61 Tình hình thực hiện bao thanh toán tại Việt Nam và một số giải pháp để đưa sản phẩm bao thanh toán vào ứng dụng taị Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam - Pdf 24

Trang 1

MỤC LỤC
Lời mở đầu
Danh mục bảng biểu, đồ thị, lưu đồ
Danh mục các chữ viết tắt
Chương I : Lý luận về nghiệp vụ bao thanh toán và hoạt động bao thanh toán
trên thế giới ........................................................................................................... Trang 01
1.1. Giới thiệu về nghiệp vụ bao thanh toán ...................................................... Trang 02
1.1.1 Lịch sử hình thành sản phẩm bao thanh toán ................................................ Trang 02
1.1.2.Khái niệm về bao thanh toán ........................................................................ Trang 03
1.1.3.Các loại hình bao thanh toán.......................................................................... Trang 05
1.1.4.Lợi ích khi sử dụng công cụ bao thanh toán.................................................. Trang 10
1.2. Sự cần thiết phát triển bao thanh toán ....................................................... Trang 16
1.3. Hoạt động bao thanh toán thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Trang 19
1.3.1 Tình hình hoạt động bao thanh toán trên thế giới ......................................... Trang 19
1.3.2.Bài học kinh nghiệm cho hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam ............... Trang 23
Chương II : Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại các NHTM tại Việt Nam
hiện nay ................................................................................................................. Trang 26
2.1. Các qui định về bao thanh toán tại Việt Nam............................................. Trang 27
2.1.1.Các văn bản pháp lý hiện hành ..................................................................... Trang 27
2.1.2.Các điều kiện để được hoạt động bao thanh toán ......................................... Trang 28
2.1.3.Đối tượng áp dụng ......................................................................................... Trang 28
1.1.4.Quy trình hoạt động bao thanh toán............................................................... Trang 29
2.2. Thực trạng hoạt động bao thanh toán của các ngân hàng thương mại ... Trang 30
2.2.1.Tình hình hoạt động bao thanh toán hiện nay ............................................... Trang 30
2.2.2.Một số quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán .................................. Trang 32
2.2.2.1 Quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán của NHTM CP Á Châu..... Trang 32
2.2.2.2 Quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu của Far East National
Bank ........................................................................................................................ Trang 36
2.2.3.Một số khó khăn, tồn tại khi ứng dụng nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt NamTrang 38
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ VÀ LƯU ĐỒ
**********

1. Bảng biểu:
Bảng 1: Doanh số bao thanh toán trên thế giới.
Bảng 2: Doanh thu về bao thanh toán của các châu lục trên thế giới.
Bảng 3: Doanh số bao thanh toán của các quốc gia hàng đầu Châu Á.
Bảng 4: Doanh số bao thanh toán ở các nước Asean từ 2001-2005.
Bảng 5: Doanh số các loại sản phẩm bao thanh toán.

2. Đồ thị:
Đồ thị 1: Tỷ trọng doanh số bao thanh toán tại các châu lục năm 2005

3. Lưu đồ:
Lưu đồ thực hiện bao thanh toán nội địa đối với bên mua hàng
Lưu đồ thực hiện bao thanh toán nội địa đối với bên bán hàng
Lưu đồ thực hiện bao thanh toán xuất khẩu.

℘℘℘℘℘℘℘℘

------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 5
Mở đầu
Hội nhập vào nền kinh tế thế giới là một trong những động lực chính của cải cách
kinh tế ở Việt Nam. Từ việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do Asean đến việc thực hiện
Hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ và sắp tới đây là việc tham gia vào WTO, quá
trình hội nhập đã giúp cho thị trường trở nên cạnh tranh hơn và buộc các doanh nghiệp trong
nước phải tăng năng suất và hiệu quả hoạt động.
Gia nhập vào WTO đòi hỏi những thay đổi về thể chế, từ việc phải tạo ra một sân chơi
bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp, đến việc mở rộng cạnh tranh trong những lĩnh vực dịch
vụ quan trọng như: tài chính ngân hàng hay cải thiện tiêu chuẩn vệ sinh và tăng cường quyền
sở hữu trí tuệ.
Từ nay đến năm 2008, ngành tài chính ngân hàng Việt Nam sẽ mở cửa hội nhập mạnh
mẽ với khu vực và thế giới. Chính vì thế, đa dạng hóa và phát triển sản phẩm mới là một
trong những chiến lược để tồn tại và phát triển của bất kỳ ngân hàng nào. Để đạt được mục
tiêu đó, các ngân hàng phải nhanh chóng đưa vào áp dụng những sản phẩm tài chính mới đã
được phát triển trên thế giới, trong đó có nghiệp vụ bao thanh toán – Factoring.
Thực ra bao thanh toán không phải là một nghiệp hoàn toàn mới lạ, những lợi ích mà
bao thanh toán đem lại cho thương mại trong phạm vi quốc gia và trên thế giới ngày càng
được khẳng định và công nhận rộng rãi. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam dịch vụ này phát
triển như thế nào, có bao nhiêu ngân hàng bán sản phẩm này và làm thế nào để bao thanh
toán được ứng dụng rộng rãi tại các ngân hàng thương mại.
Quan tâm đến sản phẩm này và mong muốn góp phần nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát
triển của ngân hàng nói chung và Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam nói riêng, tôi đã
chọn đề tài:” Tình hình thực hiện bao thanh toán tại Việt Nam và một số giải pháp để đưa
sản phẩm bao thanh toán vào ứng dụng taị Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam”
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Để giải quyết nội dung cơ bản của đề tài trên, ngoài lời mở đầu và kết luận, bố cục
của luận văn gồm các chương:


------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 7 Chương 1
LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH
TOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH
TOÁN TRÊN THẾ GIỚI
phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài, những nhà sản xuất Mỹ phát triển đội ngũ
marketing của mình và vì vậy vai trò marketing mà trước đây các đại lý bao thanh
toán thường thực hiện giảm đi. Tuy nhiên, một lần nữa các đại lý bao thanh toán lại
phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu kinh tế mới trong nước, tập trung vào tín dụng,
thu nợ, kế toán và các chức năng tài chính.
Đầu thế kỷ 20, khi các nhà sản xuất Mỹ mở rộng sang các sản phẩm may mặc
và phụ kiện, đồ nội thất và thảm thì các đại lý bao thanh toán của Mỹ cũng mở rộng
chuyên môn và dịch vụ sang ngành công nghiệp này. Đến giữa thế kỷ 20, bao thanh
toán của Mỹ phát triển sang những ngành công nghiệp mới đang phát triển như điện,
hóa chất và sợi tổng hợp. Ngày nay, bao thanh toán đã mở rộng sang nhiều ngành
nghề kinh doanh khác như giao nhận, cung cấp nhân sự, quảng cáo, thiết kế đồ họa…
1.1.2.Khái niệm về bao thanh toán:
- Theo Điều 2 Chương 1 Công ước về bao thanh toán quốc tế UNIDROIT 1988
(Unidroit Convention on International Factoring) định nghĩa: Bao thanh toán là
một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương
mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai
trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản
lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ của các khoản phải thu, bảo đảm
rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
- Theo Tổ chức Bao thanh toán quốc tế -FCI (Factors Chain International): Bao
thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 9
động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là
sự thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán (factor) và người cung ứng hàng hóa dịch vụ
hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa (seller). Theo như
thỏa thuận đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán dựa trên
khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa (buyer) hay còn gọi
là con nợ trong quan hệ tín dụng (debtor).

• Người bán nợ hay nhà xuất khẩu (client, seller, exporter): các doanh nghiệp
sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ chưa đến hạn
thanh toán.
• Người mắc nợ hay nhà nhập khẩu (debtor, buyer, importer): hay còn gọi là
người phải trả tiền, đó chính là người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung
ứng.
Mặc dù có nhiều diễn đạt khác nhau cho khái niệm về nghiệp vụ bao thanh toán,
nhưng nói chung có thể hiểu nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thức tài trợ cho
những khoản thanh toán chưa đến hạn (trong ngắn hạn) từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ.
1.1.3. Các loại hình bao thanh toán:
¾ Theo phạm vi thực hiện:
- Bao thanh toán trong nước: là hình thức cấp tín dụng của các ngân hàng
thương mại hay công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc
mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, trong đó bên bán hàng
và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia
Ô
Quy trình thực hiện:
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 11
5.Kí H
Đ
BTT
7. Chuyển nhợng hoá đơn
Ngời bán
(Khách hng)
Ngời mua
(Con nợ)
Đơn vị bao thanh toán

phi thu trong tng lai t hp ng mua bỏn hng húa.
(3) n v bao thanh toỏn tin hnh thm nh kh nng thanh toỏn tin hng ca
ngi mua.
(4) Nu xột thy cú th thu c tin hng t ngi mua theo ỳng hn hp ng mua
bỏn, n v bao thanh toỏn s thụng bỏo ng ý ti tr cho ngi bỏn.
(5) n v bao thanh toỏn v ngi bỏn tha thun v ký kt hp ng bao thanh toỏn.
(6) Ngi bỏn giao hng cho ngi mua theo ỳng tha thun trong hp ng mua
bỏn hng húa.
(7) Ngi bỏn chuyn nhng húa n, chng t bỏn hng v cỏc chng t khỏc liờn
quan n cỏc khon phi thu cho n v bao thanh toỏn.
(8) n v bao thanh toỏn ng trc mt phn tin cho ngi bỏn theo tha thun
trong hp ng bao thanh toỏn.
(9) Khi n hn thanh toỏn, n v bao thanh toỏn tin hnh thu hi n t ngi mua.
(10) Ngi mua thanh toỏn tin hng cho n v bao thanh toỏn.
(11) Sau khi ó thu hi tin hng t phớa ngi mua, n v bao thanh toỏn thanh toỏn
nt tin chuyn nhng khon phi thu cho ngi bỏn.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Lun vn thc s GVHD: TS Bựi Kim Yn HVTH: Nguyn Thỏi Bo Luõn
Trang 12
- Bao thanh toỏn xut nhp khu: l nghip v bao thanh toỏn da trờn hp ng
xut nhp khu hng húa, cỏc khỏch hng v con n l nhng doanh nghip cỏc
nc khỏc nhau. n v bao thanh toỏn cp tớn dng cho bờn bỏn hng thụng qua vic
mua li cỏc khon phi thu phỏt sinh t vic mua bỏn hng húa, trong ú bờn bỏn hng
v bờn mua hng vt ra khi phm vi mt quc gia.

Quy trỡnh thc hin:
8. Chuyển nhợng

Nh XK
(Ngời bán)


khi đến h

n
11. Thanh toán

Đơn vị BTT NK
1. HĐ bán hng

(1) Ngi bỏn v ngi mua tin hnh thng lng trờn hp ng mua bỏn hng húa.
(2) Ngi bỏn ngh n v bao thanh toỏn xut khu ti tr vi ti sn m bo
chớnh l khon phi thu trong tng lai t hp ng mua bỏn hng húa.
(3) n v bao thanh toỏn xut khu ngh n v bao thanh toỏn nhp khu cựng
thc hin hp ng bao thanh toỏn.
(4) n v bao thanh toỏn nhp khu thc hin phõn tớch cỏc khon phi thu, tỡnh hỡnh
hot ng v kh nng ti chớnh ca bờn mua hng.
(5) n v bao thanh toỏn nhp khu ng ý tham gia giao dch bao thanh toỏn vi
n v bao thanh toỏn xut khu. n v bao thanh toỏn xut khu chp thun ti tr
cho ngi bỏn.
(6) n v bao thanh toỏn xut khu v ngi bỏn tha thun v ký kt hp ng bao
thanh toỏn.
(7) Ngi bỏn giao hng cho ngi mua theo ỳng tha thun trong hp ng mua
bỏn hng húa.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Lun vn thc s GVHD: TS Bựi Kim Yn HVTH: Nguyn Thỏi Bo Luõn
Trang 13
(8) Đơn vị xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và
đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đon vị bao thanh toán
nhập khẩu.
(9) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bán theo thỏa

trước sẽ theo đơn vị tiền tệ thanh toán
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 14
Bao thanh toán (BTT) nội địa Bao thanh toán(BTT) quốc tế
trong hóa đơn.
Đơn vị BTT chịu trách nhiệm đồng thời
về việc kiểm soát tín dụng và chấp nhận
rủi ro.
Dưới hệ thống 2 đơn vị BTT, trong khi
đơn vị BTT xuất khẩu cung cấp sự bảo vệ
khỏi rủi ro tín dụng cho người bán theo sự
đề nghị của đơn vị BTT nhập khẩu thì
đơn vị BTT nhập khẩu chịu trách nhiệm
kiểm soát tín dụng của nhà nhập khẩu địa
phương.
Thông thường được thực hiện trên cơ sở
BTT có truy đòi, đơn vị BTT không phải
chịu rủi ro tín dụng.
Hầu hết các giao dịch đều thực hiện trên
cơ sở không truy đòi, đơn vị BTT phải
chấp nhận rủi ro tín dụng thay cho nhà
xuất khẩu.
Đơn vị BTT, người bán, người mua đều
bị chi phối chung bởi 1 hệ thống luật
pháp trong nước.
Có ít nhất là 2 hệ thống luật pháp chi phối
mối quan hệ của các bên.
Đơn vị BTT, người bán, người mua đều
cảm thấy tiện lợi về ngôn ngữ và tập quán

đơn).
- Bao thanh toán khi đến hạn: là loại bao thanh toán theo đó đơn vị bao thanh
toán sẽ trả cho các khách hàng của mình (người bán hàng) số tiền bằng giá mua
của các khoản bao thanh toán khi đáo hạn.
¾ Theo phương thức bao thanh toán:
- Bao thanh toán từng lần: đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các
thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của
bên bán hàng.
- Bao thanh toán theo hạn mức: đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa
thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời
gian nhất định.
- Đồng bao thanh toán: hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt
động bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng, trong đó một đơn vị bao
thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán.
1.1.4. Lợi ích khi sử dụng công cụ bao thanh toán:
Ô
Lợi thế của bao thanh toán so với các loại hình thanh toán khác:
Từ trước tới nay thư tín dụng – L/C (Letter of Credit) do ngân hàng phát hành
theo yêu cầu của nhà xuất khẩu ràng buộc ngân hàng có trách nhiệm thanh toán khoản
tiền nhất định cho nhà xuất khẩu được coi là phương thức thanh toán phổ biến nhất
trong các quan hệ thương mại quốc tế. Tuy nhiên, các hình thức thanh toán thông
dụng như : L/C, nhờ thu, trả tiền trước khi giao hàng…đã bộc lộ những nhược điểm.
Một số hạn chế khi thực hiện các phương thức thanh toán khác:
- Trả tiền trước khi giao hàng: người mua phải trả tiền trước khi người bán
giao hàng. Trong phương thức này người bán được đảm bảo an toàn nhưng
người mua lại gặp rủi ro nếu người bán vi phạm hợp đồng. Thường thì
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 16
người mua chỉ chấp nhận hình thức này nếu đây là các loại hàng hóa độc

Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 17
theo dõi những khoản phải thu đến hạn, thực hiện kiểm tra giám sát khả
năng thanh toán của người mua hàng…
- Đối với mua bán ngoại thương, khi thực hiện bao thanh toán quốc tế đơn vị
bao thanh toán xuất khẩu phải tạo mối quan hệ với đơn vị bao thanh toán
nhập khẩu. Chính điều này đảm bảo cho khoản phải thu của nhà xuất khẩu
sẽ được thanh toán đúng hạn thông qua đơn vị bao thanh toán nhập khẩu.
Đây là tính ưu việt của bao thanh toán so với các loại hình thanh toán khác,
nó làm giảm nhẹ gánh nặng về khả năng thu hồi tiền cho người bán.
- Theo các nhà chuyên môn, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam,
việc thiếu thông tin về thị trường và bên mua, đặc biệt khả năng thu hồi nợ
nhanh là những trở ngại rất lớn khi phải quyết định bán hàng theo điều kiện
trả chậm cho khách hàng nước ngoài. Đồng thời hiện nay, trước áp lực cạnh
tranh trên thị trường quốc tế, bên mua hàng ngày càng đòi hỏi các phương
thức thanh toán thuận lợi hơn so với phương thức thanh toán truyền thống
(L/C, nhờ thu). Do vậy, bao thanh toán trở thành một công cụ rất hiệu quả
giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thể áp dụng phương thức bán hàng trả
chậm mà vẫn an toàn.
Lợi thế về tài chính:
- Bao thanh toán giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có tài sản thế
chấp vẫn có thể vay vốn từ ngân hàng, đồng thời giúp họ tăng hạn mức tín
dụng rất nhanh, có lợi cho sự phát triển. Về phía mình, ngân hàng hoàn toàn
yên tâm khi biết rõ nguồn vốn của mình đang được sử dụng như thế nào.
- Ngoài ra, vốn lưu động hạn chế cũng là một khó khăn lớn đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu trong nước, đặc biệt khi họ bán hàng trả chậm. Vì vậy, khi
sử dụng dịch vụ bao thanh toán, các doanh nghiệp sẽ được ứng trước một số
tiền của khoản phải thu để tiếp tục quay vòng vốn lưu động và kinh doanh
hiệu quả hơn.
Ô

thương mại cho người mua mà không cần phải lo rủi ro thanh khoản nữa. Hệ quả trực
tiếp của việc này là người bán nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình nhờ sẵn
sàng chấp nhận khoảng thời gian bán chịu hấp dẫn người mua hơn.
Thứ ba, không phụ thuộc vào hạn mức tín dụng tại các ngân hàng:
Điều kiện cấp tín dụng thương mại dễ dàng không phụ thuộc vào hạn mức tín dụng
đem lại nhiều thuận lợi hơn cho người bán khi quan hệ với ngân hàng. Là một đối tác
tài chính, các tổ chức bao thanh toán như ngân hàng sẽ đem lại cho người bán nguồn
lực tài chính để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tồn trữ thêm nhiều hàng tồn
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 19
kho, cung ứng nhiều đơn hàng hay chỉ đơn giản là tìm kiếm các cơ hội làm ăn mới.
Các tổ chức bao thanh toán luôn khẳng định mình sẽ luôn sát cánh với khách hàng,
thấu hiểu mọi nhu cầu của họ, và thiết lập một chương trình hỗ trợ tài chính để giúp
đỡ họ.
Các tổ chức bao thanh toán cam kết tận dụng sự thông thạo trong lĩnh vực tín
dụng, thu hồi nợ, cung ứng nguồn tiền mặt hay tài trợ giúp cho người bán nâng cao
được hiệu quả hoạt động, vừa tăng doanh số vừa giảm được mất mát do không thu hồi
được nợ, đồng thời cải thiện rõ rệt dòng lưu chuyển tiền tệ. Do mọi rắc rối kể trên đã
được chuyển sang cho tổ chức bao thanh toán nên người bán có thể toàn tâm toàn ý
tập trung vào việc sản xuất hay cung ứng hàng hóa.
Thứ tư, tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ chuyên môn hóa sản
xuất:
Bên cạnh việc sản xuất kinh doanh mặt hàng chính yếu, người bán còn phải mất
thời gian quản lý các khoản phải thu từ người mua. Nếu người bán sử dụng bao thanh
toán, công việc này sẽ được chuyển cho đơn vị bao thanh toán. Người bán không còn
phải tốn chi phí để duy trì và điều hành một bộ phận chuyên trách việc xem xét khách
hàng có đủ điều kiện mua chịu hay không, cũng như phải kiểm tra và thu hồi các
khoản nợ này nữa. Với kinh nghiệm, nguồn lực vật chất và nguồn nhân lực được đào
tạo bài bản của mình, các tổ chức bao thanh toán sẽ giải quyết nhanh chóng, chuyên

Thứ hai, tăng sức mua hàng mà vẫn không vượt quá hạn mức tín dụng cho
phép;
Thứ ba, có thể nhanh chóng đặt hàng mà không bị trì hoãn, không tốn phí mở
L/C, hay phí thương lượng;
Thứ tư, các cản ngại về ngôn ngữ được giải quyết bởi đơn vị bao thanh toán...
¾ Đối với đơn vị bao thanh toán
Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, các đơn vị bao thanh toán cũng có được một
thuận lợi là được hưởng lợi ích kinh tế theo quy mô:
- Các đơn vị bao thanh toán cung cấp dịch vụ này cùng lúc cho nhiều khách hàng nên
xét về quy mô sẽ giảm được chi phí cố định liên quan đến các khách hàng đó;
- Đơn vị bao thanh toán lớn nhất và nhiều kinh nghiệm nhất sẽ đứng ra làm đơn vị
cung cấp thông tin về tín dụng quy mô nhất, bổ sung vào các dịch vụ tương tự hiện có
của các trung tâm dữ liệu tín dụng thương mại tư nhân và quốc doanh. Đơn vị này
cũng sẽ hưởng được lợi ích kinh tế theo quy mô nhờ trao đổi thông tin với các trung
tâm trên;
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 21
- Thông qua nghiệp vụ bao thanh toán có thể thu được các loại phí và lệ phí, cung cấp
thêm các dịch vụ kèm theo, từ đó góp phần tăng doanh số, đa dạng hóa sản phẩm và
lợi nhuận hoạt động. Đơn vị bao thanh toán có thể tiếp quản việc quản lý sổ cái bán
hàng của khách hàng, sau đó gửi các hóa đơn và bảo đảm nhận được tiền thanh toán.
Nhờ vậy có thể kiểm soát được các khoản phải thu giúp giảm thiểu rủi ro thu hồi nợ.
- Phát triển mạng lưới khách hàng: khi đưa bao thanh toán vào áp dụng đã tạo thêm
sản phẩm mới cho người tiêu dùng lựa chọn. Một khi dịch vụ bao thanh toán mang lại
hiệu quả đích thực cho khách hàng thì dần dần sẽ tạo cho khách hàng thói quen sử
dụng dịch vụ. Chính điều này sẽ giúp cho ngân hàng hay tổ chức bao thanh toán phát
triển được mạng lưới khách hàng.
Ô Những nhược điểm của bao thanh toán:
- Bao thanh toán cũng là một hình thức cấp tín dụng nên dễ gây cho người sử

lực cạnh tranh chuẩn bị các điều kiện cho hội nhập theo tiến trình Hiệp định thương
mại Việt Mỹ và Việt Nam gia nhập WTO.
Phát triển các dịch vụ ngân hàng thành lĩnh vực mũi nhọn trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng luôn là mục tiêu hàng đầu của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Phát triển dịch vụ ngân hàng phải vừa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng của kinh tế
đồng thời đảm bảo ngân hàng hoạt động hiệu quả và an toàn, nâng cao sức mạnh cạnh
tranh để hội nhập.
Theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, các rào cản trung gian giữa các định
chế tài chính của Mỹ và Việt Nam đang dần được dỡ bỏ. Đến năm 2010 có bốn
“không” mà các tổ chức tín dụng phải chú ý: không hạn chế số lượng nhà cung cấp
dịch vụ ngân hàng; không hạn chế tổng giao dịch các giao dịch giá trị về dịch vụ ngân
hàng; không hạn chế việc tham gia góp vốn của bên nước ngoài dưới hình thức tỷ lệ
phần trăm tối đa số cổ phiếu nước ngoài được nắm giữ. Do chúng ta đã chính thức gia
nhập vào WTO nên có khả năng việc thực hiện các điều khoản “không” này còn được
đẩy lên sớm hơm có thể là 2008-2009.
Các ngân hàng Việt Nam hiện nay, ngoài việc hoàn thiện các dịch vụ truyền
thống như: huy động vốn, cho vay, kinh doanh ngoại tệ… còn phải ứng dụng triển
khai các loại hình dịch vụ, các sản phẩm mới. Bao thanh toán là một trong những
nghiệp vụ mới mà các ngân hàng cần chú ý phát triển. Theo ông Trần Ngọc Minh –
Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nhà nước Tp.Hồ Chí Minh: “ Trong 3 năm 2006-
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 23
Do đó, sự cần thiết áp dụng bao thanh toán tại Việt Nam xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất: Bao thanh toán phát triển rất lâu trên thế giới và đã được áp dụng
rộng rãi ở khắp các châu lục thông qua các công ty tài chính và đặc biệt là hệ thống
ngân hàng. Là một công cụ tài chính thể hiện những ưu điểm nổi bật, đặc biệt trong
nền kinh tế hội nhập đặt ra những yêu cầu về gia tăng nhu cầu vốn lưu động, các dịch
vụ nhờ thu và quản lý rủi ro. Dịch vụ này không chỉ được áp dụng ở các quốc gia có
nền kinh tế phát triển mà cả những quốc gia đang phát triển cũng sử dụng loại hình

Đồng thời hiện nay, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, bên mua hàng
ngày càng đòi hỏi các phương thức thanh toán thuận lợi hơn so với phương thức thanh
toán truyền thống (L/C, nhờ thu). Do vậy, bao thanh toán trở thành một công cụ rất
hiệu quả giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thể áp dụng phương thức bán hàng trả chậm
mà vẫn an toàn. Ngoài ra, vốn lưu động hạn chế cũng là một khó khăn lớn đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu trong nước, đặc biệt khi họ bán hàng trả chậm. Vì vậy, khi sử
dụng dịch vụ bao thanh toán, các doanh nghiệp sẽ được ứng trước một số tiền của
khoản phải thu để tiếp tục quay vòng vốn lưu động và kinh doanh hiệu quả hơn. Số
còn lại sẽ được thanh toán sau khi các ngân hàng hoàn tất khoản thu với bên mua
hàng. Tại các ngân hàng đang thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán mức ứng trước có
thể lên tới 80% nếu các hợp đồng mua bán được đánh giá cao.
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cũng cho
rằng: “Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp xuất khẩu thường phải chấp nhận
thanh toán ghi sổ, trả sau có nghĩa là sẽ bị chiếm dụng vốn một thời gian nhất định.
Càng trở ngại hơn đối với nhiều doanh nghiệp là khi bán hàng vào thị trường mới
thường trong tình trạng thiếu thông tin nên rủi ro cao...” Vì vậy sử dụng dịch vụ bao
thanh toán là một giải pháp tốt, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ tư: khi gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài sẽ hoạt động bình đẳng
như các ngân hàng trong nước, hàng loạt các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ tiên tiến…
sẽ vào Việt Nam. Với thực trạng sản phẩm của các ngân hàng trong nước còn khiêm
tốn, ít ỏi để có thể đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay
gắt, các ngân hàng phải không ngừng đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng các nhu cầu
tài chính cho khách hàng. Do đó, việc ứng dụng triển khai sản phẩm bao thanh toán tại
Việt Nam là điều rất cần thiết .
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân
Trang 25
1.3- HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.3.1. Tình hình hoạt động bao thanh toán trên thế giới:

Trích đoạn Những thuận lợi và khú khăn khi triển khai nghiệp vụ bao thanh toỏn tại BIDV: Qui trỡnh bao thanh toỏn nội địa: Nhận diện rủi ro: Kiểm soỏt rủi ro:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status