc hội
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất.
Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ bản không có sự thay đổi. Nhng về cơ cấu
tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi lớn. Nếu theo Hiến pháp 1959, Uỷ ban thờng
vụ Quốc hội là cơ quan thờng trực của Quốc hội thì theo Hiến pháp 1980, cơ quan
thờng trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nớc và cơ quan này đồng thời là Chủ
tịch tập thể của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội đồng Nhà nớc trên
thực tế thực hiện chức năng của Chủ tịch nớc và Uỷ ban thờng vụ Quốc hội theo
Hiến pháp 1959. Xuất hiện thiết chế Hội đồng Nhà nớc với hai vai trò nêu trên và
có quyền hạn hết sức rộng rãi hoàn toàn không phải ngẫn nhiên. Nó thể hiện và
phản ánh một quan niệm truyền thống trong lĩnh vực chính trị - pháp lý của các n-
ớc xã hội chủ nghĩa. Do tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc theo nguyên
tắc tập quyền và Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nớc tối cao. Cho nên, Nguyên
thủ quốc gia trong Nhà nớc xã hội chủ nghĩa không thể là một cá nhân nh quy
định theo Hiến pháp của các nớc t sản, mà chức năng này là do cơ quan đại diện
cao nhất của nhân dân - cơ quan quyền lực nhà nớc tối cao đảm nhận. Trong điều
kiện Quốc hội hoạt động không thờng xuyên thì phải do một tập thể, do một Hội
đồng hoặc Đoàn Chủ tịch thực hiện.
Tuy nhiên, khi đợc vận dụng để thể chế hoá bằng Hiến pháp 1980, chế định
Hội đồng Nhà nớc trong thực tế thi hành đã bộc lộ rất nhiều nhợc điểm. Theo
Hiến pháp 1959, khi Quốc hội họp thì bầu Chủ tịch đoàn để điều khiển cuộc họp.
Đây là quy định bất hợp lý khi mà Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội có quyền triệu tập
và chuẩn bị cho kỳ họp của Quốc hội. Còn theo Hiến pháp 1980, Quốc hội bầu ra
Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Quốc hội có quyền chủ toạ các phiên họp Quốc
hội. Trong khi đó, Hội đồng Nhà nớc là cơ quan cao nhất hoạt động thờng xuyên
của Quốc hội có quyền triệu tập và chuẩn bị các kỳ họp của Quốc hội, và Chủ tịch
Quốc hội không nhất thiết là thành viên, càng không phải là Chủ tịch Hội đồng